Đạo diễn, giảng viên trường đại học Sân khấu điện ảnh bị hành hung dã man

ĐẠO DIỄN- GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH BỊ HÀNH HUNG DÃ MAN
Một đạo diễn, giảng viên trường đại học Sân khấu và điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh bị Công an Cần Thơ hành hung dã man vô cớ. Hiện anh Đặng Quốc Việt đang chuyển từ thành phố Châu Đốc về Bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đã xác minh qua vợ anh. Nhân danh một biên kịch tôi lên tiếng để bảo vệ đồng nghiệp của mình. Đề nghị các báo đài, cơ quan pháp luật tra cứu đơn đặng có những hành động thiết thực bảo vệ một con người bị oan khuất. Tôi coi đây là một tội ác cần phải được ngăn chặn. Tội ác không bị trừng trị tội ác sẽ sinh sôi!

***********************************************************
Đây là đơn cầu cứu của Đạo diễn Đặng Quốc Việt.

CỘNG HÒA XÃ HÔI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do-Hạnh phúc
ĐƠN XIN CẦU CỨU

Kính gởi :
Ông Đặng Xuân Hải Chủ Tịch Hội Điện Ảnh Việt Nam
Bà Dương Cẩm Thúy Chủ Tịch Hội Điện Ảnh Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Vũ Ngọc Thanh Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Phạm Ngọc Tuấn Trưởng phòng thông tin bạn đọc, báo nhân đạo & đời sống cơ quan đại diện phía Nam
Tòa soạn Zing
Tòa soạn Người Lao Động
Tòa soạn Báo Thanh Niên
Tòa soạn Báo Tuổi Trẻ
Tòa soạn Báo Pháp Luật
Tòa soạn Báo Phụ Nữ
Tòa soạn Báo Sài Gòn Giải Phóng
Tòa soạn Báo Văn Hóa Thể Thao
Tòa soạn Báo Công An Nhân Dân
Tòa soạn Báo Văn Hóa
Tòa soạn Báo Tạp chí Điện ành
Tòa soạn VOV ( phòng công tác xà hội bạn nghe đài – PV Phương Nam )
Đài truyền hình VTV
Đài truyền hình HTV
Đài truyền hình ANTV
Đài truyền hình Nhân Dân
Đài truyền hình Quốc Hội
Đài truyền hình VTV9

Tôi tên : Đặng Quốc Việt 23-03 -1972 Nguyên Quán Hội An Quảng Nam
Chứng minh nhân dân : 024307264 Cấp 11-11-2011 Thành phố Hồ Chí Minh
Thường trú 595/60 Nguyễn Đình Chiểu P2 – Q3 – Thành phố Hồ Chí Minh
Là hội viên Hội Điện Ảnh Việt Nam- hội viên Hội Điện Ảnh Thành phố Hồ Chí Minh
Cán bộ Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh
Nghề nghiệp: Giảng viên Trường Đại Học Sân Khấu Điện Ảnh
Tôi xin tường trình sự việc như sau: ngày 09/11/2018 tôi đến Thành Phố Cần Thơ thuộc quận Ninh Kiều với mục đích chụp hình và chọn bối cảnh trong bộ phim 12H (dự trại sáng tác Tam Đảo 2018) do Hội Điện ảnh Việt Nam tổ chức .

Hãng phim Sơn An sản xuất vào năm 2019
Tôi có thuê một người xe ôm tên thường gọi là Thành
Phan Trung Tính – Sinh :1975 Thành phố Cần Thơ – Chứng minh nhân dân 362308599 – ĐT 0914206742

Chở tôi đi vòng quanh chọn cảnh với giá 300.000đ/1 ngày..Khi tôi đi đến cầu Quang Trung thuộc Thành phố Cần Thơ đang đứng trên cầu chụp hình thì có một nhóm người ập tới áp chế tôi bắn súng và đánh tôi ,tôi chưa biết chuyện gì xảy ra, sau một hồi giằng co họ đè tôi xuống đất còng tay tôi và áp giải tôi về Công An Thành phố Cần Thơ trên đường đi tôi có bảo tôi bị mất tài sản gồm

( Một đôi kiến Raypan madein USA Trị giá 600 USD & 150.000.000 Việt Nam Đồng + 300 USD) Mong các anh cho tôi quay lại vị trí bị bắt để tìm nhưng mọi lời khẩn cầu tôi đều vô nghĩa . Khi đưa tôi về đến đồn Công an Thành phố Cần Thơ cùng với anh xe ôm ,họ ép và đánh đạnh tôi và bắt tôi khai có tang trữ ma túy ( gồm có 8 người tra khảo ) họ luôn miệng ép tôi và chữi thề văng tục với một người chiến sĩ Công An mà trình độ văn hóa nói chuyện với một Giảng viên như tôi họ dùng nắm đấm và chửi thề khi tôi không hề dính liếu và không hề biết gì .

Tôi có nói tôi bị bệnh Tim mảng tình cừ đến giờ trưa tôi phải uống thuốc, hiện giờ tôi khó thở mong các anh cho tôi về khách sạn để lấy thuốc nhưng lời đề nghị tôi không được thực hiện . 12h30 9-11-2018 tôi lên cơn đau không thở được , họ cháp nhận đưa tôi đến bệnh viện Thành phố Cần Thơ ,tôi bảo cho tôi vào cấp cứu anh chiến sĩ Công an nói (Đụ má mày , mày ngồi yên tao đưa đi đâu thì đi câm cái miệng lại ) và cuối cùng anh chiến sĩ Công An đưa tôi vào khu khám bệnh ,nhưng khu khám bệnh 13h30 mới làm việc trong lúc ngồi đợi khám tôi tiếp tục lên cơn đau & tôi yêu cầu cho tôi đi tiểu trong lúc tay tôi bị còng nhưng không được đáp ứng mãi đến 14h00 mới đưa tôi vào phòng khám trong lúc này tôi không thể nhịn tiểu được cuối cùng tôi phải đái trong quần tại chổ. Cùng lúc Bác sĩ yêu cầu đưa tôi lên phòng cấp cứu, Bác sĩ hỏi chiến sĩ Công an tôi là ai? Được chiến sĩ Công an nói với Bác sĩ tôi là phạm nhân đặc biệt nên cần còng tay & canh gác cẩn mật. Các y Bác sĩ đã siêu âm ,thử máu ,thử nước tiểu, chụp phim phổi kết quả phổi tôi bị chấn thương do bị đánh. 16h00 tôi xin liện lạc với người thân để mua thức ăn nhưng không được các chiến sĩ Công An không đám ứng. Tôi quá mệt và ngủ đến 22h00.

Tôi bị viêm phổi do đánh đập từ nhiều người và xây xát bên vai phải khó thở họ vẫn liên tục chữi thề nhục mạ danh dự thầy Giáo và nghề Nhà báo của tôi. Sau 22 giờ cùng ngày không tìm được chứng cứ họ áp tải tôi về Công An phường Xuân Khánh Thành phố Cần Thơ, tay tôi vẫn bị còng. Về đến phường Xuân Khánh họ tiếp tục hỏi cung tôi với nhiều thành phần Công An khác nhau và thử một lần nước tiểu vẫn kết quả Âm tính với Ma túy.

Cuối cùng vào 00h30” sáng 10-11-2108 Công An phường Xuân Khánh lập biên bản tạm giữ tang vật cây gậy ba khúc đã qua xử dụng ( gậy này tôi có nói là đạo cụ diễn xuất của tôi ) như họ vẫn quyết định tạm giữ . Biên bản số : 0013421/ BB-TGTVPTGPCC Quyển số : 0269 Người lập biên bản Phó trưởng CA phường Xuân Khánh Thành phố Cần Thơ Nguyễn Thành Bé

Khi các xét nghiệm cho thấy tôi không dương tính với ma túy họ thả tôi ra và không có một lời xin lổi hay mua thuốc cho tôi uống khi họ vừa đánh đập tôi ,và không có một câu trả lời thỏa đáng. Mặc dù có rất nhiều người dân tại Quận Ninh Kiều chứng kiến họ nói đây là khách du lịch vừa xuống thuê xe đi chụp hình chứ không liên quan đến việc Ma túy nhưng Công An hình sự Thành phố Cần Thơ vẫn không chấp nhận & hành xử tôi như một phạm nhân thực thụ không cho tôi giao dịch hay liên lạc với người thân , không cho ăn uống , không cho tiêu tiện,bắt tôi đi tiểu trong quần tại chỗ.

Hiện tại sức khỏe tôi kém khó thở,tức ngực do bị đánh. Nay tôi về Thành phố Châu Đốc và được bác sĩ chuyên khoa tại đây chỉ đinh nhập viện trong tình trạng đa chấn thương do ngoại lực bên ngoài.

Nay tôi làm đơn này xin quí cơ quan truyền thông tìm lại sự công bằng cho Tôi

Giúp tôi giải quyết vụ việc trên và tìm lại tài sản Tôi đánh mất .Là một công dân tại sao tôi lại bị hành xử như vậy?Công An Nhân Dân vì nước quên thân vì dân phục vụ:tại sao đánh dân và chữi dân như giang hồ xã hội đen không cần lý do.

Kính mong quí cơ quan, chia sẽ & tìm lại công bằng cho Tôi.số tài sản bị mất do tính chất đặc thù của công việc điện ành nên không thể mất được đạo cụ diễn xuất.
Tôi xin thành thật biết ơn .

Người trình đơn
Đạo Diễn – Đặng Quốc Việt – Điện Thoại : 0918 84 42 42

46005708_2027250254000607_2588852831142281216_o

Giới thiệu phòng khám Đông y gia truyền Chân Thiện Nhẫn

Phòng khám gồm các bác sĩ giỏi của đại học y Hà Nội, khám tận nhà cho bệnh nhân. Phụ trách chính: bác sĩ y học cổ truyền Đỗ Thiện Duy- tốt nghiệp đại học y Hà Nội. Các bác sĩ đến tận nhà bệnh nhân ở Hà Nội để chữa cho bệnh nhân, dựa vào những tinh hoa của vạn vật để chiết xuất ra phương thuốc điều trị bách bệnh.

Đặc biệt, các bác sĩ trong phòng khám có cách để giúp đỡ các bệnh nhân nghèo. Phòng khám không tuyên truyền chính trị hay tôn giáo.

Điện thoại : 091 495 6226 hoặc 084 777 4111

Website: nhansinhduong.com

Email:     nhansinhduong@gmail.com

Link fanpage facebook của Phòng khám: https://www.facebook.com/pg/ChanThienNhan.DongYGiaTruyen

Bài viết thuộc Chương trình giới thiệu phúc lợi xã hội do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam đồng tổ chức.

Tổng Liên đoàn Lao công: một tham khảo cho tổ chức công đoàn độc lập

Ở miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, quyền lập hội được tôn trọng, trong đó có quyền tự do nghiệp đoàn. Thời kỳ đó có hàng trăm nghiệp đoàn đủ các ngành nghề được thành lập, và tham gia vào các hệ thống nghiệp đoàn khác nhau, trong đó đáng chú ý là tổ chức Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam thành lập năm 1952, với Chủ tịch Trần Quốc Bửu.
Tuy nhiên, do hạn chế tiếp cận tư liệu của Viện Lưu trữ Quốc gia, nên người viết không có nhiều tài liệu về Tổng Liên đoàn Lao công. Chỉ biết là có rất nhiều đảng viên đảng cộng sản Việt Nam từng giữ các chức vụ điều hành trong tổ chức này.
Bài viết là nằm trong chuỗi ghi nhận mang tính tham khảo cho ý tưởng hình thành các nghiệp đoàn khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương [Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP] có hiệu lực thi hành.
Chính phủ đặt trọn niềm tin vào người cần lao
Ghi nhận từ một số cựu công chức cao niên của chế độ Việt Nam Cộng Hòa hiện đang sinh sống tại Sài Gòn, thì cả tổng thống Ngô Đình Diệm đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đều chung quan điểm là những người lao động làm công ăn lương vốn dĩ đã gắn bó với đất nước, nên họ không ước mong gì hơn là có được tổ chức công đoàn tốt, bảo vệ được quyền lợi của họ và đóng góp vào sự phát triển ổn định bền vững của đất nước.
Do vậy hai vị tổng thống lần lượt của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều đặt niềm tin vào người dân của mình, vào những người lao động qua việc tạo mọi điều kiện tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn.
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam (lao công ở đây được hiểu bao gồm cả người thợ, người buôn bán và những tá điền nghèo khổ), có trụ sở nằm ở số 14 đại lộ Lê Văn Duyệt (đường Verdun cũ, nay là Cách Mạng Tháng Tám, trụ sở của Liên đoàn Lao động TP.HCM, phường Bến Thành, quận 1) trong một tòa nhà kiếng lớn, nóc nhọn thềm cao, kiến trúc theo kiểu Pháp, trước kia là trụ sở của Câu lạc bộ Thể Thao Đông Dương. Biểu tượng của Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam là bánh xe răng và đầu con trâu.
Nói thêm, sau tháng 4-1975, trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam được mang tên Liên đoàn Lao động giải phóng Sài Gòn. Đầu tháng 6-1976, Hội nghị Thống nhất Công đoàn toàn quốc đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam – Bắc thành Tổng Công đoàn Việt Nam. Cũng nói thêm, ông Văn Bá Tài (sinh năm 1955), cựu giám đốc Công ty cổ phần Du lịch Công đoàn, người từng sống với thân mẫu lúc ông 12 tuổi đến tháng 4-1975 ngay tại trụ sở Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam trước đây, được xem là người khá am tường mọi hoạt động của tổ chức này, tuy nhiên người viết chưa tiếp xúc được với ông.
Những người cộng sản từng tham gia điều hành
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam còn mở rộng phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố ở miền Nam Việt Nam. Tài liệu của tỉnh ủy Trà Vinh cho biết, ông Võ Văn Lực, tức Sáu Lực, nguyên Huyện ủy viên Càng Long, từng là Chủ tịch Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh (thành lập vào năm 1955), trực thuộcTổng Liên đoàn Lao công Việt Nam.
Như vậy có thể thấy rõ rằng khi ấy có sự tương đồng nhau về ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của người lao động ở cả hai tổ chức Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa, với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam của chính quyền Hà Nội [có giai đoạn từ 1961-1988 mang tên Tổng Công đoàn Việt Nam]. Điểm khác biệt duy nhất là Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam không phụ thuộc vào đảng phái chính trị, mà chỉ vì quyền lợi của người lao động cần lao.
Chính lẽ đó nên mới có chuyện Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh từng tổ chức biểu tình phản đối chính phủ của ông Ngô Đình Diệm.
Tài liệu của tỉnh ủy Trà Vinh cũng cho biết Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh đã thành lập các Nghiệp đoàn thợ bạc, Nghiệp đoàn giáo chức, Nghiệp đoàn chài lưới, Nghiệp đoàn thợ mộc, Nghiệp đoàn mua bán, Nghiệp đoàn tiểu thương, Nghiệp đoàn mua gánh bán bưng, Nghiệp đoàn nông dân, Nghiệp đoàn xe lam, Nghiệp đoàn khuân vác, Nghiệp đoàn xe lôi, Nghiệp đoàn mua bán vải…
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam có tờ báo mang tên Công Nhân do ký giả Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm, tòa soạn tại số 216 Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng), Sài Gòn.
Kế thừa để phát triển
Người viết nghĩ rằng Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể lịch sử. Thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa như nó đã tồn tại, chúng ta sẽ làm giàu có thêm cho dân tộc vì đã có một nền giáo dục, một nền văn học, pháp chế, kinh tế… mà ngày nay cần nghiên cứu để thừa kế những giá trị và gạt bỏ những khuyết điểm, những yếu kém.
Nói một cách khác, thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Và loạt bài tìm hiểu về hình thành nghiệp đoàn, công đoàn thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa, là một tham khảo ít nhiều hữu ích cho vấn đề công đoàn độc lập trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP.

Cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai: viết cho ngày hiến chương các nhà giáo

 

Còn hơn chục ngày nữa Việt Nam  sẽ kỷ niệm ngày hiến chương các nhà giáo .

Chưa bao giờ nền giáo dục Việt Nam lại vô giáo dục như thời điểm hiện tại . Trước đây , tôi được may mắn học dưới mái trường Việt Nam Cộng Hòa . Thầy cô lên lớp tác phong chuẩn mực . Thầy giáo bỏ áo vào quần , trang phục của cô giáo luôn là chiếc áo dài .

Ngoài việc trau dồi kiến thức , chúng tôi còn được dạy bảo đạo đức , bản thân tôi cũng từng bị phạt khẻ tay khi viết chữ xấu hay một đứa con trai bị phạt quì khi không nghe giảng …. Mức độ phạt chỉ dừng đến đó . Thế nhưng 2 từ thầy cô vẫn được phụ huynh và học sinh gọi một cách trân trọng

Thảm cảnh của nền giáo dục Việt Nam thời hiện tại . Càng ngày càng xảy ra hàng loạt việc bức xúc cho toàn xã hội , các thầy cô là người trau dồi đạo đức kiến thức cho các em mà hành xử không thua gì bọn xã hội đen . Thầy giáo đem dao vô trường rượt đánh giáo viên nữ . Cô giáo thì đập đầu học sinh vô tường chỉ vì tội vẽ bậy lên tường …. Và còn nhiều rất nhiều vụ việc đã xảy ra mà chúng ta đã biết . Đạo đức nghề giáo ngày càng bị tha hóa , nhân cách giáo viên ngày càng bệ rạc .

Nhà dột từ nóc dột xuống , liệu tương lai con cháu chúng ta sẽ ra sao khi chúng trực tiếp chịu ảnh hưởng môi trường vô giáo dục từ các hành vi của thầy cô giáo thời hiện nay .

Ngày xưa đi học , đâu cần phải có ngày hiến chương các nhà giáo , mà phụ huynh lẫn học trò luôn tôn trọng thầy cô hết mực . Hiện nay , càng lễ lớn càng phải có quà cáp , phong bì lót tay cho giáo viên .

Ở các quốc gia trên thế giới , họ đều lấy nền giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. Riêng Việt Nam ta một trong những thành tựu lớn nhất của ngành giáo dục là nhân cách suy đồi , đạo đức xuống cấp của những thầy cô qua hành động vô giáo dục của họ .

Tạ ơn người đứng đầu ngành giáo dục là ông bộ trưởng Nhạ , nhờ ông mà tôi đã biết thêm giáo viên ngoài chuyên môn đứng lớp còn có nghề làm thêm đi ” TIẾP KHÁCH “, giáo viên nam rượt đánh giáo viên nữ không thua gì film kiếm hiệp . Cô giáo đập đầu học sinh vô tường dẫn đến chấn thương đã được cô hiệu phó bao che …. Ôi nền giáo dục Việt Nam sau 43 năm giải phóng đã biến thành một đống rác thải không hơn không kém .

Viết bởi cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai- thân hữu Nha Trang của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam

Vì sao công nhân đình công?

Viết bởi tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Hai nhà nghiên cứu từ đại học Pennsylvania xem xét các tiền đề liên hệ đến việc đình công ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2010-2012, dùng dữ liệu từ kiểm toán các doanh nghiệp nầy và thu thập dử liệu bằng cách viếng thăm và làm việc với quản trị của các doanh nghiệp (1).

 

 

Các cuộc đình công đột khởi phổ biến hơn ở các doanh nghiệp có công đoàn, bởi vì sự có mặt của công đoàn tại nơi làm việc được xem là một tín hiệu cho công nhân bị chèn ép là nếu họ tự tổ chức đình công, họ có thể thúc đẩy nhân viên công đoàn phải làm nghiệm vụ của công đoàn, nghĩa là thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ quyền lợi của công nhân. Công nhân có thể tạo áp lực từ bên dưới qua tổ chức các cuộc đình công để đẩy các công đoàn phải hành động thay mặt họ. Ngoài ra, đình công đột khởi thường nhiều hơn ở i) các doanh nghiệp với 100% vốn nước ngoài, ii) đầu tư của các doanh nghiệp châu Á, và iii) hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp, so sánh với các i) liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, ii) các doanh nghiệp thuộc sở hữu của các nhà đầu tư phương Tây, và iii) các doanh nghiệp trong các hoạt động có giá trị bổ sung cao (value-added activities). Kết quả thống kê và nghiên cứu tại chỗ cung cấp dữ liệu hỗ trợ đáng kể cho những dự đoán nầy.

Những phát hiện từ nghiên cứu này cho thấy vai trò của các tổ chức công đoàn ở các nước xã hội chủ nghĩa có thể có nhiều sắc thái hơn so với giả định trước đây. Đồng thời, các phát hiện nầy củng cố những điều đã rõ ràng trong xã hội dân sự, có nghĩa là các cơ cấu của đảng tổ chức với nhiệm vụ lo cho người lao động nhưng các tổ chức nầy không chú tâm đến những chèn ép quyền lợi và điều kiện làm việc của người lao động, và các tổ chức nầy không có khả năng đại diện cho công nhân, và không hiểu cách nào để giải quyết xung đột giữa người lao động và chủ doanh nghiệp.

Để hiểu được các tổ chức quan hệ lao động, việc đầu tiên cần nhấn mạnh rằng Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản Việt Nam cai trị. Nhà nước do đảng lãnh đạo đặt ra một hệ thống phân cấp các mục tiêu, bao gồm ổn định chính trị, phát triển kinh tế và nếu được thì bảo vệ lao động. Tăng trưởng kinh tế với sự ổn định chính trị là cốt lõi của các mục tiêu này, và bảo hộ lao động là xếp hàng thứ hai. Tuy nhiên, đảng cũng biết rằng nếu điều kiện lao động xấu đi và người lao động đột khởi các cuộc đình công, dẫn đến tình trạng bất ổn và đe dọa ổn định chính trị. Trong tình huống này, việc đảng muốn phát triển kinh tế là thứ yếu so với tiêu chí duy trì sự ổn định chính trị. Kết quả là, các thành viên chính thức của nhà nước (các nhà lãnh đạo công đoàn, đại diện chính phủ và các quan chức đảng) có thể buộc phải quản lý và giám sát việc doanh nghiệp có thể vi pham luật lao động và buộc phải thận trọng xử lý các khiếu nại của người lao động để tránh việc người lao động tự tổ chức nghiệp đoàn và đấu tranh tập thể. Điều này liên quan đến việc các thành viên chính thức của nhà nước buộc phải miễn cưỡng hỗ trợ một ít yêu cầu của công nhân để họ khỏi đình công. Một đại diện quản lý doanh nghiệp lưu ý, “[O] bề mặt nó [chính phủ Việt Nam] có vẻ như ởm ờ về việc doanh nghiệp tuân thủ luật lao động, nhưng bất cứ khi nào có đình công, nó trở thành một hòa giải viên và ép các doanh nghiệp chấp nhận nhu cầu của người lao động”.

Trong bối cảnh này, các đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL), những người lấy tín hiệu từ đảng, có thể thẳng thắn khi họ chỉ trích doanh nghiệp tư nhân về điều kiện làm việc của công nhân. Họ cũng có thể nhìn nhận là chính công đoàn của họ và nhà nước thiếu khả năng để giải quyết các xung đột giữa công nhân và doanh nghiệp. Họ có thể chấp nhận quyền đình công của công nhân và có thể tham gia tích cực với công nhân đình công ở nhiều cấp doanh nghiệp mà một phần là để họ chủ đạo trong giải quyết các vấn đề xung đột một cách nhanh chóng.(1) Mục tiêu của họ không phải là bảo vệ quyền của công nhân nhưng là để ngăn chặn sự bất mãn của công nhân khiến vụ việc có thể leo thang thành sự cố hàng loạt các cuộc đình công hoặc các hình thức bất ổn xã hội rộng lớn khác.

Mô hình năng động trong viêc đột khởi đình công

Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng mặc dù công đoàn không giải quyết đầy đủ nhu cầu bảo vệ người lao động, vai trò và trách nhiệm trong việc giảm thiểu các xung đột tại nơi làm việc thường buộc họ phải tham gia vào thương lượng tập thể trong trường hợp có xung đột quyền lợi giữa công nhân và doanh nghiệp. Sự hiện diện của một công đoàn do đó tạo thành một tín hiệu cho các công nhân rằng nếu họ tổ chức đình công, công đoàn sẽ có nghĩa vụ phải bước vào và cung cấp các phương tiện để bảo vệ công nhân.

Trong mô hình báo hiệu đình công mà tác giả phát họa (xin xem hình 1), người lao động trở thành diễn viên thứ tư bởi vì họ hành động tách biệt với công đoàn trong các tương tác ba bên bao gồm 1) người lao động, 2) doanh nghiệp và 3) nhà nước. Các cuộc phỏng vấn của tác giả với các công đoàn viên, người tuyển dụng, và nhân viên nhà nước giám sát công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong năm 2011 và 2014 chứng thực luận cứ này. Những người được phỏng vấn thường đề cập đến công đoàn không phải là “đại diện công nhân” mà là “cầu nối” giữa công nhân và quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy, công nhân đóng vai trò độc lập khi công đoàn không đại diện công nhân.

Imga 1.png
Hình 1. Mô hình về tín hiệu cho việc công nhân tự tổ chức nghiệp đoàn và đình công (2)

Hình 1 minh họa các mối quan hệ về đột khởi đình công khi quyền lợi công nhân bị vi phạm. Ở trên cùng là đảng mà trên danh nghĩa là phải đứng về phía người lao động – sự hiện diện của đảng là một tín hiệu cho công nhân đứng lên tổ chức các nghiệp đoàn (tín hiệu “i” trong hình 1). Trong động lực này, những người lao động, không phải là công đoàn, phải đứng vào vị thế những người chịu rủi ro và tổ chức hành động, nhưng các hoạt động nầy là không hoàn toàn hợp pháp, và các nhà lãnh đạo không thể hoàn toàn xuất hiện và phát biểu thẳng thắng bởi vì đảng sẽ tìm cách đàn áp họ.

Trong khi các tín hiệu về đình công là cơ chế giao tiếp không chính thức, trong mô hình trong hình 1, các tín hiệu nầy không phải lúc nào cũng bí mật. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hạn chế khả năng của công đoàn để tổ chức và chỉ đạo đình công. Nhưng khi công nhân bày tỏ mối quan ngại với đại diện công đoàn về cách hành xử của doanh nghiệp, người đại diện có thể ngấm ngầm đề nghị rằng nếu công nhân bắt đầu tổ chức và bắt đầu đình công, thì công đoàn có thể bước vào cuộc đàm phán thay cho họ. Ở đây thông điệp là rõ ràng, nhưng nó vẫn được truyền đạt một cách không chính thức. Như một người quan sát lao động Việt Nam đã lưu ý, “Đôi khi, những người ném đá đầu tiên giấu tay.” Ông nói thêm, “Đôi khi thành viên công đoàn cơ sở là những người ném đá bằng cách đề nghị công nhân đình công.” Công đoàn sau đó đứng ra thương lượng một giải pháp cho cuộc đình công trong khi không bao giờ thừa nhận vai trò của họ trong việc khởi động cuộc đình công một cách chính thức. Dưới sự “lãnh đạo” của đảng như vậy, công đoàn không hoàn toàn bỏ sức vào việc bảo vệ cho công nhân. Nghiên cứu thực địa của tác giả chỉ ra rằng tín hiệu tự phát mà công nhân tự tổ chức trong bối cảnh năng động trong hình 1 là phổ biến hơn tín hiệu ngầm từ công đoàn. Thường xuyên hơn, những người lao động, nhìn thấy sự hiện diện của một công đoàn như cung cấp một cơ hội, thúc đẩy công đoàn hành động từ bên dưới thông qua hành động phát khởi cuộc đình công để bảo vệ quyền lợi của họ (tín hiệu “ii” trong hình 1).

Phương pháp và dữ liệu  

Dữ liệu của tác giả đến từ các cuộc điều tra hàng năm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện bởi Chỉ Số Cạnh Tranh cấp tỉnh của Việt Nam (CSCT) từ năm 2010 đến năm 2012. Mỗi năm, mẫu khảo sát được gửi đến tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký chính thức tại 63 tỉnh thành của Việt Nam, phân tầng theo quy mô, khu vực công nghiệp và hình thức pháp lý. Khung lấy mẫu bao gồm khoảng 45% toàn bộ dân số, làm cho CSCT trở thành cuộc khảo sát đầu tư nước ngoài lớn nhất và toàn diện nhất. Hầu hết các công ty tham gia hoàn thành cuộc khảo sát qua phỏng vấn bằng điện thoại (54,2%), trong khi các công ty khác hoàn thành khảo sát bằng giấy (29,1%) hoặc điện tử (16,7%). Những người trả lời được báo rằng nhóm khảo sát sẽ duy trì tính bí mật của câu trả lời của họ và chính quyền địa phương sẽ không có quyền truy cập vào các phản hồi khảo sát riêng lẻ. Tỷ lệ phản hồi tổng thể là 31% trong năm 2010, 35% vào năm 2011 và 25% vào năm 2012.

Hãng ngoi quc Liên doanh vi hãng quc doanh Liên doanh vi công ty tư VN Công ty trong lĩnh vc sn xut Công ty trong lĩnh vc phi sn xut 2010 2011 2012
Squan sát 3245 152 279 2439 1504 946 1667 1330
Đình công (%) 16,8 (37,4) 1,3 (11,4) 6,1 (24,0) 20,5 (40,4) 5,1 (22,0) 17,1 (37,7) 14,5 (33,2) 13,1 (33,7)
Công đoàn 62,9 (48,3) 86,8 (33,9) 62,4 (48,5) 73,4 (44,2) 46,9 (50,0) 59,1 (49,2) 63,6 (48,1) 65,9 (47,4)
Tha thun tp th 24,8 (43,2) 45,4 (50,0) 17,6 (38,1) 29,3 (45,5) 18,3 (38,7) 39,7 (49,0) 19,9 (39,9) 21,1 (40,8)

Bảng 1. Các cuộc đình công (2010-2012) và cơ chế công đoàn theo đặc điểm của doanh nghiệp

Bị chú: Các số là trung bình và độ lệch chuẩn

Kết quả

Bảng 1 báo cáo số liệu thống kê mô tả giữa các biến số của bài nghiên cứu. Khoảng 14,6% doanh nghiệp đã trải qua ít nhất một cuộc đình công lao động hoặc ngừng việc trong ba năm qua. Cụ thể hơn, 437 doanh nghiệp báo cáo rằng họ đã trải qua một cuộc đình công (11,1%), 82 đã có hai cuộc đình công (2,1%), và 58 có ba đình công hoặc nhiều hơn (1,5%). Các cuộc đình công là phổ biến nhất trong các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (16,8%), tiếp theo là các liên doanh với doanh nghiệp tư nhân (6,1%) và các doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp quốc doanh (1,3%). Hơn nữa, các cuộc đình công diễn ra thường xuyên hơn trong lĩnh vực sản xuất (20,5%) so với khu vực phi sản xuất (5,1%).

Cụ thể, các doanh nghiệp có công đoàn có tỷ lệ cao hơn 4,0% so với các doanh nghiệp không có công đoàn (p <0,01). Ở mức trung bình mẫu là 14,6%, mức tuyệt đối 4% này cho thấy mức tăng tương đối 27% về khả năng bị đình công. Tương tự, các doanh nghiệp có các quá trình thương lượng tập thể có cơ hội đình công cao hơn 3,7% so với các doanh nghiệp không có các quá trình nầy (p <0,01), tương đương với một mức tăng tương đối là 25% trong khả năng có đình công.

Các doanh nghiệp được ban quản lý khu công nghiệp cấp phép có cơ hội đình công cao hơn 2,8% so với các cơ quan cấp phép của trung ương hoặc tỉnh (p <0,01). Đối với nước xuất vốn đầu tư, so với doanh nghiệp với đầu tư từ nền kinh tế thị trường tự do, doanh nghiệp với đầu tư từ Đông Nam Á có cơ hội đình công cao hơn (13,8%, p <0,01), tiếp theo là doanh nghiệp thuộc sở hữu tư bản Đông Á (8,5%, p <0,10) và các doanh nghiệp có trụ sở chính tại Việt Nam (2,6%, p <0,10). So với liên doanh với công nghiệp quốc doanh, các công ty 100% vốn nước ngoài có 7,0% cơ hội đình công cao hơn (p <0,01), và liên doanh với doanh nghiệp tư nhân có 6,1% cao hơn về cơ hội đình công (p <0,10).

Tác giả cũng xét nghiệm liệu các doanh nghiệp có nhiều công nhân nữ hơn có nhiều đình công hơn hay không. Kết quả chỉ ra rằng nếu tỷ lệ lao động nữ tăng 10%, khả năng xảy ra các cuộc đình công tăng 0,1% (p <0,01). Doanh nghiệp có thêm một năm hoạt động có liên quan đến cơ hội đình công thấp hơn 0,4% (p <0,01). Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động lâu dài tại Việt Nam có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc giải quyết các vấn đề về quan hệ lao động và do đó có thể giải quyết được mối quan tâm của công nhân trước khi họ phải tiến đến dùng đình công. Các công ty có lực lượng lao động với quy mô lớn hơn có cơ hội đình công cao hơn. Tỷ lệ đình công cũng khác nhau giữa các ngành. Xác suất có đình công là cao nhất trong lĩnh vực sản xuất, tiếp theo là ngành xây dựng. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ và nông nghiệp ít có khả năng bị đình công. Các cuộc đình công ít có khả năng xảy ra ở các doanh nghiệp ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh so với các doanh nghiệp ở các tỉnh khác. Điều này có thể là do các tỉnh có khả năng kiểm soát ít hơn các thành phố lớn. Cũng có thể vì mức lương tối thiểu được đặt cao hơn ở vùng 1, bao gồm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, so với ba khu vực khác của đất nước.

Thảo luận

Trong nghiên cứu này, tác giả cung cấp dử liệu có hiệu lực cho lập luận rằng người lao động có nhiều khả năng tổ chức đình công tại các nơi làm việc có công đoàn vì các cuộc đình công nầy có thể đẩy các công đoàn từ bên dưới để các công đoàn nầy thực hiện vai trò đại diện của họ, và buộc công đoàn phải đứng ra thương lượng với doanh nghiệp phù hợp với lợi ích cho người lao động. Ngoài ra, các cuộc đình công có nhiều khả năng xảy ra ở các công ty có thoả ước thương lượng tập thể về lao động, các công ty hoạt động trong khu công nghiệp, các công ty thuộc sở hữu tư nhân và các doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nữ cao. Các cuộc đình công có nhiều khả năng xảy ra ở các công ty với vốn đầu tư từ các nước Đông Nam Á và Đông Á. Làn sóng các cuộc đình công nhắm vào các nhà máy Trung Quốc và các nhà máy châu Á khác vào tháng 5 năm 2014 chắc chắn có thể là do động thái chống Trung Quốc khi nước nầy vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Nhưng kết quả nghiên cứu nầy cũng cho thấy sự bất mãn về điều kiện làm việc và phong cách quản lý trong các nhà máy này là những yếu tố góp phần vào sự đột khởi của các cuộc đình công.

Đáng chú ý nhất, nghiên cứu nầy chỉ ra một cách khác để khái niệm hóa các cuộc đình công và sự tương tác của công nhân tham gia vào đình công với các tổ chức quan hệ lao động. Bởi vì người lao động không thể gây áp lực lên doanh nghiệp bằng các kênh truyền thông thông thường và không thể tin tưởng vào công đoàn để bảo vệ quyền lợi của người lao động, công nhân phải sử dụng các cuộc đình công đột biến một phần như một cách để thúc đẩy và vận động các công đoàn thương lượng hoặc công khai trong việc đại diện cho quyền lợi của họ. Tương tự như vậy, những phát hiện này hướng tới một cách mới để khái niệm hóa vai trò của các công đoàn quốc doanh trong một nước bị ràng buộc bởi đảng cộng sản. Mặc dù các công đoàn này chịu lệnh trực tiếp của đảng, các công đoàn nầy không thể được coi là hoàn toàn theo đảng. Nghiên cứu nầy cho thấy một số công đoàn có ảnh hưởng trong việc khuếch tán, khuyến khích sự đột khởi đình công, và đóng góp trực tiếp hoặc ngấm ngầm giải quyết nhu cầu tập thể của người lao động. Dử liệu từ bài nầy cho thấy sự năng động của công đoàn và làm sao công nhân có thể tự tổ chức nghiệp đoàn độc lập, hay thúc đẩy và liên kết với các thành phần cấp tiến của công đoàn để tổng cộng có các hoạt động hữu hiệu cho người lao động, thúc đẩy các công đoàn hành động bên ngoài ảnh hưởng của đảng khi nền kinh tế chuyển đổi.

Phạm Đình Bá

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn độc lập cho người lao động Việt Nam do Nghiệp đoàn giáo chức  Việt Nam đồng tổ chức.

Tài liệu

  1. Mark Anner and Xiangmin Liu. Harmonious Unions and Rebellious Workers: A Study of Wildcat Strikes in Vietnam. ILR Review, 69(1), January 2016, pp. 3–28.
  2. Chen, Feng. 2010. Trade unions and quadripartite interactions in strike settlements in China. China Quarterly 201 (March): 104–24.

Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, giảng viên trường đại học Sân khấu điện ảnh tuyên bố bỏ đảng cộng sản

“Hôm nay, 4.11.2018, tôi – Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Thị Kim Chi, chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi Chủ Nghĩa Xã Hội – con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại.

Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Chu Hảo, chồng tôi ( ông. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng Cộng Sản Việt Nam nhận biết lẽ phải.

Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
– Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống…
– Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
– An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan…

Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

Nhưng đáp lại thiện chí của chúng tôi là sự đàn áp ngày càng khốc liệt người bất đồng chính kiến; là ý đồ muốn biến nhân dân thành bầy cừu; thù ghét, khủng bố những người dấn thân tranh đấu vì những quyền cơ bản, chính đáng của con người, những giá trị phổ quát của nhân loại; hãm hại những trí thức ưu tú muốn khai trí nhân dân.

Trải tuổi trẻ ở chiến trường, tôi khát khao giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng than ôi! Khi nhận ra mình đã góp tuổi xanh vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do mâu thuẫn ý thức hệ quốc tế, tôi vô cùng đau đớn. Nhiều đêm trắng tôi thao thức, khi những người ưu tú lần lượt vào tù. Hàng triệu dân oan không nhà làm nhói tim tôi. Im lặng là đồng loã cái ác, là có tội.

Sự việc mới đây khiến tôi không thể kìm lòng được nữa: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam công bố kết luận hết sức xằng bậy về Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Chu Hảo. Đó là một ý đồ hắc ám, muốn thông qua việc trừng phạt một trí thức ưu tú mà tôi và đông đảo trí thức cũng như người dân kính trọng như tinh hoa dân tộc, tuyên chiến với giới trí thức tiến bộ tâm huyết, tuyên chiến với nhân dân. Những ngày qua, tôi kiên nhẫn chờ đợi động thái sửa sai từ cấp cao nhất. Nhưng vô vọng! Tôi hiểu, lề lối quan liêu, tư duy bảo thủ, khuynh hướng độc tài hủ bại hắc ám đã, đang và sẽ còn chế ngự Đảng Cộng sản Việt Nam, như hồi đánh Nhân văn – Giai phẩm.

Tôi vào Đảng Nhân dân Cách mạng Miền Nam tại chiến trường, năm 1971. Ngày đó, tôi đinh ninh đứng vào đội ngũ những người tiên phong, sẵn sàng ngã xuống cho “sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh…”. Do hoàn cảnh lịch sử, hạn chế thông tin khi ấy, tôi chưa thể biết sự thật cay đắng phũ phàng: Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, mà Đảng Cộng sản Việt Nam lấy làm nền tảng tư tưởng, chỉ là một học thuyết phản khoa học, phi thực tế, cổ xúy bạo lực “đấu tranh giai cấp”, hiếu chiến, tạo bất công, gieo rắc đói nghèo lạc hậu, độc đoán thủ tiêu mọi quyền tự do chính đáng của nhân dân.

Thực tế, sau 1975, phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tự hoang tưởng, tha hóa biến chất ngày một tồi tệ, làm đất nước ngày càng tụt hậu, nhân dân lầm than.

Quá thất vọng, tôi bỏ sinh hoạt đảng từ 2013. Tôi luôn trăn trở: “tuổi cao, sức yếu, không gì đau buồn và hổ thẹn hơn là đột ngột ra đi mà vẫn danh nghĩa là đảng viên cộng sản”. Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cái đội ngũ mà thế lực hắc ám ngự trị trong Đảng Cộng sản Việt Nam đang lạm dụng làm bình phong che chắn cho động cơ vị kỷ, tệ hại của họ.

Tôi thành tâm mong mỏi ngày càng có nhiều đảng viên có lương tri, còn tâm huyết với dân, với nước, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục rời bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đoàn Thanh Niên  Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vận nước, tương lai dân tộc tùy thuộc mỗi người Việt Nam chúng ta.

Vì những lẽ trên, tôi chính thức tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Thị Kim Chi

( Theo facebook của cô Kim Chi)

Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dọn đường công nhận nghiệp đoàn lao động độc lập cho Việt Nam

Một chiến thắng của giới hoạt động về lao động tại Việt Nam, chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng  đã bán chính thức công nhận công đoàn độc lập. Cụ thể, vào ngày ngày 2 tháng 11, hiệp định thương mại tự do CTPP đã được ông Nguyễn Phú Trọng trình quốc hội, một cách sơ bộ, các quyền về nghiệp đoàn lao động độc lập đã được công nhận cho Việt Nam.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – người đại diện đảng cộng sản Việt Nam đã nhắc đến việc trách nhiệm của mình  kế vị những lời dạy của Marx-Lenin và cố chủ tịch Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh bảo rằng phải nâng cao vị thế của công nhân. Nghĩa là, chủ tịch nước Hồ Chí Minh lúc đương quyền cổ vũ mọi biện pháp chính đáng để hỗ trợ công nhân.  Một điều mà ai cũng biết, rằng cách tốt nhất và không thể bỏ qua để nâng cao vị thế của công nhân chính là giúp họ thành lập những nghiệp đoàn lao động độc lập, do họ tự bầu ra.

CPTPP  được coi là một hiệp định thương mại tự do (FTA) tiêu chuẩn cao, đề cập tới các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại. Đồng thời CPTPP  cũng đặt ra những vấn đề mới lạ đối với Việt Nam như công nhận nghiệp đoàn độc lập, công đoàn độc lập…và chấp nhận để người lao động tự do bầu ra các nghiệp đoàn.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay còn gọi là TPP-11, cùng các văn kiện liên quan đã được chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình Quốc hội Việt Nam ngày 2 tháng 11 năm 2018 vừa qua, coi như là sự đồng tình của chính quyền Việt Nam đối với giới hoạt động nghiệp đoàn, sau nhiều năm bế tắc trong việc tìm tiếng nói chung. Quyền thành lập nghiệp đoàn lao động Việt Nam từ nay coi như đã được nâng lên một tầm cao mới.

CPTPP được ấn định sớm, trong tương lai ngắn Việt Nam sẽ tạo điều kiện để có nhiều nghiệp đoàn lao động ngành nghề, hầu nâng cao vị thế và bảo vệ nhân phẩm cho người lao động Việt Nam, như lời mong ước của chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa.

Trong văn hóa Việt Nam, lời thề có một sức mạnh ghê gớm, ai phá bỏ lời thề sẽ gặp những tình huống không thể lường trước.  Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Phú Trọng- xuất thân từ tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đang thực hiện lời thề của ông với hiến pháp. Ông cũng giúp thực hiện những lời hứa của chủ tịch nước-chủ tịch đảng (cộng sản) Hồ Chí Minh hứa với toàn dân Việt Nam còn đang đình trệ bao lâu nay.

Các nhà hoạt động nghiệp đoàn chân chính tại Việt Nam đang giúp công nhân tạo ra các nhóm tương trợ và các nghiệp đoàn chuyên nghiệp một cách không chậm trễ. Quyết định vừa qua của chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng coi như một lời động viên rất lớn đối với những người hoạt động nghiệp đoàn.

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn độc lập cho người lao động Việt Nam do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam đồng tổ chức. 

“Học gia” Trung Cộng làm gián điệp cho Trung Cộng tại Hà Nội, dùng kỹ thuật cao bị bắt quả tang

RẤT NGHIÊM TRỌNG!
BỌN HỌC GIẢ TÀU CỰC KHỐN NẠN!

Đây là cái kính có gắn camera của một ả Tàu làm việc ở Viện nghiên cứu biển Nam Trung Hoa (Biển Đông của Việt nAM) thuộc Đại học Hạ Môn, Trung Quốc dùng để chụp trộm tài liệu quý của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Dung lượng của kính này là 64 GB. Ả này bị thủ thư phòng đọc bắt quả tang, lập biên bản có sự chứng kiến của An ninh A87, Bộ Công an.

Cô ả này ngồi hươ hươ một lúc chụp được 175 trang sách và dữ liệu tự động chuyển từ kính sang điện thoại luôn, không cần dây nối. Sự việc vừa xảy ra sáng hôm qua.

Từ nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm cấm cửa ả ăn cắp này. Đây là lần thứ hai bọn học giả Tàu bị bắt quả tang, lập biên bản khi chụp trộm tài liệu quý của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Ả này mới được cấp thị thực ngày 9 tháng 10 và sẽ hết hạn vào ngày 31 tháng 12 năm 2018.

Cô ả đến Việt Nam theo dường bộ qua cửa khẩu Hữu Nghị. Và đến đọc sách buổi đầu tiên tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm sáng 30 tháng 10 năm 2018.

Đáng lẽ phải trục xuất, gửi công văn ra Đại sứ quán và cấm Nhập cảnh vĩnh viễn chứ!

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện/fb