Triết lý với Quốc học

Lập Quốc học mà thiếu Triết cũng như người xây nhà sắm đủ gạch, ngói, gỗ, đá nhưng thiếu ciment. Triết ví được với ciment tinh thần có sức ràng buộc các môn lại thành một cơ thể sống động. Vì thế Giáo dục thiếu Triết thì không lấy gì mà thống nhất được các cái học lẻ tẻ cũng như chỉ có triết mới đủ ý tưởng tổng quát để liên kết các nhà khoa học lại với nhau và qui vào một hướng, đem lại cho toàn thể nền học vấn một mối quán thông hầu bơm sinh khí vào từng ngành. Quốc học của dân nào thiếu nền thống nhất đó thì sẽ lăn mạnh xuống dốc phân hoá. Các triết gia mới hầu hết đã ghi nhận rất rõ điều đó: chỉ vì thiếu một niềm tin mãnh liệt thể hiện vào một nền Triết lý chung, nên xã hội Tây Âu bày ra cảnh tản mán và đấu tranh giữa các phe nhóm, đẳng cấp, chủng tộc, địa phương, tôn giáo… rất nguy hiểm để rơi vào tay những kẻ chuyên chế bạo hành.

Bởi vậy trách nhiệm lớn lao của bộ Văn hoá Giáo dục là phải liệu cho nước nhà có một nền Triết lý. Âu Mỹ cũng đều thâm tin như vậy, nhưng sở dĩ họ không làm được chỉ vì chưa tìm ra được nên phải xài đỡ Triết học lý niệm bâng quơ. Nước ta mà cứ để thứ Triết đó thay cho nền Đạo học cố hữu, thì hậu quả là tâm trí người công dân trong nước không còn đất đứng chung. Đấy là lý do sâu xa nhất gây ra sự phân hoá hiện tại. Người lớn thường phàn nàn vì thiếu niên hư hỏng, nhưng đã ai cho thiếu niên học Đạo làm người mà chả hư hỏng. Và thiếu niên muốn không hư hỏng thì phải học với ai? Với người lớn chăng? Nhưng người lớn nào? Tri thức nhé, nhưng tri thức thì theo chứng từ của chính tri thức đã hoàn toàn sa đoạ. Người lớn kêu trẻ sa đoạ , nhưng mà chính người lớn cũng sa đoạ, hỏi đến Đạo lý thì nõ có. Vậy thì xin các báo, ít ra các báo của người lớn hãy tốp bớt cái vụ chửi thiếu niên phạm pháp cho đến khi biện liệu được một Đạo lý cho cả người lớn lẫn thanh thiếu niên.
Muốn nói đến Đạo lý thì phải nói đến Triết.

Vậy ở đây chúng ta bàn về Triết. Triết là triệt, mà triệt có hai hướng là triệt thượng và triệt hạ. Chúng ta sẽ lần lượt bàn về hai loại đó:

Xét về phương diện triệt thượng có thể phân ra 4 yếu tố làm nên một nền Quốc học gọi là dụng , từ, ý, cơ. Có được cả 4 yếu tố đó thì mới đáng tên là triệt thượng.

Dụng là gì?
Thưa Dụng là khi dùng theo nghĩa rộng có thể bao trùm cả hai phía là thành công lẫn thành nhân. Thành công là những đồ dùng, khí cụ để sản xuất như các cơ khí máy móc. Thành nhân là những thể chế hay thói tục thí dụ phép tỉnh điền, tục cưới rể hay cưới dâu, và nhiều cái khác làm thành khuôn mặt của một nếp sống chung, Tây kêu là conduite collective tức là phong thái của một đời sống tập thể, thí dụ mối nhân luân là chủ nô, hay là ngũ luân, phân phối tài sản là vô sản với hữu sản, hoặc bình sản, giao liên theo tinh thần công thể hay óc cá nhân v.v…

Từ là lời nói bao gồm cả những tác phẩm văn chương, văn học, văn nghệ…
ý là những tư tưởng, cũng như những ý hệ (hệ thống các tư tưởng) căn cứ trên một số ý niệm chính, các nền triết lý khác.

Cơ là cái cơ cấu uyên nguyên rất sâu thẳm rất tế vi nhưng lại đóng vai trò quan trọng như lò phát điện đối với các máy chạy điện, chính cái Cơ này mới làm nên cái khung, cái hồn thiêng linh động toàn bộ. Nền văn hoá nào thiếu nó là thiếu hồn và nền giáo dục chỉ còn là học vấn suông , lạnh lùng tản mát có thể làm con người tỉnh táo xảo quyệt nhưng không giúp cho người học nên nhân hậu và dung thông, độ lượng. Vì thế chúng ta cần xét lại từng điểm cách cụ thể. Trước hết là chữ Dụng: khi nghe hai chữ văn minh thì người ta thường nghĩ ngay tới đợt Dụng dầu tiên là khoa học kỹ thuật. Và về điểm này thì người ta quen nói Tây phương có văn minh còn các nơi khác thiếu văn minh và ta có thể nói Tây phương dẫn đầu thế giới trên đường văn minh, điều đó không thể chối cãi ít ra từ thế kỷ 15 về sau. Và thường người ta quen dừng lại ở đấy như cho là tận cùng, như hầu hết thế hệ đàn anh chúng ta đã quen làm vậy. Đến nay thì tâm trạng con người đang thay đổi và đó đây đã có người nói đến nền Minh triết Đông phương, như vậy là người ta đã nghĩ đến đợt Cơ tuy mới là mặc nhiên vì đợt này rất khó trở nên minh nhiên bởi nó không có nhiều mà chỉ là một hai nguyên lý trình bày trong một hai tiếng nên thường người ta rất dễ mất ý thức, tuy trong đời sống nó còn giữ được ít nét nhưng cách tiềm thức.Thí dụ Cơ trong nền văn hoá Việt Nho là Trời Đất giao thoa, được biểu lộ nhiều cách thí dụ tên nước là Văn Lang hay Giao Chỉ cũng ngầm nói lên điều đó. Tuy nhiên đến nay người Việt đã mất ý thức trọn vẹn về cơ nên giải nghĩa tùm lum: Giao Chỉ là hai ngón chân cái quặp lại hay giao chỉ là miền có nhiều giao long (xem Việt Lý chương XIX) tuy giải sai song nhiều người vẫn sống hậu quả trung thực của cơ nhưng cách vô thức. Hậu quả đó rất lớn lao vì đây là đợt sâu thẳm nên âm vang vô cùng quan trọng, chính ờ đợt này mà có sự sai một li đi một dặm. Vì cái Cơ quá tế vi nên chúng ta cần xét về cơ cấu của văn hoá chúng ta. Lối dễ hơn hết, ít ra giúp dễ nhận thức ra cơ cấu đó là lối học đối chiếu với các nền văn minh khác như ấn Độ và Tây Âu, vì thế xin tóm lược hậu quả của ba nền văn minh vào bản sau đây:

Thân tâm Xã hội
Triết Tây : O O
Triết Ấn : Thân tâm O
Triết Việt : Thân tâm xã hội

Bảng trên nói lên rằng Triết Tây không biến cải con người tự thân (thân tâm) cũng như không biến cải xã hội. Triết Ấn biến cải được tự thân nhưng không biến cải xã hội. Còn Triết Việt thì biến cải được cả hai. Mới đọc bảng này nhiều độc giả sẽ cho là quá khích, vì so với hiện trạng thì không có như vậy mà trái lại là chính xã hội Tây Âu đã biến đổi đời sống vượt xa chúng ta trăm ngàn lần. Điều đó chúng tôi cũng nhận như vậy nhưng cho rằng đó là mới có từ hơn một hai trăm nam nay và lý do của sự cải tiến là khoa học cơ khí chứ không do nhân văn. Đành rằng trong cuộc cải tổ xã hội như các cuộc cách mạng Pháp hay các tư trào thợ thuyền đều phải có vận động văn hoá nhưng khởi nguyên là do khoa học tạo điều kiện trước hết, còn nhân văn, văn học chỉ là theo sau, chứ không đi trước. Chúng ta chỉ cần đi ngược thời gian về các thế kỷ trước, thì liền nhận ra xã hội Tây Âu cũng như Ấn Độ vẫn nằm trong mối tương quan chủ nô về người và tư bản vô sản về tài nguyên. Chỉ cần xét hai điểm then chốt đó là đủ hiểu tính chất một xã hội và mức độ hiệu nghiệm của một nền văn hoá. Bởi vì hai điểm này là cột cái trong sự giải phóng con người cách chân thực. Mục đích cùng của Triết là giải phóng con người, không phải bằng lý thuyết suông nhưng bằng những điểm then chốt kể trên: là phá chế độ nô lệ để thiết lập tình huynh đệ phổ biến, và hai là thiết lập chế độ bình sản để bảo đảm cho nền tự do có nội dung. Ai cũng biết bên Tây Âu vẫn chủ trương quyền tuyệt đối tư sản, một chủ trương đã dẫn tới tư bản. Mà đã là tư bản thì một người có, chín người không, không co chi cả nên gọi là vô sản. Đã vô sản thì phải phụ thuộc vào người có để mà sống, mà đã lệ thuộc trong vấn đề dạ dày thì còn mấy tí tự do. Ai cũng biết những triết gia Tây Âu kể cả những vị lẽ ra phải tiến bộ nhất đều chủ trương chế độ nô lệ cần thiết cho đời sống xã hội, thì đủ biết nói Triết Tây chưa giải phóng được con người là điều có thật ít ra trong một thể chế lớn lao lâu dài. Như vậy thì trong những phạm vi khác tế vi hơn đã chắc gì có được giải phóng. Có lẽ vì thế mà bên Âu Mỹ người ta rất hờ hững với Triết, phần lớn coi đó là một xa xỉ phẩm, tệ hơn nữa là chính những người học Triết cũng không dám tin vào chính mình. Ngược lai với bên Viễn Đông, kẽ sĩ dầu sao vẫn được coi trọng thì điều ấy có thể coi là chứng minh sự thành đạt phần nào của cái học, mà nền móng là Triết.
Bây giờ hỏi rằng tại sao lại có sự bất lực nơi hai nền triết học kia thì tôi cho rằng vì cả hai chưa đạt Cơ. Nếu ta biểu hiện cá nhân sống trong xã hội bằng nét ngang và cơ bằng nét dọc thì Triết Tây mới có nét ngang, Triết Ấn mới có nữa nét ngang và nữa nét dọc, Triết lý Việt có cả hai, tức đã giải phóng cá nhân (phá chế độ nô lệ và lập chế độ bình sản) đồng thời cũng trở thành đường tu thân tâm. Nhưng nếu có người hỏi tại sao Triết Việt có đủ cả lại thua Triết Tây mới chỉ có nét ngang. Thưa bởi hai lý do: trước hết vì văn minh kỹ thuật quá cao làm loá mắt người các Châu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá Tây lấn át văn hoá Đông Phương; hai nữa là người ta cho rằng nhờ Triết học mà Khoa học tiến. Đó là sự tin tưởng chung đến nỗi có người như Heidegger lấy sự thành công của Khoa học, để chứng minh thất bại của Triết học. Đây là một sự lầm lỡ tai hại của Heidegger nó giúp vào sự lầm tưởng rằng muốn tiến trong Khoa học thì phải thất bại trong Triết học, cũng như trước đây nhiều người cho rằng phải vứt bỏ tâm linh mới tiến bộ được trong Khoa học cơ khí. Chính vì thế nên giới trí thức ÁChâu đã đầu hàng quá dễ trước Triết học Tây Âu để mong cầu tiến bộ kịp người. Hai nữa người mình đã mất ý thức về cái cơ cấu của nền Văn hoá Dân tộc mà lại chưa có một nền Triết học mới ít ra trong cách lý giải, mạch lạc vì thế trước sức tấn công của đối phương Văn hoá Việt đã không thể cầm cự. Bởi vì bên Văn hoá Tây Phương có tư tưởng và ý hệ đó là những xe tăng, mà Văn hoá Việt lại chỉ có văn chương thi phú ví được với những chậu cảnh , những trang sức tốt thời bình, làm sao chống chọi nổi? Tấy Âu hơn ta ở ý (ý hệ tư tưởng tôn giáo có tổ chức). Còn ta tuy hơn Tây ở Cơ nhưng đã mất ý thức nền văn hoá ta lùi trước văn hoá Tây Âu là việc không có gì đáng ngạc nhiên.

Để hiểu rõ hơn hai đợt Cơ và Ý tôi xin mượn cái khung của một thuyết huyền bí truyền được Thông Thiên học quảng bá. Thuyết đó chia cuộc tiến hoá con người làm 7 nấc tiến hoá chính, mỗi nấc được đại diện do một giống dân chính. Vì thế 7 nấc chính cũng có 7 giống dân chánh. Trong mỗi giống dân chánh lại chia ra 7 giống dân phụ.
Giống dân chánh thứ III là dân da Đen
Giống dân chánh thứ IV là dân da Vàng
Giống dân chánh thứ V là dân da Trắng
Da Trắng hiện nay mới tới giống dân phụ thứ 5 như: Anh, Đức, Nga, Mỹ… Còn Pháp, ý, Tây Ban Nha thuộc dân phụ thứ 4. Dân da Vàng trái lại đã đạt đợt dân phụ thứ 7, như Mông cổ, Tàu, Nhật, Việt… ở đây tôi không bình luận về thuyết trên đúng hay sai mà chỉ mượn ý cái sườn đó để diễn tả cái quan niệm riêng của tôi về quá trình tiến hoá của con người mà tôi đã phác hoạ sơ sài trong quyển Việt Lý tố nguyên. Cuộc tiến hoá đó đi theo từng nhịp gồm hai bước Sinh và Tâm: Sinh đi trước Tâm đi sau. Và tôi gọi Sinh là ngành (tương đương với giống dân chính) còn Tâm là chi (tương với dân phụ) và tôi cho rằng về Sinh thì Tây Âu hơn ta một bậc: ta bốn (IV) họ năm (V) nhưng về Tâm thì họ mới đạt chi 4 và 5 còn ta đạt chi 7. áp dụng vào trường hợp Triết mà nói thì sự tiến bộ của ngành biểu lộ bằng ý (tư tưởng Tây hơn ta) còn chi biểu lộ bằng cơ: (ta hơn Tây). Nhờ lối phân tích này ta có thể đánh giá khá đúng những chỗ hơn chỗ kém của mình hầu bổ cứu nền Quốc học chúng ta.

Vậy về Sinh (ý) Tây Phương hơn hẳn ta một ngành vì thế triết học của họ rất phong phú, có lý giải cách hệ thống. Họ có những nhà tư tưởng lớn, những ý hệ gia vĩ đại vượt xa Đông Phương, đến nỗi đem so sánh thì ta kể là không có Triết học. Và đó là chỗ ta còn thiếu nền cần phải bù đắp. Tuy nhiên đứng về tâm linh thì hầu như Tây Âu chưa đạt: họ có linh thiêng tức rất cao, nhưng chưa gần gũi đi sâu vào tâm hồn để có thể được gọi là Tâm linh. nhưng có thể ngày kia họ bước lên chi 6,7 và họ sẽ có Tâm linh. Lúc ấy nhân loại sẽ có một nền Triết tương xứng với khoa học. Đó là điều còn thuộc tương lai. Biết rằng hiện nay Khoa học đã đạt đợt Khí (vi trần) Tâm lý đạt Tiềm thức thế mà Triết chưa thoát vượt đợt ý là những cái gì cứng đọng nên Triết chưa đạt thân. Và bởi vậy ta phải bám sát cái Cơ của ta, vì nó đã đạt đợt Khí (âm dương nhị khí) nên biến chuyển linh động, mà không còn đặc sệt như ý niệm. Tuy về ý Triết Việt kém nhưng ta vẫn phải theo cái cơ của nó, bởi vì không phải cái ý qui định nội dung cho những câu nói những ý nghĩ và nhất là đem lại cho chúng hiệu năng vượt mức. Dấu hiệu của một nền Triết đạt Cơ là có mối quán thống chạy xuyên qua “Dụng” tức thể chế, lối sống. Nói khác là bất cứ việc gì, cử chỉ nào cũng có thể giải nghĩa từ đợt Cơ, tức cũng hội thông với toàn thể, là điều bơm sinh động vào cho cái học. Dấu hiệu thứ hai là sự đơn sơ giản dị, các khoa học nhân văn càng ngày thu gọn vào càng ít. Vì đạt Cơ là đạt chỗ hội thông với toàn thể, vì khi có thể nắm vững được cái gốc thì lúc toả ra ngành ngọn có thể bao khắp. Các đại học nhân văn học trên thế giới hiện nay cũng bắt chước khoa học đua nhau lập nhiều ngành chuyên biệt là dấu chứng tỏ chưa nắm được Cơ, nên càng cố tiến thì càng thêm bề bộn, càng làm cho cái học trở nên chán ngấy giúp đắc lực vào việc dập tắt tinh thần và đẩy mạnh đà phân hoá.

Vì những lý do trọng đại như trên nên phải bám riết lấy Cơ trong khi xây đắp Triết lý cho Việt Nam. Trong việc xây đắp này tất nhiên là phải học với Tây Phương về phương diện ý, nhưng nếu ta muốn trỗi dậy giành lại quyền sống cho nền văn hoá nước nhà thì nhất định phải xây đắp một nền Triết mới gồm cả Ý lẫn Cơ tức vừa lý giải mạch lạc như Triết Tây, vừa có những cái nhìn trực chỉ như Triết Đông.

Một nền Triết như vậy phải có tính chất cách mạng và hoàn toàn mới. Là vì tuy cái Cơ là của Việt Nam nhưng chúng ta đã mất ý thức về nó, nên đã để cho Hán Nho ngự trị trước, rồi đến ý hệ ngoại lai sau này kế vị. Vì thế nay đưa Triết Việt ra trình bày thì quả là một cái gì hoàn toàn mới lạ. Trước hết là đối với các tư trào đang ngự trị trên giải đất này. Bởi chúng là sản phẩm của Tây nên cũng mang nặng tính chất Tây: là tuy có lý giải rành mạch, hệ thống đàng hoàng nhưng vấn đề người học nguội lạnh nên chỉ là thuyết với lý nên không huy động nổi linh và tâm. Còn đối với Triết Đông nền Triết Việt cũng sẽ cách mạng ở hai điểm một là lối lý giải biện chứng cùng nhiều yếu tố mới được thâu hoá, hai là nhận thức ra Cơ, mà không còn cảm lờ mờ như trước. Sự nhận thức gây rất nhiều âm vang vào cả toàn bộ khiến cho nền triết lý đó vừa có nét nhất quán khác thường lại vừa hiệu nghiệm hơn xa, và do đấy tuy ở lúc sơ kiến nhiều người Việt coi như các chi xa lạ, nhưng khi đã vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu sẽ thấy nó rất gần gũi với tâm hồn Việt Nam, tâm hồn Á Đông và có lẽ là với tâm hồn con người nói chung không phân biệt Đông Tây chi hết. Một nền Triết như thế chưa biết đã hiện thực được, nhưng đó phải là lý tưởng cần đặt ra để hướng tới, để thôi thúc việc làm của chúng ta.

Bây giờ bàn đến điểm hai là triệt hạ.
Triệt hạ hơn hết gọi là “ở đời”. Tiếng ở đời mới xuất hiện bên triết Tây với Heidegger trong thành ngữ “in der welt Sein” = Être au monde. Đây là một thành ngữ rất dễ gây hiểu lầm vì chữ “in” không có nghĩa là kiểu vật thể như kẹo ở trong hộp, nhưng là một lối ở thẩm thấu mà ta có thể dịch là “ở đời”, miễn là phải hiểu chữ ở là để phần tinh anh vào nơi nào mãi mãi, còn đời là phải hiểu là vũ trụ tức là cả thiên lẫn địa cả âm lẫn dương, hiểu như vậy chữ ở đời mới có một ý nghĩa cao rộng đủ để bao hàm sự tuyền vẹn con người. Vì thế đó là nét đặc trưng của nền Triết lý Nho Việt nên chỉ với nó mới có thể nói “ở đời” còn hai nền triết Âu và Ấn thì không. Về Triết Âu thì ta biết nó là nơi ngự trị của nhị nguyên thuyết, tức là thứ triết thuyết chẻ đôi thế giới ra hai: bên kia là lý giới bên này là trần giới, rồi bắt con người hướng tất cả bầu tinh anh nghị lực vào lý giới mà bỏ bê trần giới. Đó không là ở đời mà là ở trời. Vi thế Platon ông tổ của triết thuyết nhị nguyên cho rằng cùng đích triết là nhìn ngắm những ý niệm (contemplation des idées). Cũng dòng Triết này khi truyền thống Ấn Độ thì đi xa hơn bằng cõi trần thế là ảo mộng nghĩa là còn tệ hơn Triết của Platon vì Platon mới coi sự vật đời này là bóng là hình, đến Triết Ấn thì chỉ còn là “ảo hoá đã bày ra đó” để đánh lừa con người và vì thế con người phải tìm cách vượt ra khỏi trần giới. Vậy cũng không phải ở đời mà là trốn đời “Con người dồn trọn vẹn ý chí vào việc tìm giải thoát ra khỏi đời và do đó không còn để dành chi cho thế giới bên này. Đó là lý do giải nghĩa tại sao Ấn Độ đầy những nền Triết học nguy nga đồ sộ mà lại để cho xã hội nằm chình ình trong bất công, trong nô lệ. Là vì có ở đời đâu mà tác động vào đời. Cũng vì thế mà khi muốn dùng danh từ cho thật chính xác thì không nên áp dụng chữ tâm linh cho các thuyết Tây Âu, vì thực ra mới chỉ có duy linh, hay thiêng liêng là những yếu tố nằm trong cơ cấu không ở đời tức là tìm cao cả bên ngoài và thế giới. Bên ngoài thế giới thì có thể là thiên hay địa, những nét cốt cán là ở xa người và duy có một chiều kích. Hai nét đó đi đôi, vì chữ đời theo nghĩa uyên nguyên là ở trong vũ trụ là sự giao thoa của trời cùng đất, cho nên chỉ ở đời thực mới có lưỡng nghi tính mà Heidegger gọi là nét gấp đôi, còn khi không ở đời thì gọi là đánh mất nét gấp đôi. Đó là những con người chỉ còn một chiều kích giống như Herbert Marcuse tố cáo: “one dimensional man” và do đó Heidegger mới đưa ra thuyết ở đời là cốt để chống lại các triết học đi trước ít hay nhiều đã ra khỏi đời này, ra khỏi thân tâm, ra khỏi cả gia đình, quốc gia để tìm cái cao cả, cái siêu việt bên ngoài con người, bên ngoài xã hội, và do đó không cải tạo nổi xã hội, không cải tạo nổi thân tâm nên gọi được là vong thân. Đấy là lý do khiến những người như Heidegger phản đối và đưa ra thuyết Sein und Zeit: Tính thể và thời gian tức Tính thể ngay trong thời gian. Đó là điều hợp với cái mà tôi quen gọi là phi thường (sein) nằm ngay trong cái thường thường (đời: temporel) Muốn hiểu rõ điều này chúng ta hãy trở về phân tách cái cơ cấu của Lạc Thư vì nó nói lên cái nghĩa ở đời nếu không hay nhất thì ít ra hợp với tâm trí người Việt chúng ta hơn nhất.
Trước hết là đối với tinh thần Lạc Thư thì không có vấn đề triết cho triết mà chỉ còn có vấn đề ở đời cách triết, tức là không có vấn đề riêng đặt ra cho triết, nhưng triết chính là bàn về mọi vấn đề con người cách triệt để, nghĩa là thấu đến cơ mà cơ là thần, mà đã là thần thì “vô phương” không cần nơi riêng để ở, thì cũng không cần đặt ra vấn đề riêng biệt cho triết, vì nó đã thấm vào mọi lối sống, nói khác nó thấu vào dụng. Mà nếu thấu dụng thì cũng thấu từ, ý khỏi cần có vấn đề riêng cho nó, vì nếu phải có vấn đề riêng, phải có ý hệ riêng thì là dừng lại giữa đường chưa có đạt cơ vậy. Vì đạt cơ là phải đem được triết vào đời. Đời với triết hoà hợp. Đó là điều triết Việt đã làm được và nó biểu thị như sau. Trong Lạc Thư thập tự nhai đặt giữa,còn vòng chu vi làm bằng cả số sinh lẫn số thành. Nếu số sinh chỉ thời gian (biến dịch) thì số thành chỉ không gian (trải dài ra và im lìm) và biểu thị muôn vật đã hiện hình: tất cả các vật đã hiện hình đó đều hiện diện trực tiếp với cơ. Cơ biểu thị bằng thập tự nhai chiến thắng vào các số chu vi mà không đi qua trung gian nào. Điều đó nói lên mối liên hệ cơ thể giữa vạn vật: vạn vật nào cũng có Cơ như nhau: “các hữu thái cực” Thái cực hay Cơ là một vậy.

Trong phạm vi văn hoá nó biểu lộ ra trong nhất quán tính chạy xuyên qua Dụng, Từ đến Cơ không một cái gì nằm bên ngoài. Nhờ đó Cơ không còn là cái gì riêng nhưng biến hình theo sự vật, thế mà văn có biến mới hoá nghĩa là mới có sinh lực huy động tâm hồn. Vậy chỉ khi nào một nền triết đã trút bỏ được các chữ chuyên môn với những vấn đề riêng biệt của sách vở nhưng khơi dậy nổi những luồng cảm hứng hăng say thì từ lúc ấy mới kể là đạt Cơ mà đã đạt Cơ tức cũng là đạt Dụng đạt Từ và Ý . Đạt Cơ là đạt được nền triết tương xứng với đà tiến của khoa học hiện đại. Và lúc ấy khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đời sống con người vẫn không bị quay trong lốc vì đã có triết đánh lên cái tiết điệu uyên nguyên làm nhịp tiến bước cho đời sống. Đấy là chỗ phải chú ý hơn hết trong quốc học mai ngày. Làm được việc đó thì Việt Nam đã chu toàn được sứ mạng của mình, một sứ mạng có âm vang trên toàn cõi trái đất vậy.

Trích Kim Định- chương 2 sách Vấn đề Quốc học

Phụ chú
Tại sao triết bị khinh
Mấy bài trên đều đề cao vai trò của triết trong quốc học thế mà tại sao triết lại bị khinh. Đó là vấn đề cần một lần phanh phui. Chúng tôi cho là nói đã tạm đủ nên ở đây xin nhường lời cho Nietzsche mà chúng tôi lược dịch vào trang trong quyển Schopenhauer educateur (edit.Aubier) ước mong quyển này chóng được dịch ra tiếng Việt. Trong khi chờ đợi sau đây là một hai tư tưởng rất cần được độc giả suy nghĩ để nhận ra đường hướng thiết yếu cho nền quốc học nước nhà. Nietzsche nhận định về nền giáo dục Tây Âu hiện đạt chỉ có thể đào tạo nên : những khoa học gia.
những công chức
hay thương gia.

hoặc một thứ người lai cả ba môn đó mà không thể nào đào tạo nên được triết gia (tr 125). Một người đầu óc khoa học khó có thể trở nên triết gia: ngay Kant mặc dầu có thiên tài cũng chỉ là con rộng triết: Un savant ne deviendra jamais un philosophe. Kant lui même n’a puy parvenir, mais il est reste jusqu’ à sa fin et malgre l’inpulsion de son genie a l’état de chrysalide. id. 139. Ai bảo rằng tôi nói thế là bất công với Kant thì người đó không hiểu rằng một triết gia không những là một nhà đại tư tưởng gia nhưng còn phải là một nhà đại nhân. Thế mà chưa bao giờ thấy một nhà thông thái (savant) đã thực sự trở nên một đại nhân”.

Không còn gì bóp nghẹt sự sinh ra những triết gia cho bằng sự hiện diện của triết gia xấu, họ nhờ ơn chính quyền để làm triết gia chứ không là triết gia. Triết gia bao giờ cũng thiết thực. Tôi cho rằng mỗi một lời mà đàng sau người ta không cảm thấy có sự mời gọi thì điều đã viết ra vô ích: “Je tiens que chaque mot sous lequel on ne sent pas cette invitation à l’action a été écrit en vain. 145 ”. Chính quyền ghét triết nên đã cấp dưỡng cho những người dạy sử triết để đánh lừa dư luận là đã có triết. Tội nghiệp cho các sinh viên phải chịu tử vì triết ( à quel martyr les étudiants doivent se soumettre lors de leur examens de philo pour faire entrer dans leur pauvres cervelles les idées les plus folles et les plus sauvages.? 151 id. ) Vì người ta lèn vào đầu óc chúng muôn vàn ý tưởng kỳ khôi khúc mắc… chúng chỉ được dậy cho cách xét đoán bằng dùng từ ngữ phê bình từ ngữ mà không lấy đời sống làm tiêu chuẩn. Khi một đầu óc non nớt chưa mấy hiểu đời mà người ta không dậy cho em biết đời, biết sống theo những nguyên lý nào, nhưng nhét vào đầu em năm mươi hệ thống rút gọn thành 50 công thức, kèm theo 50 bài phê phán các hệ thống đó. Thực là tháo thứ , thực là mường rợ , thực là mỉa mai biết mấy cho một nền giáo dục của triết lý ( 153 ) . Vi đó mà triết hàn lâm đã trở nên đồ bỏ: bị mọi người khinh chê nghi ngờ. “La philosophie univesitaire est un objet de mépris et de scepticisme general ”. Còn đâu nữa là những triết gia chân thực có sức lay động cả một nước, đốt cháy cả một châu? Ước mong chi bên ngoài đại học mọc lên được một toà thượng thẩm để kiểm điểm phẩm chất văn hoá được ban phát trong Đại học. Une instance supérieure qui controle et qui juge ces institutions elles mêmes quant au genre de culture qu’on y pratique. ( 165 ). Có thế triết mới hi vọng làm tròn sứ mạng của mình là trở thành nguồn mạch tràn lên hùng cường, vui sống, yêu thương. ( La source d’héroisme qui jaillit d’elle. )
Các cái đang dậy trong các học đường đã cũ rích. Văn hoá chỉ nhích lên một bước nữa là chúng bị lật đổ tan hoang.
Phẩm giá của triết đã bị giày đạp đều đã trở nên trò chế riễu vô bổ, vì thế tất cả những người chân thành có nghĩa vụ phản đối về sự lẫn lộn kia (lẫn triết học với triết lý). Muốn cho quốc học Việt Nam không là một sọt rác thì người Việt Nam phải đi con đường phản kháng và kiểm soát như đề nghị trên. Sự thịnh suy của nước nhà trong giai đoạn này nằm ở chỗ mọi người bất ngời ( ? ) đó.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s