Việt Nam có Quốc học hay không?

Đó là vấn đề đã được đặt ra và nhận được hai loại trả lời là có và không , và cả hai đều có lý do của nó.

“Thưa có “ đúng lý ở chỗ ta có tiếng riêng, có lối phát biểu đặc biệt, đã hiện thực vào các tác phẩm, có tác giả và tất nhiên thân thể sự nghiệp hoàn cảnh sinh hoạt của họ, bấy nhiêu điều khác các nơi khác thì chối không có quốc học sao được.

“Bên thưa không “ thì cho rằng ngôn ngữ và những lối phát biểu thông thường chưa đủ làm nên một quốc học, để xứng danh một nền quốc học phải có những môn căn bản chẳng hạn như triết học, nước ta chưa có triết , hơn nữa chưa có đến cả một nhà tư tưởng thì lấy gì để xứng danh là một nền quốc học.

Chúng tôi cho rằng cả hai lối thưa đều hữu lý , nên sẽ có người bảo trợ cho phe này hay phe kia, nhưng nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đó thì nó sẽ trở thành gọng kìm ngăn chặn bước tiến. Vậy cần mở một lối mới vượt ra ngoài “có “ với “không”, bằng cách xây dựng những gì còn thiếu sót. Trong nền học vấn nước nhà chúng ta còn thiếu những gì ? Tôi rất đồng ý với ý kiến cho là còn thiếu triết. Chúng ta đã có đủ văn chương chữ nghĩa nhưng đây mới là bước đầu, còn thiếu hai bước nữa mới làm nên một nền quốc học , ít ra là nền quốc học vẹn toàn. Hai bước đó là Triết và Văn hiến.

Trước hết bàn về bước hai là Triết. Về điểm này tôi xin minh định ý nghĩa Triết ở đây hiểu theo lối mới tức là có xác định, có chứng minh và hệ thống. Chỉ theo ý nghĩa đó thì các cụ xưa mới thiếu, còn theo nghĩa rộng thì nền học của ta đã có triết rồi, nhưng lối trình bày minh chứng cũ không đủ nữa cho đời nay, vì thế mà tôi cho là thiếu theo nghĩa vừa mới xác định mà thôi. Sở dĩ tôi cho là thiếu sót vì không có triết lối mới thì làm sao đứng vững trong giai đoạn đua chen với đời sống quốc tế hiện nay, một đời sống đầy ứ ý hệ , đầy ứ các tư trào: các loại văn hoá khác nhau đang tràn vào quê hương của chúng ta để tranh “khoảng trống” với chúng ta.. Thiếu triết thì quốc học sẽ thiếu hướng sống, thiếu mạnh mẽ và sẽ bị phân hoá để rồi tiêu trầm, nên có cũng kể như không.

Đàng khác thiếu triết thì làm sao giải quyết được vấn đề then chốt là Dân tộc tính, mà nếu không quy định nổi Dân tộc tính thì nói đến Quốc học chỉ là chuyện chơi chữ, thiếu nội dung. Muốn tìm ra Dân tộc tính thì cần phải có Triết, vì Triết là triệt: có đi đến triệt để mới nhìn ra những nét nào là đức tính riêng biệt của dân tộc. Ngay một chữ đức tính đã nói lên nhu cầu của triết, vì chỉ có triết mới vượt vòng ngoài thấu tới vòng trong gọi là Đức là Tính, nên mới nói được những đặc tính trường tồn. Ngoài ra còn phải nhìn rất rộng mới nhận ra được những gì là đặc trưng riêng cho dân tộc mình mà không cho dân tộc khác. Hễ không chứng minh được hai điểm đó một là đức tính nghĩa là nét đó phải trường tồn cố hữu với dân tộc, hai là đức tính đó phải có một cách đặc biệt khác mọi nơi, có chứng cớ phân minh đủ gây nên sự thâm tín. Thiếu những điểm đó không thể nói đến dân tộc tính. Đành rằng có những người không học triết cũng có thể nhìn ra những nét đó, nhưng điều ấy chỉ chứng tỏ người nọ có óc triết: rất nhiều người không học Triết mà có óc triết. Tuy nhiên người có óc triết mà lại học Triết thì tài năng kia sẽ được phát triển để cái nhìn càng thấu triệt. Có lẽ vì Triết chưa được vun tưới nên những tài năng triết đã không được tài bồi, và do đó những nét đặc trưng của dân tộc chưa được nhìn thấy ít ra cách có hệ thống và lý giải. Bước vào thời mới ta vẫn nghe nói Việt Nam không có Dân tộc tính thì câu ấy chỉ có nghĩa là chúng ta chưa có một nền triết để mà nhìn ra được Dân tộc tính, cho nên chối không có Dân tộc tính là không phải: phải cho những người viết như thế nghĩa là những người viết thế không phải là triết gia nên chối đi là thực với lòng. Nhưng đúng với lòng nhưng người không có óc triết, nhưng đã đúng với sự thực khách quan chưa thì đấy là chỗ chúng ta cần chờ câu trả lời của Triết. Khi nào đưa ra được những nét đặc trưng không thể chối cãi, có những nguồn cơn gốc ngọn, có những âm vang của cuộc sống dân tộc… thì từ lúc đó chúng ta mới có Quốc học theo nghĩa đầy đủ là chăm sóc vun trồng cho những đức tính của dân tộc.

 

Sau Triết thì đến bước thứ ba là Văn hiến. Văn hiến là những người tự hiến thân tâm cho cái văn cao cả là cái văn liên hệ mật thiết đến những nhu yếu tham sâu của con người. Sự hiện diện của những văn hiến là bảo chứng cho giá trị của một nền văn, của một nền quốc học, vắng bóng văn hiến là dấu tỏ rằng nền văn học đó có những thiếu sót trầm trọng vì đã không huy động nổi thân tâm người học ít ra những phần tử cốt cán. Tây Âu không có văn hiến mà chỉ có tôn giáo hiến tức là các tu sĩ , chứ không có những người lấy Triết làm sứ mạng chọn đời. Nhận Triết học như một nghề nghiệp thì khác vì đấy không là văn hiến mà là những học giả, những chuyên viên, những giáo sư triết nghĩa là một chức nghiệp trong các chức nghiệp: rất khác với văn hiến bằng chiều sâu cả một khối băng tâm. Tại sao văn hoá Tây Âu thiếu văn hiến đó sẽ là điều bàn ở chương sau. ở đây chúng ta chỉ cần nhấn mạnh rằng thiếu văn hiến thì một nền văn hoá thực chỉ còn là một nền văn học với những tri thức suông sẻ, những sự thực lạnh không đốt nóng được tâm hồn. Cái học đó không phải là cái học dẫn đến hiện thực theo nghĩa cải hoá con người, làm đẹp thêm những mối nhân luân trong xã hội. Để được như thế cần phải có cái học gây dựng nổi những văn hiến , cái học đó phải là thế nào đủ cho những bậc tinh anh cao thượng trong nước trọn đời khi hiến thân tâm như nền cổ học của chúng ta đã gây nên được như thế. Nhưng nay các vị đã khuất lần, mà nền tân học không tạo nên được những văn hiến mới để kế tiếp cho các cụ xưa, đặng hoạt động trong một môi trường đã đổi mới hẳn. Làm thế nào để nền học mới lại có đủ sức hấp dẫn như xưa thì đó là điều chúng ta sẽ bàn sau. Ở đây chỉ cần nhấn mạnh đến sự thiết yếu của văn hiến , thiếu văn hiến như những cán bộ, như những tông đồ thì bao nhiêu sách vở mất đi quá nhiều sức tác dộng. Thế giời hiện nay có nhiều cán bộ, có nhiều chiến sĩ, nhưng chưa có văn hiến. Với cán bộ hay chiến sĩ xã hội chỉ được điều lý theo một ý hệ hay tư trào, hoặc tôn giáo nào đó ít có âm vang lành mạnh vào xã hội như công bằng, bình đẳng, huynh đệ v.v… Tôi nói âm vang là lời nói thực chứ còn thuyết với lý thì đã có tràn ngập. Muốn có âm vang nghĩa là thực chất cho những thuyết cùng lý kia thì phải có là văn hiến. Khi một nước có đủ văn hiến thì nước ấy sẽ không còn là chính hiến, võ hiến, tiền hiến, tôn hiến mà sẽ trở nên văn hiến chi bang tức là bậc cao nhất mà một nền quốc học có thể hướng tới. Đấy là những bước đường mà một nền quốc học cần phải vươn tới và luôn luôn cố gắng hiện thực. Bao giờ hiện thực được là truyện khác nhưng trước hết chúng ta phải biết chúng ta muốn gì, hướng đi đâu, đường đi có bao nhiêu chặng thì đấy là mục đích tập sách này.

Trích Kim Định- chương 1 sách Vấn đề Quốc học

Phụ chú :

Triết học chỉ là để tranh luận
Trong bài tôi nhấn mạnh đến sự thiết yếu của Triết.
Nhưng trong thực tế thì hầu hết mọi người đều cho triết chỉ là cái học để tranh luận. Để trả lời. Việc này tôi không nói gì nhưng xin nhường lời cho ông Seldon bằng trích dịch một đoạn trong bài diễn văn đọc tại hội nghị quốc tế triết học ở Honolulu 1949 (Moore 289).
“Âu Châu muốn xem (hỏi tại sao) Á Châu muốn thành hiện thực (hỏi làm cách nào) tuy nay chúng ta dùng cùng một danh từ Triết nhưng với Âu tây Triết là để xem còn với Á Châu Triết là để thành “Philosophy for the West is to see, fot the East is to be”. Sự khác nhau giữa lý thuyết và thực hành, giữa suy tư và hành động là sự khác biệt sâu xa nhất của hai bên. Ai phải? Dewey nói rằng: khi ta lạc trong rừng thì cái nhìn đúng là nhìn giúp ta ra khỏi rừng. Cho nên Đông Phương đừng coi thường thái độ Triết lý vụ thực của mình. Hiện nay Âu Tây đang chống lại thái độ chỉ toàn thuyết với lý do Hi Lạp truyền lại. Âu Châu chỉ chứng minh có Thiên chúa. Với Á Châu thì lối chứng minh trung thực nhất chính là kinh nghiệm trong cả sự siêu thoát huyền niệm, lẫn trong lối hành sử ở đây và bây giờ, ngay trong thời gian này. Đông Phương có óc dung thông đối với những ý kiến khác nhau là nhờ có được mối đồng tâm then chốt do sự cảm nghiệm trên cái thực tại và trên quyền lực của cái Thái Nhất dù đạt được cách tích cực trong vạn vật hay tiêu cực , nhưng vẫn tin là ngầm xuyên qua mọi đối cực để làm nên trần gian. (The East is more tolerant of its own differences because there is a central argument due to the experimental perspective upon the reality and power of the one ?). Tây Phương thì độc hữu hơn, chuyên chú hơn đến việc bài bác nhau, chính bởi đã từ lâu tin vào lý chứng suông thay cho thực tại. Nhớ rằng Tây Âu chứng minh sự hữu Thiên chúa bằng năm con đường hay là năm loại lý chứng , tất cả dựa trên lý trí suông, duy có lý chứng bằng sống, bằng cảm nghiệm thì lại bỏ qua. Lẽ ra mọi nền triết phải kiếm cả lý luận lẫn kinh nghiệm, nhưng thói quen xem suông bằng lý thuyết đã được thí nghiệm bên Tây Âu và kết quả là biến Triết thành một cuộc cãi lây không cùng và ngày nay đang rút lui vào tháp ngà của phương pháp luận và cơ cấu ngôn ngữ, chứ chẳng mảy may so với việc xem vào thế giới thực. Chính vì đặt trọn vẹn trên sự ngắm nhìn, nên Triết học Tây Âu đã thất bại trọn vẹn. Bên Đông Phương chăm chú và hiện thực nên ít ra đã bớt được tối đa sự phi bác nhau. ( A retreat today into the ivory tower of methodology and language structure without the slightest prospect of emerging to look at the real world. Seen only from its own contemplative perspective ? Western philosophy , East where the pratical animus has at least minimized mutual refutation. )

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s