Giới thiệu học bổng Nguyễn Thái Học

 

Ghi chú: Bạn có thể gửi email  nhờ Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam chúng tôi viết thư giới thiệu đặc biệt đến học bổng Nguyễn Thái Học, để nộp kèm theo đơn xin học bổng và được ban giám khảo học bổng cấp cho bạn theo sự ưu tiên. Học bổng này áp dụng cho những người có đóng góp cho nền giáo dục nước nhà. Học bổng áp dụng cho sinh viên và cựu sinh viên , giảng viên đặc biệt hoặc người mới ra trường. 

Đọc tiếp “Giới thiệu học bổng Nguyễn Thái Học”

Du học – Đi đi, đừng về !

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ hiện đang ở Việt Nam hè 2014. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.
Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’
Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’
Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?
Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy. Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’. Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

Theo Facebooker Lê Vi

Cô giáo “ép” cả lớp tát học sinh 231 cái đã tự tử bất thành!

Cô Thủy được người nhà đưa vào bệnh viện cấp cứu trong tình trạng tinh thần hoảng loạn, lúc tỉnh lúc mê.

 

Đọc tiếp “Cô giáo “ép” cả lớp tát học sinh 231 cái đã tự tử bất thành!”

Luật sư Lê Văn Luân phân tích căn cứ pháp lý vụ giáo viên nhục hình học sinh

Vụ giáo viên dùng học sinh là trẻ em tát học sinh cùng lớp là trẻ em về mặt cấu thành tội phạm được cụ thể và tường minh như sau:

Khách thể bị xâm hại: Quyền bất khả xâm phạm về uy tín, danh dự, nhân phẩm và quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng và sức khoẻ – Điều 20, Điều 37 Hiến pháp 2013; Điều 4.5, Điều 6.3 và 6.5, Điều 12, Điều 21, Điều 27 Luật Trẻ em 2016; Điều 75 Luật Giáo dục 2005, sửa đổi 2009; Điều 33, Điều 34 BLDS 2015; Điều 134, Điều 140, Điều 155 BLHS 2015. Trực tiếp vi phạm vào điều cấm của pháp luật.

Chủ thể thực hiện hành vi: Người đã trên 18 tuổi. Và đang là một giáo viên (lâu năm) có chuyên môn được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm và đạo đức nhà giáo.

Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp.
Vì đã: Yêu cầu toàn bộ các học sinh còn lại tát vào mặt học sinh với điều kiện phải tát thật mạnh (nếu không sẽ bị các bạn khác tát lại). Cố ý yêu cầu (ép buộc) các học sinh thực hiện hành vi xâm hại (tấn công) thân thể, sức khoẻ và nhân phẩm người khác mặc dù biết rõ sẽ gây ra hậu quả. Không những vậy, giáo viên đó còn tự tay tát một phát cuối cùng vào mặt nạn nhân (dẫn đến học sinh này phải nhập viện vì thương tổn). Tức cố ý gây ra các tổn hại về mặt thể chất và tâm lý cho nạn nhân.

Mục đích, động cơ: Nhằm để trừng trị và làm cho học sinh bị trừng phạt bằng biện pháp đánh đập ở cường độ mạnh trở nên khiếp sợ, kinh hãi, thấy xấu hổ, nhục nhã trước các bạn khác và cũng là để răn đe các học sinh cả lớp với mục đích nhằm đạt được thành tích trong nghề nghiệp.

Mặt khách quan (hành vi rất nguy hiểm): Thực hiện một cách công khai ngay tại trường học trước sự chứng kiến của nhiều học sinh. Không chỉ trực tiếp xâm hại trẻ em mà còn dùng trẻ em để đạt được mục đích xâm hại của mình. Thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, thông qua nghề nghiệp để phạm tội. Phạm tội có tính chất côn đồ và thực hiện phạm tội với người không thể tự vệ được và bằng thủ đoạn tàn ác.

Dẫn đến hậu quả (rất nghiêm trọng):
– Về mặt thân thể, sức khoẻ bị hại: nạn nhân đã phải nhập viện điều trị vì mặt sưng, phù nề. Cần có giám định y khoa mới cho biết mức độ thương tật.
– Về mặt tinh thần: Nạn nhân nên sợ hãi nên không dám đến trường. Thấy xấu hổ và nhục nhã trước bạn bè cũng như giáo viên. Các học sinh thực hiện việc tát bạn cũng trở nên hoảng loạn và sợ hãi về tinh thần. Việc đến lớp và học hành trở thành cực hình và nỗi ám ảnh của học sinh.
– Về mặt rối loạn hành vi: Còn cần phải giám định y khoa mới có kết quả chính xác.
– Về mặt xã hội: Dư luận toàn xã hội hết sức phẫn nộ. Môi trường giáo dục bị huỷ hoại, thanh danh, uy tín nghề giáo bị ô uế và làm cho nhân dân mất niềm tin vào hệ thống giáo dục.
– Về mặt vật chất: nạn nhân mất thời gian học tập. Mất tiền viện phí và thuốc thang trong việc điều trị. Mất thu nhập của phụ huynh vì phảm nghỉ việc chăm sóc con cái.

Nạn nhân, người bị hại: Là trẻ em dưới 13 tuổi. Đang trong là đối tượng được bảo vệ toàn diện về mọi mặt, đặc biệt là trong môi trường giáo dục.

Thực ra trong Bộ luật Hình sự vẫn còn chưa có tội danh: Tội ép buộc người khác phạm tội. Mà mới chỉ có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hành vi xúi giục ngừoi dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là một thiếu sót về tội danh mà tôi đã đề xuất cần phải bổ sung (cùng ít nhất là 03 tội danh nữa) vào trong Bộ luật Hình sự để đảm bảo sự đầy đủ của căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự từ cách đây hơn 4 năm trước.

Luân Lê/fb

Trưởng phòng giáo dục giấu nhẹm học trò bị tát 231 cái.

+Võ Thái Hòa, trưởng phòng giáo dục đào tạo huyện Quảng Ninh đã dấu nhẹm vụ học sinh bị phạt tát mấy trăm cái ở trường Trung Học Cơ Sở Duy Ninh với cấp trên.

 

Đọc tiếp “Trưởng phòng giáo dục giấu nhẹm học trò bị tát 231 cái.”

Tội ác của đội sao đỏ, đội cờ đỏ: Trời đánh không cần tránh bữa ăn.

Lời tòa soạn: Bài viết của tiến sĩ Chu Mộng Long, đại học Quy Nhơn- tỉnh Bình Định.  Với nỗ lực dẹp bỏ sự quá khích tiêm nhiễm vào đầu nhiều học sinh, tiến sĩ Chu Mộng Long phân tích rằng hình thức tổ chức sao đỏ-cờ đỏ để học sinh theo dõi lẫn nhau cần phải được xóa sổ.

Tôi vào lớp đúng 7 giờ sáng, thấy sinh viên đang ăn bánh mì hoặc xôi. Hiển nhiên thấy tôi, các sinh viên đó giật mình và vội vàng giấu thức ăn xuống gầm bàn. Tôi cười:
– Các con cứ ăn tự nhiên. Vừa ăn vừa học cũng được, ngoại trừ ăn những món có mùi và không được xả rác. Ở các nước văn minh, học sinh vừa ăn vừa học vẫn giỏi.
Sinh viên của tôi vẫn không dám lấy ra ăn tiếp. Tôi hỏi vì sao thế, không ăn thì lấy sức đâu mà học?
Một sinh viên rón rén lấy mẩu bánh dở dang ra ăn tiếp và nói:
– Học thầy sướng quá! Trước đây ở phổ thông, 7 giờ kém 15 học chính thức, chúng em phải vào lớp 6 giờ 30. Không kịp ăn sáng, nên thường là nhịn ăn hoặc chúng em tranh thủ mang bánh mì theo ăn trước giờ học. Tất nhiên đứng ở hành lang ăn. Nhiều khi đang ăn thì bị sao đỏ, cờ đỏ đi ngang qua giật phắt ném đi và ghi tên vào sổ đen.


Tôi thốt lên:
– Giời ạ, trời đánh còn tránh bữa ăn!
Sau đó, tôi hỏi một số giáo viên có chuyện đó không? Có, phổ biến, vì đó là nội quy chung. Đến 6 giờ 30 là phải vào lớp truy bài, không được ăn uống gì hết. Trường giao cho sao đỏ, cờ đỏ kiểm soát gắt gao.
Thảo nào các cháu sao đỏ, cờ đỏ tự cho mình to hơn ông trời.
Lại chợt nhớ thời hiệu trưởng Kiệt, sinh viên kí túc xá nấu cháo cho bạn bị ốm ăn. Trong lúc bạn đang ăn thì người quản lý nội trú và cờ đỏ giật phắt đi và đổ vào sọt rác. Sau khi bạo chúa Kiệt bị lật đổ, mô hình cờ đỏ mới hoàn toàn bị dẹp bỏ.


Học thì bị nhồi nhét mọi thứ vào sọ, còn cái dạ dày thì trống rỗng mà học sinh Việt Nam vẫn chịu nổi. Thật là sự chịu đưng phi thường! Và tội ác cũng phi thường!


Chu Mộng Long/fb

Tiến sĩ văn chương kiến nghị bắt buộc chơi Facebook đối với tất cả các giáo viên

Tiến sĩ văn chương Chu Mộng Long ở đại học Quy Nhơn-Bình Định đề xuất với Bộ trưởng Bộ giáo dục- Đào tạo rằng phải bắt buộc tất cả các giáo viên sử dụng mạng xã hội Facebook để kiểm soát đạo đức nghề nghiệp lẫn nhau.

Trích bức thư ngỏ của tiến sĩ Chu Mộng Long:

KIẾN NGHỊ BỘ TRƯỞNG: VỀ SỰ BẮT BUỘC GIÁO VIÊN CHƠI FACEBOOK

Đã có bao giờ Bộ trưởng nghĩ vì sao từng có nhiều sự vụ bạo hành trẻ em bị dư luận chỉ trích dữ dội, thậm chí nhiều vụ nghiêm trọng được mang ra xét xử mà bạo hành vẫn tiếp tục leo thang ngày một trầm trọng hơn chưa?Bệnh thành tích gây áp lực biến con người thành quỷ dữ là nguyên nhân đầu tiên, hiển nhiên rồi. Cái gốc là cần chấm dứt những trò thi đua vì thành tích.

Nhưng tôi lại hình dung trong lúc khó chấm dứt bệnh thành tích thì cần có một giải pháp nhanh hiệu quả để răn đe. Đó là bắt buộc tất cả các giáo viên đều phải chơi Facebook!
Tôi vừa hỏi nhiều số giáo viên có biết thông tin gì về những vụ bạo hành trẻ em bị dự luận chỉ trích và cơ quan chức năng xét xử không? Đa số không hề biết!

Trong số đó có những người không hề biết Facebook là gì vì hiệu trưởng của họ cấm, sợ giáo viên tiếp thu thông tin phản động. Một số có chơi Facebook nhưng chỉ để khoe hình, khoe danh, khoe thành tích. Đến cái giấy khen cổ lỗ sĩ thời phân bắc phân xanh mà cũng chụp khoe lên cho mọi người chiêm ngưỡng. Thử hình dung suốt ngày kẻ thì thủ dâm với thành tích đang chạy đua ngoài đời, kẻ thì lại thủ dâm với thế giới ảo như vậy thì còn sức đâu mà cập nhật thông tin? Đa số giáo viên bị mù thông tin, nên có xử một trăm vụ họ vẫn không thay đổi nhận thức.

Thử hỏi cô giáo Dạ Xoa với nhị bách tam thập nhất chưởng vừa rồi có thông tin gì về những vụ bạo hành trước đó không? Chắc chắn mụ ta không biết gì nên mới ra nông nỗi.

Vì thế, tôi kiến nghị Bộ trưởng ra quyết định khẩn cấp bắt buộc mọi giáo viên đều phải chơi Facebook. Tất nhiên phải kết nối hoặc theo dõi những trang thông tin nóng và bình luận khai trí để cập nhật thông tin và hiểu được lẽ đúng sai. Nghiêm cấm chơi Facebook mà chỉ để khoe hình, khoe danh, khoe thành tích. Bởi cái món khoe hình, khoe danh, khoe thành tích trên mạng ảo cũng là một phần của bệnh thành tích.

Lãnh đạo Bộ cũng phải chơi Facebook để cập nhật thông tin thường xuyên mà có cách ứng xử đúng, kịp thời, nếu không lãnh đạo cũng mù tịt! Mà dân thì cần lãnh đạo sáng suốt chứ chẳng nhẽ đóng thuế nuôi anh mù có mắt?

Chu Mộng Long

Những đức tính dân tộc

1.- Bàn về dân tộc có lỗi thời chăng ?

Nhân loại hôm nay đang tiến mạnh vào giai đoạn liên châu và cả liên hành tinh nữa thì tại sao lại không bàn về quốc tế, nhân loại mà còn đi bám víu vào những cái tư riêng bé nhỏ: dân tộc với quốc gia
Đấy là một câu hỏi phát xuất từ một tấm lòng quảng đại bao la như muốn ôm lấy cả nhân loại vào lòng đang sôi sục lên trong những đầu óc nhất là tuổi trẻ, tuổi ưa lý tưởng? Chúng ta cần nói ngay rằng đó là tư tưởng qúi hoá mà mọi người cần phải vun tưới tài bồi cho mối tình quảng đại ấy ngày được nảy nở tới sung mãn. Nhưng điểm cuối cùng này thưởng hỏng và hầu hết mối tình cao thượng kia trở nên trừu tượng tức là son đẹt. Sở dĩ có sự việc đáng buồn như vậy là vì mối tình cao thượng kia đã không được đôn hậu (đôn hồ nhân) trong tâm trạng an nhiên thư thái (an thổ) nhưng đã phát xuất do phản động chống lại cá nhân chủ nghĩa, là thuyết đã ngự trị lâu dài trên đất Âu Châu. Bởi ông tổ triết là Platon đã lấy sự nhìn ngắm các ý niệm làm cùng đích mà bỏ quên con người thực cho nên không thiết lập nổi tinh huynh đệ phổ biến là cái hồn cho tinh thần công thể. Đã thiếu hồn thì nhất định óc cá nhân gặp miếng đất trống để mọc lên um tùm , biến các người Âu Châu ra hầu như bấy nhiêu hòn đảo to vo cô độc giữa đại dương không có gì nối liền lại với nhau nữa. Bao nhiêu lý thuyết khác có hô hào mối tình chung thì cũng chỉ hô với hào thiếu nội dung chân thực. Vì thế mà có cuộc phản động của rất nhiều tâm hồn quảng đại, muốn cho toàn nhân loại trở nên như một, nổi nhất trong đám này phải kể tới cộng sản. Vì thế cộng sản ra đời với những chữ đầy tinh thần mới , rộng bao la như quốc tế, nhân loại, đại đồng v.v… Tất cả những chữ đó nói lên tấm lòng chân thành thương yêu mọi người chống lại tất cả những gì tư riêng. Bởi vì chính những cái tư riêng đó đã gây ra cá nhân chủ nghĩa là chủ thuyết vô tình dẫn con người đến chỗ chỉ biết có mình, có gia đình mình, cùng lắm thì có nước mình.
Thiện chí cộng sản có dư nhưng họ đã thất bại vì đã đi lối phản động, mà cái tật lớn của phản động là đánh mất một vài cái tế vi. Mấy cái tế vi đó chỉ với tinh thần bình tĩnh thanh thản mới nhận ra được. Tuy rất tế vi nhưng hậu quả lại to lớn vô biên. Đây là cái tế vi đầu tiên: Nếu hỏi yêu toàn thể nhân loại hay yêu một số người đàng nào cao hơn thì câu thưa rất dễ dàng: yêu toàn thể nhân loại cao hơn. Đó là lời đáp rất đúng và thường tình con người đi theo câu đó, và đấy là mầm mống gây ra tai hoạ, là vi hai chữ nhân loại đễ biến thành một ý niệm trừu tượng. Bởi vì khi tâm hồn con người bị qui hướng mạnh vào cái được tin là “toàn thể” thì dễ quên đi cái tiểu thể. Khi tôi không yêu anh ất chị Giáp là những nhân lân của tôi thì nhân loại chỉ còn là những danh từ trống rỗng. Để có 10 quả cam thì cần phải có 1,2,3 quả cam trước đã, nói khác nếu muốn có đại đồng thì phải có tiểu dị. Tiểu dị mới khó, cho nên yêu dăm mười người bên cạnh tôi khó hơn yêu cả nhân loại. Và cả nhân loại chỉ là một danh từ trừu tượng nó không hôi hách, không lẩm cẩm, không bẩn gắt, không ích kỷ…, thì đừng nói yêu một nhân loại ngay cả trăm ngàn nhân loại tôi cũng yêu ngon lành không sứt mẻ. Nhưng tình yêu ấy sẽ làm sứt mẻ những con người sống thực bên cạnh tôi.. Đấy là sự thật mà nếu không nhận ra thì những chữ đại đồng nhân loại sẽ trở thành cái bung xung che đậy lòng căm thù lân nhân. Tinh thần dân tộc đã bị lu mờ là do 80 năm thâu hoá bừa bãi văn hoá cá nhân Tây Âu để vun tưới cho loại tình yêu nhân loại trừu tượng kiểu đó. Lòng yêu thương nhân loại nơi một Hồ Chính Minh không ai dám chối cãi là cao, nhưng nó đã chắn mắt ông không cho ông nhận ra rằng ông đã tiêu diệt cả hàng ngan vạn đồng bào của ông tức là tiêu diệt những cái “tiểu dị” để phụng sự cho cái “đại đồng” nhưng đại đồng ấy đặt ở đâu? ở Moscou? hay Bắc Kinh? Tại sao lại không đặt ngay ở cái nước Việt Nam này? Tại sao không yêu thương những người đang sống ở đây và bây giờ, lại phải hướng mắt về những con người mai hậu ở mãi tận đâu bên Tàu, bên Nga, bên quốc tế? Vậy thì chú tâm đến dân tộc đã không phai là một ngãng trở nhưng còn là điều kiện thiết yếu để đi đến quốc tế, đến nền huynh đệ phổ biến chân thành, bởi vì không có phần mở lấy chi làm nên tập thể? Nếu thiếu mối liên hệ ràng buộc các phần nhỏ thành toàn thể thì cần phải đi tìm cái dây đó chứ không nên phá bỏ phần mớ! Nếu mỗi người đều sống cho mình, cho gia đình mà không lo cho nước, cho nhân loại thì cần tìm ra cái triết lý tạo nên tinh thần công thể để ràng buộc các tư nhân, các gia đình lại chứ nếu đem bỏ gia đình, bỏ tổ quốc đi hầu đạt đến quốc tế, thì sẽ được một quốc tế thiếu nội dung: gọi là trừu tượng. Vậy thì dù bước vào thời đại liên châu hay liên bang cũng cần có bang để mà liên, cho nên nói đến dân tộc là cần thiết, càng cần thiết hơn nữa khi những làn sóng quốc tế rỗng đang cám dỗ tâm trí rất đông người, đến độ trở nên một đe doạ bóp ngạt thở chút tinh thần dân tộc còn sống sót và đang ngoắc ngoải rẫy chết.

2- Sao không mới mà lại cũ

Bạn bè sẽ hỏi sao không mới mà cũ , vì nếu nói đến dân tộc thì sẽ lại phải đi moi móc lên những cái cổ xưa, thì nó sẽ níu chân mình lại không cho tiến xa? Thưa rằng cái đó tuỳ phong thái trở lại với cái cổ: chỗ quan trọng không là cổ với kim nhưng là đường lối. Có những đường lối làm cho sống động mà cũng có những đường lối chỉ chất đống lại không tiêm được luồng sinh lực nào vào những dữ kiện thâu nhập, với đường lối đó thì dẫu dữ kiện có mới, rồi cũng đốc ra những tri thức lạnh lùng chỉ tốt cho bác vấn mà thôi. Vậy thì không cần ngại cổ với không cổ, nhưng nên quan tâm đến đường lối, một khi đã có đường lối sống động thì chúng ta đừng ngại bàn đến dĩ vãng dân tộc. Hơn thế nữa càng nên bàn đến dĩ vãng vì nó là một động lực có sức định tính con người hơn hết. Đặc tính của sự vật là sự hiện hữu lù lù ra đấy, trọn vẹn trong lúc này, không một qui chiếu nào vào dĩ vãng hay một dự phóng nào vào tương lai. Con người khác con vật ở chỗ đó, ở chỗ có cả dĩ vãng lẫn tương lai, nên càng đào sâu vào dĩ vãng thì càng là người vì đào sâu thì không còn bám víu những dữ kiện lẻ tẻ những sẽ đạt tới vòng sinh sinh nối kết dĩ vãng tới hiện tại tương lai làm nên hiện tại miên trường bơm hăng say cho đời sống khiến nó trở nên sâu xa thăm thẳm. Đức tinh này biểu lộ một sự thống nhất bao la mà Việt Nho kêu là sự thái hoà hợp với những tích luỹ lịch sử (thời trời) cũng như hoà hợp với những điều kiện của khu vực (hiện tại). Những điều này trước đây không được triết học lý niệm lưu tâm vì là triết học lý niệm thì chỉ những ý niệm đã múc cạn sinh lực của nó rồi, vì thế mà người nay kêu là triết học bật rễ, không nhập thể (désincarné) tức là loại triết không chỉ biết đến điều kiện không thời gian. Chỉ căn cứ trên những câu định nghĩa khái quát về con người rồi đem ra úp vào đầu cổ mọi người bất kỳ ở đâu: đem chẳng hạn những suy tư của Karl Marx trước những hoàn cảnh đặc thù của Âu Châu thế kỷ 19 mà úp vào đầu cổ người Việt Nam thế kỷ 20…. là một việc hoàn toàn trái với thực tế: hậu quả tai hại của triết học duy tâm lý niệm xuất phát từ đó.

Theo triết Việt thì con người là kết quả của đức trời đất. Trời là thời gian, đất là không gian. Vậy con người kết quả của đất trời thì phải tuân theo điều kiện của khu vực cũng như thời đại và vì thế xây trên nền tảng dịch lý để luôn luôn thích nghi với những điều kiện thời không.

Con người có quyền làm khác chăng? có quyền coi thường điều kiện không thời gian đó chăng? Jung nhận xét thấy cái cười của tổng thống Roosevelt cũng như bao người Mỹ khác rất giống cái cười dân da đen bản thổ Châu Mỹ (Les problèmes de l’homme moderne 62, 43). Đó là ấn tích mà khu vực đóng lên thân xác của những người này như vậy dù muốn dù chăng thì người Mỹ cũng mang ấn tích của nơi cư ngụ. Ai cũng nói đến bưởi Biên Hoà, Cau Bà Điểm, nhãn Hưng Yên… tức là vô tình nói đến điều kiện khu vực. Ngày nay phương pháp trồng tỉa đã nâng những nhận xét thường nghiệm đó lên bậc khoa học. Vì thế trước khi quyết định trồng loại cây nào thì phải phân tích chất đất, tìm hiểu tất cả những yếu tố thiên nhiên bao quanh mới quyết định được loại cây nên trồng, trồng ẩu thì thất bại. Cũng nguyên lý đó đang được áp dụng vào việc trồng người và được đặt nổi do những khoa học mới chẳng hạn vào khoa học sau đây.

Ethologie là một ngành tâm lý loài vật học về các lối cử động, mỗi vật có một thế giới bao quanh riêng (Umwelt của V.Uexkull). Con báo nhốt trong chuồng tỏ ra rất khờ khạo, chỉ cần đi quanh một chút là có mồi, mà vẫn không nhận ra là vì thế giới bao quanh giả tạo không mang ý nghĩa nào đối với nó. Ngược lại khi thả nó vào hoàn cảnh thiên nhiên của rừng rú thì tất cả đều có nghĩa nên nó lượn quanh rất tài tình để bắt mồi. Người ta đang mở rộng phạm vi Ethologie áp dụng cho người và không còn chịu học về người cách to vo cô độc như trước nữa, nhưng học nó trong môi trường và qua mọi động tác có tính cách xã hội và tâm lý. Đường hướng này đã phần nào giống với triết học Đông , học về con người qua những công việc đồng áng giữa tiếng hát câu hò, cái cười đưa duyên, để do thám tình ái (Kinh Thi) những lối cai trị đối xử (Kinh Thư) những mối nhân luân đầy ắp mùi vị nhân tình thế thái nóng có lạnh có (Xuân Thu tả truyện). Vì thế khi ra trường người đi học đã làm quen khá nhiều với tâm lý của con người sống thật. Chúng ta có quyền hi vọng những cố gắng của Ethologie sẽ đưa ta trở lại cái học thiết thực lúc xưa. Khoa thứ hai là môi sinh (Ecologie) nhấn mạnh về ảnh hưởng khu ực trên những yếu tố tâm lý như lý tưởng, những nhu cầu, những lý do, cùng đích, nhận xét v.v… Thí dụ thiếu niên phạm pháp có nhiều hơn nơi những người di cư, bệnh thần kinh loạn óc nhiều hơn trong những khu xóm xô bồ tứ chiếng như chung quanh nhà ga hay các đô thị lớn v.v… Cuối cùng phải kể đến khoa uyên tâm mới khám phá ra nhiều cái bất lợi khi người ta không theo được điều kiện thời không, thí dụ một trong những tâm bệnh gọi là Schizophrenie người bị chứng đó thì tâm hồn như bị bổ đôi, nhân tính như bị phân tán ra nhiều khu vực riêng biệt không liên hệ với nhau. Hầu hết con người đều bị chứng nay ở trình độ nhẹ: nó ở tại đời sống thiếu thống nhất, chủ trương thiếu nhất quán vì bao gồm nhiều mâu thuẫn mà không hay biết. Và do đó không còn sự thâm sâu, nên không đạt tới tâm linh là tác động là vọt lên sự an nhiên thư thái. Con người đời này mang bộ mặt đầy lo âu khắc khoải là do đó.

Sau cái nhìn khái quát đặt trên đường vận hành của khoa học như trên ta nhận ra rằng có bàn về dân tộc tính thấu triệt mới là đi theo đúng đường hướng khoa học và một nền quốc học muốn đào tạo nên nhiều vĩ nhân thì không thể không đi theo con đường dân tộc. Đấy là việc cần chứ không là việc làm vì danh dự quốc gia quá khích nào cả. .

3- Những điều kiện qui định một dân tộc tính

Tuy nhiên cần phải tìm về dân tộc tính cách nào để tránh nạn bị ngưng đọng lại đợt cổ tục học hay mấy sách khảo cổ chất chứa toàn những yếu tố chết vì bám sát lấy tính chất thổ ngơi hình thức. Kinh điển gọi người là thiên địa chí đức, chứ không thiên địa chi hình. Vậy cần làm thế nào để đạt tới đợt Đức. Đức cùng với Tính là một, nên nói dân tộc tính hoặc là đức tính của dân tộc mà không thể nói khác. Trong viễn tưởng dân tộc thì Đức phải hiểu là luồng linh lực từ xa xưa tràn về và sôi lên sùng sục tiêm vào lòng ta một sức thần diệu như dâng lên mãi từ một số những phương thế giúp cho được gặp thấy luồng sóng đó, chẳng hạn về việc tế gia tiên khi giữ đúng với trai ngoại gái nội (như đã bàn trong quyển căn bản). Chúng ta có thể kể bào đây những lễ tế Thiên, tế Đình (tế Thần Hoàng)… là bấy nhiêu những vòi Robinet làm chảy ra những tia sống động, những cái mà tâm lý kêu là “centre de destin” = trung tâm quyết định vận mệnh như Bachelard gọi thế trong quyền la poétique de l’espace (P.28) hoặc nói như Freud đó là “những dây tình ái làm thành nền móng của hồn dân tộc” (Les attachements affectifs qui forment le fondement de l’âme collective). Ngoài ra chúng ta có thể tìm trong những linh tượng của dân tộc như Âu Cơ, Mỵ Châu, Hùng Vương… Nếu khéo khai thác thi đấy cũng là một gestalt, tức là một loại cơ cấu giữa khả năng linh động hoá tâm hồn dân tộc. Và như thế là chúng ta đi lại gần vấn đề quyết định quan điểm khai thác dân tộc tính. Chúng ta hãy mở đầu bằng câu hỏi rằng yếu tố nào quyết định dân tộc tính hơn hết? Hỏi như thế vì ai cũng biết rằng có rất nhiều yếu tố hoặc thuộc không gian cư ngụ (quê nước) hoặc thuộc thời gian (lịch sử) hoặc thuộc dân tộc (dòng máu) cũng như thuộc văn hoá… Chính vì nhiều yếu tố cấu thành dân tộc nên vấn đề xác định dân tộc tính trở thành phiền toái và rất bấp bênh, vì quá ít người biết phân biệt rành mạch quan điểm rồi vô tình đựa quan điểm tư riêng lên bậc phổ biến. Vậy cần chúng ta phải soát lại tầm mức giá trị của từng yếu tố.

Trước hết là dân tộc theo khía cạnh dòng tộc. Đây là một yếu tố được hầu hết các học giả trước cho là quan trọng nhất, nếu không là độc nhất. Đến nay người ta mới nhận ra rằng đó là yếu tố ít nền tảng nhất nên ít đáng tin cậy hơn hết. Vào những năm 1950-1951 văn hoá liên hiệp quốc đã uỷ thác cho một số chuyên viên thời danh nghiên cứu về vấn đề chủng tộc, thì đại để đã đạt kết luận như sau: trong cả nhân loại chỉ có ba nhóm dân lớn: một là caucasoide (da trắng), hai là Negroide (da đen) và ba là da vàng của Mongoloide. Ngoài ra các nhóm nhỏ khác chỉ có trong óc các người chỉ trương mà thôi. Về những lối phân chia cho rằng dân da đen nổi về giác quan, da trắng về lý trí… đều bị cho là bịa đặt, cũng y như thuyết cho rằng dân Aryen nổi vượt hơn các dân khác vậy. Hiện nay được kể như đã chứng minh (O.Klinneberg. Fr. Brown…) rằng sự dân này nổi vượt hơn dân khác chỉ là tương đối do hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hoá mà thôi chứ không vì yếu tố chủng tộc. Bởi vậy trong thực tế chỉ có thể xác định cách tương đối và theo khía cạnh thích hợp. Vì chúng ta đang bàn đến vấn đề quốc học, nên khía cạnh tương hợp ở đây phải là văn hoá. Đây cũng là khía cạnh tương đối vững nhất vì có một số tiêu biểu (sách và thể chế) thế mà lại ơn ích nhất: ơn ích vì ta có thể tác động bằng vun tưới, tài bồi thế mà lại hợp với đề tài chúng ta đang nghiên cứu: chúng ta không nghiên cứu về chủng tộc, thị tộc, dòng máu… nhưng là về dân tộc tính tức là những đức tính phân biệt nhóm người này ra khỏi nhóm kia đó là vấn đề thuộc văn hoá… Để một tập quán một thói tục có thể gọi là dân tộc tính thì phải đắp ứng được hai điều kiện: một là trường cửu tính hai là đặc thù tính mới hợp câu định nghĩa con người là thiên địa chi đức, Nét thứ nhất thuộc thiên nó quan trọng ở chỗ trường cửu vì có vậy mới là tính là đức mới bảo đảm là thuộc thiên, theo câu “thuận thiên giả tồn”. Cái gì tồn tại lâu dài là do trời. Nếu có tồn trường thì mới có thuận thiên và mới là đức tính, mới là mố cầu đi sang nhân tộc, vì tính trung thực không được nằm ngoài nhân tộc tính và đó có thể gọi là giống tức phần phổ biến bao la , trong câu định nghĩa trung thực gồm cả phần phổ biến lẫn phần tư riêng để xác định. Dân tộc tính cũng phải bao hàm cả hai phần đó. Trước hết là phần phổ biến , một nền văn hoá cao hay thấp là tuỳ ở nó có được nhiều yếu tố phổ biến hay chăng, vì chỉ có những yếu tố đó mới trường tồn, mới hợp cho con người muôn thuở, nói khác mới đáp ứng cho nhu yếu nền móng của mọi con người không phân biệt Đông Tây Kim Cổ. Tuy nhiên phổ biến chân thực không bãi bỏ cái tư riêng vì chính sự tư riêng mới là “nơi” thể hiện cái phổ biến, cái vô biên. Chính vì thế cần phải có yếu tố đặc trưng, vì nếu không thì không thể nói dân tộc mà chỉ có thể nói nhân tộc. Sở dĩ phải nói dân tộc, vì nhân tộc còn quá mông lung nó thuộc thiên, thuộc Thể, cần phải có nét độc đáo mới có phần hai là “địa chi đức” tức cái gì riêng biệt, thuộc Dụng vì thế cần cả chung (đức tính) cả riêng biệt đặc thù (dân tộc). Đấy là hai nét căn bản mà mỗi khi nói đến dân tộc tính đều phải kể tới.
Hãy đưa ra một thí dụ để minh hoạ. Chẳng hạn sự phong phú và vai trò quan trọng của ca dao có phải là một dân tộc tính của nền văn hoá Việt Nam chăng? Nếu thưa là có thì người ta có thể đặt vấn nạn rằng: Không thể nói vậy được vì cao dao trong bất cứ nền văn hoá nào mà chẳng có. Vậy điều đó không là đặc trưng nhưng chính vì đâu đâu cũng có nên là đức tính nghĩa là cái gì phổ biến thuộc mọi người. Bởi thế không nên tìm đặc trưng ở chỗ có hay không, vì tất cả mọi người đều có, đấy là điều kiện bất khả vô. Vậy thì phải tìm cách thể hiện và lúc ấy ta khám phá ra rằng chỉ Việt Nho mới có bộ “nạp ngôn” lo việc thâu nhặt lời của dân chúng, (tức ca dao vì dân chúng hay dùng lối vắn tắt là ca dao) Thứ đến là khi đưa về lại đặt vào kinh điển tức là những sách cao quí nhất của dân nước nên kể là “lời dân” được tôn kính chứ không thâu về rồi xếp xó đó hay chỉ để giữ vai trò trang trí. Rồi nữa ông trời Đông phương không có nói, nên tiếng dân không bị át, nhưng vẫn làm chủ tịch trong văn hoá. Đó là vài ba nét đặc trung trong nền văn hoá Việt Nho không tìm ra được nơi khác. Và vì thế ta có quyền nói ca dao kiểu nói thông dụng của dân là một nét đặc trưng của dân tộc tính. Trong câu đó có cả yếu tố nhân tính chung cho mọi con người đâu đâu cũng có ca dao, đồng thời là dân tộc tính vì ca dao ở đây có một cách chính thức, được trọng hậu. Vậy khi ta nói ca dao đóng vai quan trọng đặc biệt trong văn hoá Việt Nho thì không nên nhằm vào sự có vì đâu cũng có, nhưng nhằm vào sự đặc biệt của nó là:

1.- Được thâu nạp do một bộ trưởng trong chính quyền.
2.- Được kết đúc vào kinh điển.
3.- Không bị tiếng nào khác lấn át.
Quả quyết như vậy ta thấy lý trí thoả mãn hay ít nhất là ta đã có một số tiêu điểm cụ thể để xác định điều muốn nói.

Vậy mỗi khi bàn đến một đức tính nào được coi như là đặc trưng thì phải kể ra được một số nét thực sự đặc trưng, nếu không thì kể là vu vơ may ra trúng. Thí dụ bảo rằng sự mềm dẻo thích nghi thâu hoá là đức tính của dân Việt vì đã tiếp thu Phật giáo, Ki Tô Giáo, văn hoá Tây Âu v.v… thì mới đúng cho phần Dụng mà chưa chỉ ra được lý do nội tại. Như thế người ta vẫn có thể chối đi vì chẳng cứ gì Việt Nam, mà bất cứ dân tộc nào nếu có tồn tại đến nay mà chẳng biết thích nghi thâu hoá bởi đó là điều kiện để sinh tồn. Vì thế chưa đưa ra được lý do riêng biệt thì chưa nói được là dân tộc tính, mới chỉ là nhân tộc tính tức là người nào muốn sống cũng phải có đức đó. Đưa ra lý do địa dư như nước ta ở vào vị trí ngã ba nơi gặp gỡ các luồng văn minh thì cũng đã được nhưng chưa sâu đủ, vì cũng có các nước khác như thế . Nhưng nếu đưa ra lý do nước ta được tô tạo trong tinh thần Kinh Dịch tức là đã đem tính thích ứng lên hàng đầu đặt thành một kinh, một sách chuyên dậy về cách uyển chuyển thâu hoá. Có móc nối được như vậy thì mới có quyền gọi được là đặc trưng: đặc trưng ở chỗ đã không còn thâu thái thích ứng bừa bãi nhưng thích ứng theo nguyên lý đã nhận thức và ghi lại trong kinh điển v.v…
Sau đây là ít nét có thể gọi được là dân tộc tính đã bàn trong các sách trước chỉ ghi lại đây như một bản tóm.

1.- Văn tổ trong lễ gia tiên

2.- Bình sản (căn bản)
3.- Tình huynh đệ phổ biến (Căn bản)
4.- Thống nhất văn hoá (Căn bản)
5.- Kính lão (Trọng xỉ)
6.- Dĩ hoà vi quí….

Mời đọc sơ qua nhiều người đã la lên rằng đâu có đặc trưng thí dụ “tình huynh đệ phổ biến” thì nhiều nền văn hoá đề cập và nhấn mạnh chứ có riêng gì của Việt Nho. Nhưng nếu xét cặn kẽ thì mới nhận ra rằng đó là nét đặc trưng. Bởi vì không phải nói đến nhiều, nhấn mạnh lắm mà được. Làm thế chỉ là luân lý nghĩa là khuyến thiện ở bình diện lương tri thường nghiệm. Càng nói nhiều càng nhắc nhở luôn thì càng tỏ ra chưa đạt cơ cấu uyên nguyên. “Người ta chỉ nói tới răng khi răng đau” Bernard Shaw. Các báo chí nói đến điện khu bị cúp điện v.v…. Vậy căn cứ vào sự rậm lời mà quyết đoán là có thì dễ sai. Nên xem vào hậu quả thiết thực “xem quả biết cây” là câu sách hay nhất nhưng bị triết học lý niệm và các nhà văn chương ít chú tâm. Chỉ vận hành chung quanh Từ và Ý vì không đạt cơ nên không xét ở Dụng, nói để hiểu: xem quả (Dụng) thì biết cây (Cơ).
Trên đây chỉ là dăm ba thí dụ chứ không có ý trưng ra nhiều vì phải bàn khá dài, không hợp cho bài này chỉ có ý nhắc đến một số nguyên tắc. Ai muốn đi vào chi tiết từng đức tính một xin xem mấy sách của chúng tôi đã bàn khá kỹ lưỡng như Căn Bản, Việt Lý v.v…
Nói về Việt Nam như ngã ba các văn minh thì đúng nhưng không đặc trưng. Trong quyển Philosophie comparee ông Masson Oursel còn kể ra Tibet và các Inoulindes (P.87)

Trích Kim Định- chương 3 sách Vấn đề Quốc học

“Ngành giáo dục Việt Nam nên kế thừa di sản giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa”

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam lại nhắc đến ‘triết lý giáo dục’ của Việt Nam trong phiên trả lời chất chất vấn Đại biểu Quốc hội vào sáng ngày 1 tháng 11, cũng như ông kêu gọi Đại biểu Quốc hội góp ý cho Luật Giáo dục sửa đổi.

Đài RFA ghi nhận ý kiến của giới chuyên gia giáo dục liên quan vấn đề vừa nêu.

“Giáo dục Việt Nam có triết lý của mình”

Cách nay tròn hai năm, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trong vai trò phụ trách khối văn hóa xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo, đã đăng đàn trước Quốc hội để chia sẻ ý kiến của ông về vấn đề giáo dục với lời khẳng định, và được truyền thông quốc nội trích dẫn nguyên văn “Triết lý giáo dục của Việt Nam trước hết là triết lý xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là xây dựng con người Việt Nam toàn diện, đức trí, thể mỹ, có tinh thần dân tộc, có lòng yêu nước và có trách nhiệm quốc tế”.

Đài RFA ghi nhận trong buổi trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội vào sáng ngày 1 tháng 11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhắc lại những gì ông đã nói trước đó và cho biết thêm Việt Nam cũng nói đầy đủ 5 trụ cột giáo dục của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) bao gồm học để biết, học để làm việc, học để chung sống, học để khẳng định mình, học để thay đổi bản thân và thay đổi thế giới tốt đẹp hơn.

Thật sự mà nói, nếu tóm gọn lại thì chắc là Việt Nam không có triết lý giáo dục. Và nếu như có thì triết lý giáo dục được cô đọng trong Bộ luật Giáo dục năm 2005 cũng như cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
-Giáo sư Phạm Minh Hoàng
Phó Giáo sư-Tiến sĩ Mạc Văn Trang, cựu viên chức làm việc hơn 30 năm ở Viện Khoa học Giáo dục lên tiếng với RFA sau khi nghe phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vào sáng ngày 1 tháng 11 vừa qua:

Triết lý giáo dục của Việt Nam hiện nay không rõ ràng gì cả. Ông Vũ Đức Đam nói như thế, tức là ông ấy rất bối rối. Ông ấy cũng chẳng có một quan điểm rõ ràng. Ông nhặt được cái gì thì ông nói cái đó. Hiện tại người ta cứ nói linh tinh hết cả, chưa có một cái gì xác định.
Giáo sư Phạm Minh Hoàng, một giảng viên từng giảng dạy ở Việt Nam và bị Chính quyền Hà Nội cưỡng bức đi Pháp hồi hạ tuần tháng 6 năm 2017 nói với RFA rằng:

Thật sự mà nói, nếu tóm gọn lại thì chắc là Việt Nam không có triết lý giáo dục. Và nếu như có thì triết lý giáo dục được cô đọng trong Bộ luật Giáo dục năm 2005 cũng như cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục.

“Nền giáo dục bị lạc hậu và lạc đường”
Căn cứ theo Luật Giáo Dục năm 2005 và các đề cương phát triển giáo dục của Việt Nam thì nền giáo dục hiện tại của Việt Nam chủ yếu lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, đào tạo con người toàn diện về đạo đức lẫn trí tuệ; nhưng phải trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Vào tháng 11 năm 2017, dư luận trong nước dậy sóng khi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đăng đàn phát biểu về triết lý giáo dục của Việt Nam. Trong đó, không ít chuyên gia giáo dục cho rằng triết lý giáo dục của Việt Nam mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đưa ra không phải là triết lý giáo dục.

Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng nêu lên quan điểm của ông về nền giáo dục Việt Nam là một “nền giáo dục không chỉ lạc hậu mà còn lạc đường” vì:
Cái lạc đường của Việt Nam là chúng ta không đánh giá đúng triết lý giáo dục phù hợp với con người. Giáo dục Việt Nam không phục vụ con người theo cái nghĩa con người tự do, con người nhân văn, con người có hiểu biết, con người có tinh thần phê phán và sáng tạo.

Tại buổi trả lời chất vấn trước Quốc Hội vào ngày 1 tháng 11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề nghị Đại biểu Quốc hội quan tâm đến giáo dục thì nên tham gia các hội thảo để đóng góp vào Luật Giáo dục sửa đổi.
Giáo sư Phạm Minh Hoàng khẳng định với RFA rằng “những điều mà Nhà nước dự tính thay đổi trong giáo dục thì đều vô bổ, một khi họ vẫn giữ những ràng buộc quá nặng nề về chính trị, trung thành với Chủ nghĩa Marx-Lenin. Điều này làm cản trở bước tiến của nhân loại và bước tiến của học sinh sinh viên tại Việt Nam.
Còn Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng tuyên bố:
Nền giáo dục Việt Nam không có lối ra vì bị lạc đường. Sai thì còn có thể sửa, chứ đi lạc đường mà lại tin tưởng con đường đó đúng thì không bao giờ thoát ra khỏi cái hệ lụy đó được.

Giải pháp nào cho nền giáo dục Việt Nam?
Đài RFA nêu vấn đề với một số chuyên gia giáo dục, là những người có tâm huyết với nền giáo dục Việt Nam và chúng tôi ghi nhận hầu hết họ cùng đồng quan điểm là Bộ Giáo Dục nên sử dụng chương trình giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, đó là chương trình giáo dục của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, được xây dựng từ thời Chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945.

Tiến sĩ Mạc Văn Trang chia sẻ:
Tôi từng viết một bài nói rằng triết lý giáo dục của Việt Nam nên kế thừa triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa trước đây, cũng như tinh thần triết lý về văn hóa của Việt Nam là nên đưa ra triết lý dân tộc, nhân bản, khai phóng thì mới đúng bản chất của giáo dục.

-Tiến sĩ Mạc Văn Trang

Trong năm 2018, qua các trang mạng xã hội, rất nhiều ý kiến của phụ huynh cũng cho biết họ sẽ tìm kiếm bộ sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa trên mạng internet và sẽ tự dạy cho con em mình học theo theo bộ sách này, khi làn sóng phản đối bộ sách Tiếng Việt Lớp 1 Công nghệ Giáo dục rộ lên hồi đầu năm học mới, niên học 2018-2019. Không ít phụ huynh lên tiếng với RFA rằng tiếng mẹ đẻ mà còn không dạy đúng thì họ không thể nào tin tưởng con em của mình sẽ được học những điều hay lẽ phải để làm người.

Vào chiều ngày 3 tháng 11, Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, trong buổi gặp mặt 55 học sinh tiêu biểu ngành giáo dục năm học 2017-2018, đã tuyên bố “Mặc dù nền giáo dục vẫn còn những hạn chế, xã hội còn nhiều mong muốn nhưng nhìn tổng thể giáo dục của chúng ta chưa bao giờ được như bây giờ”.

Qua lời phát biểu vừa nêu, một số trí thức và các chuyên gia giáo dục mà Đài RFA có dịp trao đổi cùng nhận định Luật Giáo dục sửa đổi dù như thế nào thì giáo dục của Việt Nam vẫn mãi tụt hậu với tư tưởng quá lạc quan của ông của ông Nguyễn Phú Trọng.

Hòa Ái phóng viên RFA
2018-11-06

Cách học bằng thông tin đa chiều là như thế nào?

Ở Mỹ các loại Sách giáo khoa, tất nhiên cả sách giáo khoa lịch sử đều do dân thường viết, chính phủ không được can thiệp, việc này nhằm để không cho chính phủ nhồi sọ học sinh, sinh viên theo chiều hướng có lợi cho chính phủ.

Giáo viên – người trực tiếp dạy có thể chọn bất kì tài liệu, sách báo nào do bất kì ai viết để dạy cho học sinh… và giáo viên cũng cho phép các học trò tìm hiểu những nguồn thông tin khác, đưa ra quan điểm khác, tranh luận ngược lại với giáo viên để thầy và trò cùng đưa ra kết luận cuối cùng. Việc dám nghĩ khác được giáo viên, trường lớp khuyến khích và cho học sinh cơ hội chứng minh chứ không ai chê cười hay cấm cản.


Mình mong 1 ngày không xa trong 1 lớp học ở Việt Nam cô giáo mở đầu bài giảng sẽ nói “Nhân vật lịch sử X đc sử gia A nhận xét như thế này… nhưng học giả B lại có nhận định khác. Hôm nay lớp chúng ta sẽ xem xét cả 2 quan điểm này để coi ai đúng hơn”

Việc học và dạy như vậy rất thú vị và nó khiến cho học sinh nhớ dai, nâng cao tư duy và rèn luyện cách suy luận, phân tích, kiểm chứng, phản biện; giúp học sinh khó bị mắc lừa sau này khi ra xã hội. Đây cũng là bệ phóng để phát huy sự sáng tạo, trí óc tưởng tượng, khả năng tìm tòi khám phá của con người

Tại sao Mỹ – Âu luôn tìm tòi, phát minh ra những điều hay, mới lạ phục vụ nhân loại… đó là họ nhờ 1 nền giáo dục tiến bộ, dám cho học sinh nghĩ khác như vậy. Các học sinh chắc vẫn còn nhớ câu chuyện Galileo, cả 1 thế giới tin vào thông tin 1 chiều “trái đất hình vuông” đã xử chết Galileo vì ông “dám nghĩ khác” rằng trái đất hình cầu.

Cô giáo Huỳnh Thị Xuân Mai