Sứ mạng của Tây Phương là khoa học kỹ thuật, Đông Phương là triết lý Nhân sinh.

Schopenhauer, un philosophe et son monde

Sứ mạng của Tây Phương là văn minh khoa học kỹ thuật, còn Đông Phương là Minh triết hay triết lý Nhân sinh. Đó là cảm tưởng đầu tiên khi chúng ta nhìn trùm lên sứ mệnh thế giới. Cho nên nhận xét trên không còn là của riêng ai nữa mà có thể nói là của chung những vĩ nhân đã thực sự đối chiếu các nền văn minh.

Sở dĩ có nhận xét như vậy bởi về trí thông minh thì Âu Tây đâu có thiếu, thế mà trải qua hàng ngàn năm đã không sản xuất nổi một triết gia. Những người được kêu là triết gia thì chẳng qua gọi thế hoặc chưa hiểu biết hoặc vì ngoại giao hay vì dễ tính chứ thực ra họ chỉ là triết học gia, nghĩa là cố gắng hết tài nhưng không vươn tới triết lý. Nietzche đã nói thẳng ra điều đó khi quyết Hegel chỉ là thiên tài biện lý mà không là triết gia “dialecticien de génie, non philosophe”. Aristote là nhà khoa học (savant). Platon một thi sĩ bằng ý (un poète des idées). Tất cả chưa “cách vật”: giữa họ và vật còn quá nhiều trung gian: những ý kiến, ý niệm, tư tưởng, thời đại, sử sách… Vậy thì đâu có là triết. Triết phải là người thấy sự vật lần đầu tiên không cần trung gian nào và điều quan trọng nhất chính thân mình cũng phải là một hiện tượng đầu tiên, còn các kiến văn kiến thức thâu nhận về sau chỉ dùng đánh mầu và làm phương tiện trình bày (Schopenhauer éducateur. Aubier tr. 140-141) chứ không phải cốt tuỷ của triết.

Đừng bảo rằng Nietzche quá khích, chẳng qua ông chỉ nói lên cách minh nhiên điều mà nhiều người cảm thấy lơ mơ và biểu lộ qua những kiểu nói thí dụ “khoa học Tây Phương Minh triết Đông Phương” (Vayssac). Nói thế thì không ai mích lòng, nhưng không giúp ích được bao nhiêu khi phải nhìn rõ đặng quyết định bước tiến. Muốn vậy phải nói là Tây Phương mới có triết học mà chưa có triết lý.

Ngược lại Trung Hoa cổ đại đã phát kiến ra rất nhiều kỹ thuật lâu trước Tây Phương mà trải qua hàng ngàn năm vẫn không sao sản xuất nổi một khoa học gia như Newton, Galilée, Kepler… nên đành chịu thua sút. Có phải tại lỗi ở hai bên chăng. Bà Lombroso cho rằng sự dị biệt đó không phải là lỗi của nền giáo dục mà do thiên nhiên phú bẩm như vậy để đôi bên bổ túc cho nhau (L’âme de la femme p.7). ý kiến đó hình như đã được ghi trong vị sổ của ngũ hành theo đó hai số của Đông Phương là 3-2 còn của Tây Phương là 4-1. Tự 4 tới 1 là hai cực đoan: nhờ đi đến cực đoan nên khám phá ra nhiều truyện trong đó có khoa học, nhưng không đạt Minh triết vốn vận hành ở trung cung 3-2. Vì chỉ ở Trung Cung mới có đường dọc vươn lên đến tâm linh. Chứ như đi tự 4 tới 1 chỉ là hàng ngang đứt quãng. Đó là điều đã được Việt Nho diễn tả bằng trọn cả một huyển Kinh điển là Dịch. Ngoài ra còn rất nhiều ẩn dụ khác, như Vũ Nhất Độ Hà đồ Lạc Thư… Tóm lại nhìn qua Nho giáo chúng ta thấy tất cả chỉ là một sự quảng diễn cái đạo Trung Dung tức là Minh Triết. Vì Minh Triết chân thực là gì nếu không là đem vô biên nhập vào hạn cục, đem tâm tư vào đời sống. Nho giáo quen gọi là “Thiên địa chi giao” nghĩa là thiên nằm ngay trong địa: linh thiêng hoá ngay đời sống tà tà thường nhật, đây chính là Minh Triết. Như vậy chúng ta có thể đồng ý với bà Lombroso nghĩ rằng đó là phần số mà trời đã phân công để Đông Tây bổ túc cho nhau.

Văn hoá Tây Âu hiện đang trải qua cái mà Keyserling kêu là hỗn loạn và bất hạnh (chaos et malheur) và những phần tử ý thức nhất ngay trong giới khoa học cỡ Einstein, Eddington… đều cảm thấy sâu xa là một mình khoa học không đủ, còn cần phải có một nghệ thuật sống nữa. Nghệ thuật đó ta gọi là triết lý nhân sinh mà hiện Tây Âu chưa có.

Vậy thì chính là lúc đến phiên Đông Phương đem ra đóng góp cái phần mà thiên nhiên đã trao cho phải phát triển để đến lúc kết đúc thì có mà dùng. Thế cho nên nền quốc học các nước Đông Phương phải nhận thức ra trách nhiệm của mình trong việc kiến thiết nên bản hoà tấu của nhân loại mới, một nhân loại thật sự lấy con người làm đối tượng suy tư cũng như phụng sự. Keyserling viết: cho tới nay nhân loại mới chỉ mò mẫm quờ quạng trong đêm tối đầy những hãi hùng, những mờ ảo. Đông Phương đóng trại trong mơ màng, Tây Phương bắt mình làm việc như nô lệ để bới đất tìm mỏ “Jusqu’ici l’humanité n’a fait que se debatre dans une nuit traversée de terreur et de songé. L’Orient s’est installé parmi les rêves, l’Occident s’est soumis à un travail d’esclave pour gratter la terre et découvrir des trésors (Bouchara Keyserling 273). Cả hai hướng ấy đều tai hại vì với Ấn thì trời quá trời, còn với Tây thì đất quá đất. Có nước nào làm ho hai chỉ trời đất ấy giao nhau. Thưa là nước Giao Chỉ trước kia đã có thời hiện thực được nên cũng gọi là nước Văn Lang. Về sau Trung Hoa nhờ đấy mà biết thích nghi tinh thần vào đời sống xã hội như chính Keyserling nhận xét về Tàu hiện ra như một hình ảnh thích nghi đời sống xã hội với tinh thần “l’image d’une adaptation parfaite de la vie sociale à l’esprit 89” Đó chính là Minh Triết rồi. Vậy thế tại sao không đưa ra để tránh cho Âu Ấn khỏi đi đến chỗ quá đáng? Thưa vì Á Châu đã bỏ hàng ngũ mình để theo Tây nên cũng đang lao vào chỗ khốn nạn “L’Occident et l’Orient endent de se joindre dans le pire”. id 174. Đấy là bi trạng của nhân loại.

Nhân loại không đủ sức làm cho Thiên đức (tâm linh) giao thoa với địa đức (văn minh cơ khí) tức đem lương tâm thấm nhập vào khoa học. Nên con người thiếu tâm địa, thiếu khí tiết và chỉ còn là một đoàn vật tranh mồi. Liệu nhân loại có đứng vững nổi chăng trong cái thế chênh vênh nghiêng lệch như vậy.
Nhìn trùm nhân loại thấy Việt Nam xuất hiện như kẻ kế tự cuối cùng của một nền văn minh cân đối giữa Đất và Trời, hỏi Việt nam liệu còn đủ khả năng lại chơi vai trò Giao Chỉ nữa chăng “Khỏi nóng lòng hỏi và chờ mong vì biết rằng nếu hiện thực được thì người Việt Nam vừa đi vào con đường cứu quốc trung thực nhất mà còn có thể hơn thế nữa có thể đóng góp vào nền văn hoá nhân loại. Đấy là điều mong được những người còn lòng yêu nước chân thực phải lưu tâm không thể để cho cái học vô hồn như nay cứ đè đầu cỡi cổ trên mảnh đất bốn ngàn năm văn hiến lâu hơn nữa. Khi những người cầm vận mệnh quốc gia chỉ biết có học vấn mà thiếu hồn thiếu lương tâm thì họ sẽ trở nên những kẻ giảo quyệt tham tàn vô liêm sỉ, liệu nước đứng vững nổi chăng. Vi thế, nhiệm vụ khẩn thiết của quốc học trong thập niên 70 này là làm cho triết học trở lại với đạo học. Nói như Keyserling “la philosophie doit être devenir la sagesse”.

Đấy không con là vấn đề văn học suông nhưng là việc làm liên hệ tới cuộc sinh tử của cả một nước. Các nước vùng Đông Á hiện nay nói đại cương có thể chia hai khuynh hướng một theo văn hoá Đông như Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, và đang tiến lên phú cường. Còn phía Tây như Miên, Mã nhất là Phi Luật Tân thì tiến ít mà thối nát và chênh lệch quá nhiều. Việt Nam lẽ ra là nước có thể làm hơn cả hai khối đó, ít ra trong lãnh vực văn hoá là “quay đầu về Đông duỗi chân sang Tây” để làm một cuộc tổng hợp văn hoá cũng như thịnh vượng về kinh tế. Thế nhưng từ hơn một thế hệ nay bị đặt quay đầu theo Tây nên sự phân hoá thối nát hiện đã đến độ rất trầm trọng. Liệu có còn tìm ra đủ người Việt sôi bầu máu Lạc Hồng để làm một cuộc trở về chăng? Đấy là những vấn đề cấp bách đặt ra trước lương tâm những ai có trách nhiệm với nền quốc học nước nhà.
Plus belle en pratique que ne l’était la cité rêvée par Platon en theorie “Ricci Bernard mảite, Pour la comprehension de l’Indochine p.36.

Trích Kim Định- chương Tổng kết sách Vấn đề Quốc học

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s