Vấn đề nguồn gốc và Việt Nho

1. – Tình trạng vấn đề

Đọc bản kê khai những đức tính trên nhiều độc giả chắc sẽ thắc mắc rằng đó là những nét đặc thù nhưng là của chung cho cả Tàu chứ không riêng gì Việt Nam. Có thể thưa rằng đúng thế, về đàng hiện hữu, tuy nhiên về đàng cường độ vẫn có chỗ khác, nó ở tại một hơn một kém. Sự hơn kém có thể xác định một phần khi biết được bên nào nắm phần hơn thì phải kể là chủ chính, còn bên kém thì là tham dự.

Vậy làm thế nào để xác định phần hơn hay kém đó. Ta đã biết nét đặc trưng lớn nhất là dân gian làm tác giả Kinh điển vậy thì trước hết nên tìm xem nước nào Tàu hay Việt gần với “tác giả” Kinh điển hơn? Nói khác nước nào đại diện dân gian còn nước nào đại diện xâm lăng hoặc vương quyền nhiều hơn. Câu thưa sẽ hiện ra là nước đại diện dân gian nắm được nhiều hơn và chúng ta sẽ thấy đó là nước Việt Nam. Nước Tàu đại diện nhiều hơn cho các vương triều, kẻ kế vị của các đợt xâm lăng, vì thế cũng đại biểu nhiều hơn cho phía nhà cai trị. Ngược lại nước Việt Nam đại diện cho dân bản thổ trước, cho nền văn hoá nông nghiệp và luôn luôn bị lùi bước trước nạn xâm lăng và sự lùi bước đó không là chi khác hơn là “cuộc nam tiến”. Như vậy có nghĩa là nước ta đại diện cho dân gian nhiều hơn. Mà vì nền văn hoá Á Đông có đặc tính là của dân gian, Tàu chỉ là nước đến sau học lại của ta và được chuyển hoá theo Nho một phần con kém ta một phần và phần kém đó gọi là Hán học.
Xin đưa ra đây vài bằng chứng về chủ quyền văn hoá thuộc Việt Nam: thí dụ tinh thần dân chủ được biểu lộ trong việc cai trị xã thôn thì ta thấy xã thôn Việt Nam giầu tính chất dân chủ hơn xã thôn Tàu. ở Tàu xã trưởng thường thuộc một dòng tộc còn ở Việt Nam thì không vậy có nghĩa là dân chủ hơn.

Thí dụ thứ hai là người đàn bà Tàu ít tự do hơn đàn bà Việt, vậy có nghĩa là Việt Nam làm chủ văn hoá. Vì văn hoá Á Đông có tính chất nông nghiệp mà dấu hiệu, là vai trò quan trọng của phụ nữ được kể như sáng nghĩ ra việc gieo trồng đầu tiên (xem bài: khi văn minh Cồng gặp văn minh Lệnh trong Việt Lý). Vậy trong nước nào phụ nữ nắm vai trò quan trọng thì là dấu đã khởi sáng văn hoá. Thế mà ai xem huyền sử của Tàu và ta cũng nhận ngay ra vai trò phụ nữ bên ta nổi vượt qua các cặp Ngưu Lang Chức Nữ, Âu Cơ Lạc Long Quân, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh , Mỵ Châu Trọng Thuỷ v.v…
Còn nhiều thí dụ khác (xin coi quyển triết lý cái Đình) nhưng chỉ bấy nhiêu đã tạm đủ để nói lên giữa văn hoá Việt và Tàu có khác biệt nhiều đến độ đủ có sự chống đối thường xuyên và kéo dài bao ngàn năm. Đó là điều được hầu hết các học giả công nhận. Sự dị biệt đó có lúc hiện lên rõ rệt, có lúc ẩn khuất cách tế vi và chỉ có thể nhận ra được sau khi giải đáp khó khăn về nguồn gốc. Vì thế đó sẽ là điều chúng ta phải đề cập bây giờ.

Cần nói ngay rằng đây là vấn đề làm bận tâm các nhà tân học hơn là các cụ xưa. Các cụ xưa vẫn chống đối Tàu, vẫn cố duy trì nhiều nét đặc trưng nhưng hầu không quan tâm đến vấn đề do lai của sự dị biệt. Vấn đề này chỉ được đặt ra do phái tân học đang khát vọng độc lập , trước là trong phương diện chính trị , sau là trong mọi phương diện khác nhất là văn hoá. Và hầu hết cho rằng Việt Nam đã có một nền văn hoá độc lập mà dấu vết còn ghi lại trong các đợt văn minh Đông Sơn, Hoà Bình…. các ngôi mộ cổ ở Lạch Trường, từ Anh Đô Nê, Mã Lai Á hay là Chàm. Đấy là một chủ trương mới nhằm đem lại cho văn hoá nước nhà một nền độc lập hoàn toàn không có liên hệ chi tới người Bắc Phương (Hoa, Hán, Mông Cổ v.v…) Lối giải đáp đó được hầu hết giới trí thức mới ủng hộ, để chống đối với niềm tin các cụ xưa cho ta với Tàu cùng một gốc. Tôi gọi đó là một niềm tin vì dựa hầu trọn vẹn trên sử sách người Tàu, chưa biết phê phán cách khoa học, Vả không giải đáp thoả đáng được nhiều khó khăn, thí dụ nếu do Tàu, tại sao lại chống Tàu, chống từ đợt Cơ cấu chứ không phải chỉ có trên bình diện chính trị…
Vì những lý do đó hầu hết những người tân học theo chủ trương hàng ngang đã bàn ở trên; và ta có thể gọi là chủ trương mới ngược với chủ trương cũ của các cụ. Đấy là hai chủ trương quen thuộc cho tới nay, nhưng cả hai đều vấp phải những khó khăn không thể vượt qua, nên chúng tôi phải đưa ra chủ trương thứ ba gọi là Việt Nho.

2.- Những nét khó khăn hai phía tân cựu chưa giải đáp ổn thoả

Trước hết chúng ta hãy phê phán lập trường của hai chủ trương tân và cựu. Phái tân hay nhấn mạnh đến ảnh hưởng Chàm nhất là giai đoạn tạo lập nền quốc học nước ta xảy ra chung quanh thế kỷ 14-15… với Lê Thánh Tông làm then chốt. Có người cho rằng đó là thời mà thái độ tổ tiên ta đối với Tàu còn e dè còn đối với Chiêm Thành thì lao mình vào sự say mê chiêm ngưỡng, tôn kính ngưỡng mộ.
Ta có thể nhận xét rằng đó là những câu quả quyết thiếu nền móng, vì khi nói đến ảnh hưởng Chàm trên văn hoá Việt thì hầu hết chỉ đưa ra được dăm mười danh từ, vài ba truyện tích mấy điệu ca, múa, dăm ba câu hò, một hai kiểu tạc tượng v.v… tức là vừa ít và nhất là toàn loại trang trí bên ngoài, không có gì gọi được là đi sâu vào lòng trí. Lòng trí thì các thi ca tỏ vẻ coi khinh, gọi vua người ta là “thằng” về vụ gả Huyền Trân công chúa cho vua Chàm “tiếc thay cây quế giữa rừng, Để cho thằng mán thằng mường nó leo”.
Đến khi Huyền Trân thoát nạn về nhà thì nói “Châu đi rồi Châu lại về. Ngơ ngẩn trông nhau mấy đứa Hời”. Tuyệt nhiên chẳng có gì kính trọng cả. Ta hãy nghe một câu của chúa trùm văn hoá đời Lê là Nguyễn Trãi, ông viết: “phàm người trong nước không được học theo tiếng nói cùng phục sức các nước Ngô, Chiêm, Lào, Tiêm, Châm, Lạp để làm loạn phong tục trong nước” (úc trai dư địa chí). Câu trên coi thường 5 nước thì mạn Nam đã chiếm hết 4, còn mạn Bắc có một mình nước Ngô. Trong thực tế Ngô chỉ là một tỉnh trong 18 tỉnh Trung Hoa nhưng người mình hay đồng hoá Ngô với Tàu có lẽ bắt nguồn từ đời chiến quốc Câu Tiễn vua nước Việt Chiết Giang nên khi di cư xuống Việt Nam thì đem theo thói quen coi Ngô là nước Tàu. Tôi chưa nghiên cứu tỉ mỉ để lên sổ kỹ những yếu tố nào trong văn hoá của ta là do ảnh hưởng Chàm, nhưng cảm tưởng tự nhiên là ảnh hưởng đó rất bì phu yếu ớt.
Có người kể đến địa vị cao trọng của đàn bà cho là do ảnh hưởng Chàm thì là điều có thể giải nghĩa theo lối Việt Nho còn đúng hơn. Bởi người đàn bà Chàm đã nằm trong ảnh hưởng của tục thiêu sống người goá phụ vì bị coi là của chồng. Vậy đâu có thể ví được với địa vị con cháu Âu Cơ, Mỵ Châu… Có người nại đến thói quen của người Việt khi nói tục toàn lôi bộ phận sinh dục với các phó sản nhất là của đàn bà vãi ra lung tung. Nhưng nếu giải nghĩa thói quen đó theo tâm lý với mặc cảm sính trưng bày bằng ngôn từ (exhibitionisme verbal) phát xuất do sự đàn áp các tục lệ chơi xuân, hát trống quân do Thanh giáo Bắc Phương thi hay hơn nhiều (xem bài Kinh Thi trong Việt Lý). Tóm lại ảnh hưởng Chàm chi hời hợt bên ngoài không đi sâu vào cơ cấu đến nơi nếu chỉ căn cứ trên mấy ngôi mộ cổ với ít đồ tân cựu thạch thi tất cả văn chương nước ta đều thiếu móng nền. Nếu quả thật ảnh hưởng Chàm có bề thế thì đã chẳng để cho Nho giáo chiếm địa vị độc tôn suốt trong những thế kỹ vừa qua, khởi đầu ngay từ đời Lê, một đời có tiếng là chống đối Trung Hoa, ấy thế nhưng cũng ngay trong thời đó Nho giáo đã chiếm địa vị chỉ huy rồi. Ai cũng biết Lê Thánh Tôn là đỉnh cao chót vót trong nền văn hoá nước ta vào thế kỷ 15, thế nhưng trong mười bài chiêu hồn tỏ rõ sự lựa chọn: khi nói về sự ni, và đạo sĩ Lê Thánh Tôn đều kết bằng câu hỡi ơi! và chỉ có đề cao Nho sĩ. Xem thế đủ biết ảnh hưởng Chàm không có bao trong thực tế, nó chỉ được phe tân học phóng đại ra để chống đỡ cho chủ trương “độc lập” mới của mình mà thôi.

Tôi gạch dưới chữa độc lập vì nó thường được đưa ra làm chiêu bài nhưng bên trong là cả một đường lối sửa soạn ho sự du nhập của các ý hệ ngoại bang. Dù ý thức hay không nhưng đường lối đó là thế này: muốn cho các tư trào ngoại lai khỏi mang bộ mặt xa lạ của khách trú thì cần làm thế nào để ngôi nhà văn hoá Việt Nam chỉ toàn có khách mà không có chủ, nếu đứa nào bảo tao ngoại lai thì nhiều thằng khác cũng ngoại lai… Muốn thế chỉ cần đề cao ảnh hưởng Chàm, Anh Đô Nê đến độ như là nền tảng văn hoá Việt Nam. Một khi đã được như vậy thì nhà văn hoá Việt có chủ cũng như không, vì ai thấy chi đâu là nền ảnh hưởng Chàm. Chỉ còn phiền có Nho giáo, phải làm thế nào để có thể hạ bệ nó xuống. Dễ lắm, chỉ cần nín thinh việc đã cầm trịch nền văn hoá nước này nhiều ngàn năm, nhưng lại nhấn mạnh rất nhiều đến việc học mướn viết nhờ, cố sao cho người Việt Nam chán ghét thâm thù Nho giáo, y như chán ghét thâm thù với Tàu. Cái đó tương đối dễ khi chưa ai phân biệt được thế nào là Hán Nho với Nho nguyên thuỷ, thì chỉ việc lôi những nét của Hán Nho ra mà chửi bới, đem những hủ tục, các thứ lạc hậu xưa đặt bên những tiến bộ huy hoàng của Tây Âu thì mười người như một đều đâm lòng oán giận Nho giáo đã gây nên việc mất nước và chậm tiến. Tri thức mới đã làm như thế và kết quả đã đạt đến 99% ngôi nhà văn hoá Việt đã trở thành vô chủ. Bây giờ chỉ còn việc đề cao việc thâu hoá của tiền nhân, cho đó là nét dân tộc tính cao cả nhất…. Trong thực chất có nghĩa là chúng ta hãy mở hai tay xoạc hai chân ra mà đón nhận các tư trào từ bốn phương để mong theo kịp người trên con đường tiến bộ văn minh…
Chủ trương trên còn được từng loạt những tiện nghi do khoa học năm này qua năm khác tràn vào để gia tăng uy thế. Và vì vậy mà nó đã làm chủ được ngôi nhà văn hoá nước ta từ lối 1930 đến nay, và hậu quả là đưa dần nước đến bi trạng phân hoá trọn vẹn như chúng ta đang chứng kiến cũng như đồng thời là nạn nhân và không hiểu tương lai ra sao, chỉ biết rằng nếu không cùng nhau làm một cố gắng vượt bực thì tương lai đất nước thật là mù mịt.

Vì thế mà phải đặt lại vấn đề. Trước hết chúng ta cần phải hoan hô chủ trương trên vì đó là con đường rất tốt để phong phú hoá nền văn hoá chúng ta. Nhưng phải hỏi một điều là nhưng tư trào đó có mang theo trong mình chất độc tôn chăng bởi vì nếu có thì một khi ngồi chiễm chệ và đã gây cơ sở đủ , nó sẽ bóp chết nền văn hoá của chúng ta? Lúc đó không còn là phong phú hoá nữa nhưng là tự tiêu diệt, thí dụ triết thuyết cộng sản đang bóp cho ngạt thở mọi vết tích văn hoá Việt. Do lẽ đó chúng ta cần e dè với những chủ trương cởi mở kiểu ăn hổ lốn. Ăn hổ lốn thì có thể đi tả: chết. Văn hoá không khác.
Nhưng nếu thế thì chúng ta lại phải chấp nhận chủ trương các cụ xưa kia chăng, nghĩa là cho rằng mọi cái đều vay mượn của Tàu đến nỗi sau mấy hồi chống đối cho có lệ, cuối cùng lại phải trở về với ông thầy Tàu từ ngàn xưa? Xin gác sang bên vấn đề có phải các cụ xưa chủ trương thế , hay đó chỉ là chủ trương do thế hệ mới gán cho người xưa, ở đây chúng ta chỉ cần cứu xét tới nền móng của chủ trương. Theo đó thì Việt Nam là học trò của Tàu trong hết mọi phương diện. Nhưng xin hỏi tại sao trò lại giỏi hơn thầy ở một số điểm, không phải điểm thường nhưng là những điểm then chốt thuộc cơ cấu, và hơn như vậy trải qua nhiều ngàn năm, có nghĩa là những nét đó thuộc dân tộc chứ không phải là thuộc cá nhân, như thí dụ đã nói trên về tinh thần dân chủ xã thôn và địa vị đàn bà hoặc như các lề lối biểu lộ. Nho giáo lại được duy trì nhiều nhất trên đất Việt như các lễ Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trường Cửu ? v.v… sẽ bàn rộng trong quyển Triết lý cái Đình. ở đây tôi chỉ có ý nói rằng những lễ lạy đó không phải là tiêu biểu suông nhưng chính là dấu hiệu của những thực thể sống động, tức là các cơ cấu uyên nguyên của Nho giáo là âm dương hay là lưỡng nhất tính. Vậy mà tinh chất lưỡng nhất đó gắn liền với hồn nước như tiếng nói dân tộc (một lên một xuống đi đôi như: chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…) cũng như gắn liền với các danh hiệu của nước ta: Văn Lang, Xích Quỉ, Nam Việt nhất là hai chữ Giao Chỉ nói lên chỉ trời giao với chỉ đất. Rồi xét đến các thể chế lớn như làng nước, nhà nước, nhân dân v.v… tất cả đều tỏ ra thấm nhuần lưỡng nhất tính được bàn tới trong Kinh Dịch.
Trở lên là những điểm lẽ ra phải trở thành cột trụ cho nền quốc học, nhưng chẳng may vì một ngàn năm đô hộ, tiền nhân ta đã phải thâu nhận trọn vẹn Hán học và vì Hán học là một nền văn học, tức là cái học ôm ngọn mà bỏ gốc. Ngọn là văn học nó đòi phải có sự giầu thịnh và những thời thái bình lâu năm mới xây đắp được. Đó là những điều kiện thiếu cho nước Việt Nam quá bé nhỏ bên cạnh nước láng giềng quá lớn mạnh, vì thế khi chỉ căn cứ trên có văn học mà xét thì nhất định Việt Nam quả là suy kém, là học trò của Tàu. Nhưng chúng ta nên nhận xét là văn học Tàu mới được thiết lập từ đời Hán tức là giai đoạn đã đi vào lịch sử trọn vẹn và không còn vấn đề nguồn gốc nữa. Tàu hơn ta là vì đông hơn, mạnh hơn gấp cả trăm lần thì tất phải hơn ta về văn học. Còn ta kém vì luôn luôn bị đàn áp nên không có cơ hội phát triển một nền văn học. Vậy thì chủ trương cho rằng Việt Nam học mướn viết nhờ của Tàu là đúng nhưng chỉ ở ngọn, ở vòng ngoài, mà sai ở gốc, ở vòng trong..

3.- Việt Nho

Muốn giải đáp được tất cả mọi khó khăn cần phải đưa ra một chủ trương mới là Việt Nho: theo đó thì Nho giáo trước nhất do tiên tổ Viêm Việt sáng lập, rồi người Tàu đến sau làm cho hoàn bị cũng như làm cho sa đoạ. Đó là một chủ trương quá mới mẻ cũng như quá táo bạo nên không tránh nổi những vấn nạn quan trọng. Vấn nạn đầu tiên được nêu ra là thế này: nếu quả như thế vậy tại sao cho tới nay không ai biết đến, nhớ đến? Xin thưa rằng chùa Đế Thiên, Đế Thích mới xây vào những lối thế kỷ 9-11 vậy mà đến đầu thế kỷ rồi không có một người Miên nào biết tới, phải nhờ có sự tình cờ của người ngồi máy bay xem thấy nhô lên khỏi rừng một ngọn tháp rồi sau đó các nhà thám hiểm dày công tìm kiếm mới khám phá ra. Mới có 6,7 trăm năm đã chôn vùi nổi một sự kiện khách quan, huống chi đây lại là sự kiện văn hoá đã xảy ra có cả hàng 3,4 chục thế kỷ thì mong gì mà còn người nhớ. Tuy nhiên nếu chúng ta chịu lên máy bay nghĩa là đặt một cai nhìn bao quát trên toàn cảnh nền văn hoá Nho giáo, thì chúng ta cũng sẽ nhìn ra sự trổi lên một số ngọn tháp, nó sẽ là tiêu điểm cho cuộc khám phá sau này. Những ngọn tháp đó là những điểm sau:
1. Trước hết là sự tràn lấn của văn hoá du mục trên
văn hoá nông nghiệp xảy ra trong khắp toàn cầu. Trong quyển Việt Lý chúng tôi đã nhắc tới hai thí dụ Aryen Dravidien và Hellens Minoens…
1. Thứ đến là cuộc chống đối liên tiếp trước văn hoá
ngoại xâm của Việt tộc.
1. Ba là vô số truyện truyền kỳ thần thoại nói lên cuộc
giao tranh đó… như đã bàn một phần trong Việt Lý Tố nguyên (sẽ bàn thêm trọng tập Bốn chặng huyền sử nước Nam).
Vấn nạn thứ hai có thể rằng đó chỉ là một giả thuyết hay nói tâng bốc thì đó chỉ là một chủ trương. Vâng! đây chỉ là một chủ trương hay giả thuyết nhưng xin nhận xét rằng khi nói về nguồn gốc thì không thể có gì khác hơn là một giả thuyết. Nói rằng Hán học là của người Tàu mới là sự kiện, mới là lịch sử, còn nói người Tàu sáng lập ra Nho giáo thì đã là một giả thuyết, vì nó nằm bên ngoài lịch sử. Trong quãng khuyết sử đó có phải chính người Tàu đã sáng lập ra Nho giáo hay không thì đó lại là vấn đề khác, và vấn đề mới này chỉ có thể giải đáp bằng giả thuyết tuy giả thuyết cho là của người Tàu có vẻ đắc ý hơn, nhưng xét thấu vào sẽ gặp nhiều khó khăn hơn như vừa nói trên .
Còn giả thuyết Việt Nho tuy mới nhầm tưởng là yếu nhưng khi vượt thời gian về trước thời Xuân Thu và Chiến quốc thì thấy trả lời được nhiều khó khăn mà hai chủ trương kia không giải đáp nổi.

Thí dụ tại sao người Việt vốn chống đối Tàu mà lại không bao giờ chống đối Nho giáo nói chung, thì chỉ có thể giải nghĩa bằng giả thuyết này là trong tiềm thức tiên tổ vẫn nhớ đó là di sản tinh thần của dân tộc, nếu không thì đâu có chấp nhận Nho giáo sớm thế, dễ thế.
Những điểm chống đối Hán Nho đã được ghi lại một phần trong “Lĩnh nam trích quái”. Theo các tác giả xưa như Vũ Quỳnh hay Kiều Phú bàn về sách đó chứng tỏ hết mọi người Việt đều say ưa thích những câu truyện kể lại trong ấy, mà những câu truyện ấy tựu trung là chống Tàu, nếu chúng cũng chống Nho thì dễ gì mà Nho giáo đã chinh phục nổi mảnh đất Việt kể ngay từ những phần tử đề cao nền độc lập văn hoá hơn hết như Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trãi, Hàn Thuyên… Tất cả các phần từ ưu tú đó đã chấp nhận Nho giáo, chính vì coi đó như cơ cấu của dân tộc, và chính cơ cấu đó đã đem lại nét đặc trưng được biểu lộ rất rõ ràng trong đời Lê: yêu đời, giấn thân, tươi vui, dễ dãi, yêu chuộng hoà bình… Trên tôi nói Nho giáo chung là có ý dành quyền nói đến một số chống đối riêng như sự khe khắt trong vấn đề nam nữ (xem truyện Chiếc giầy thơm, Dạ Nhất Trạch… đều biểu lộ lối xử đối khoan dung độ lượng). Điều này giải nghĩa Việt Nho thì ổn nhất.

Việc lập ra chữ Nôm không phải do chống chữ Nho và có lẽ đã khởi đầu ngay từ đời Sĩ Nhiếp (vì ở Quang Tây đã có tục tự giống chữ Nôm của ta). Nếu giải nghĩa là sự chống đối nhà Tàu vì bãi bỏ chữ các nước chư hầu để thống nhất văn tự, thì có lý hơn bởi lẽ rằng trong các đời sau khi văn Nôm đã thịnh đạt thi vẫn đi đôi với chữ Nho như anh em một nhà: thời văn Nôm cực thịnh cũng là thời văn Nho cực thịnh. Điều này không thể giải nghĩa được do hai chủ trương tân cũng như cựu, vì theo tân thì lẽ ra thịnh Nôm thì Nho phải tiêu, còn theo cổ thì việc chi phải lập ra chữ Nôm.
Cuối cùng còn một điểm then chốt hơn hết là cả hai chủ trương trên đều bất lực trước sự thiết lập nên một quốc học hoàn bị: chủ trương cựu thì bất lực ít tức đã đạt đợt văn học nhưng chưa đạt đợt triết; còn chủ trương mới thì đừng nói đến đạt cái gì, hãy nói ngay một truyện duy trì cái tinh hoa của văn học cũng không xong. Bởi vì khởi đầu văn học bằng tuyên dương văn hoá Anh Đô Nê , Chàm, rồi chối bỏ Nho thì làm thế nào giải nghĩa nổi một bản văn Việt nào cho ổn. Thí dụ một câu thơ “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay ro” mà không thấu hiểu Nho giáo thì giải nghĩa sao nổi. Bất quá biết được tang là dâu, bồng là cỏ, với lệ tục bắn 6 phát tên… nhưng con cái triết nằm ngầm trong mấy chữ “trang trắng vỗ tay reo” thì sức mấy mà tới. Mà đã không tới được cái triết lý của nó thì giờ Việt Văn hầu hết chỉ còn là giờ tán dóc được che đậy bằng những cái vỏ bác học bên ngoài về thời đại tác giả, thân thế sự nghiệp v.v… Khi đã bỏ mất phần then chốt nhất là phận sự tiêm sinh lực vào cho mớ tri thức tản mát kia thì thân thế sự nghiệp của các tác giả hay các điều bác vấn chỉ là những tài liệu chết , càng chồng chất nhiều càng giết chết lòng ham học, lòng thành khẩn say sưa. Thế cho nên việc đặt lại vụ án văn hoá không phải là truyện lập dị, nhưng là việc cần thiết vừa để thoả mãn óc khoa học và nhất là vì có liên hệ quan trọng tới vận hệ nước nhà.

4.- Tam giác ngữ
Nếu nhận chủ trương Việt Nho thi bó buộc phải học chữ nho, một việc có thể coi là phiền toái. Tuy nhiên nếu xét bao trùm thì đấy lại là một sự may mắn, vì chữ Nho đáp ứng cho một trong ba nhu yếu nền tảng của con người mà ta có thể chỉ thị bằng ba tiếng thiên, địa, nhân.
Thiên chỉ nhu yếu của con người thích bay bổng để nhìn bao quát, thường biều lộ qua óc tưởng tượng, sự ham thích những truyện thần tiên, những gi mơ mộng, tự do phóng khoáng.
Địa chỉ nhu yếu thiết thực cần phải xác định rõ đường viền, biên giới minh bạch như đếm đo cân lường, thường biểu lộ bằng óc toán, óc khoa học thực nghiệm, óc pháp độ đâu ra đó…
Nhân chỉ nhu yếu tổng hợp hay giàn hoà giữa hai nhu yếu trái ngược trên kia, và ta quen gọi là tình lý tương tham. Trong đó tương tham chính là nhu yếu tổng hợp này, và con người lý tưởng là con người tổng hợp đúng mức hai yếu tố trái ngược nhau như tình với lý như hồn thơ với khoa học, thiên với địa… Trong câu tình lý tương tham thì tình chi thiên, lý chỉ địa, tương tham chỉ người. Đấy là ba nhu yếu nền tảng của on người mà tiên nho đã hé nhìn thấy và nói lên trong câu “nhân giả kỳ hiên địa chi đức” người là cái đức của thiên và địa, hoặc nói khác cái nhu yếu căn bản của con người là hoà hợp cả hai nhu yếu trái ngược: vừa muốn vươn lên mây như thi sĩ lãng mạn vừa muốn thăm dò đo đếm tường tận sự vật như nhà khoa học… Trong các triết gia hiện đại có Whitehead đã nhìn thấy ba nhu yếu đó và ông gọi là Romance, Precision and generalisation và đưa ra làm ba nhịp chính cho nền giáo dục được ông đề nghị:
Romance có thể dịch cách rộng là lãng mạn tính ưa mở rộng, đi với lối biết tổng quan, cần nhiều yếu tố mới lạ, mà chưa cần đi tới nhưng tiềm năng của mỗi sự kiện. Ta có thể gọi là giai đoạn” hưng ư thi “ hay là thời phát triển trí nhớ và óc tưởng tượng.
Precision là giai đoạn khởi đầu phân tích, xác định và cố biểu lộ bằng những công thức cách cặn kẽ kiểu khoa học. Có thể ví với “lập ư lễ”.
Generalisation là giai đoạn kiểm điểm lại những tri thức thâu lượm ở giai đoạn I, cộng them những chi tiết đã phân tích ở giai đoạn II để khám phá ra những mối liên hệ chung, những luật tắc ràng buộc các vật, các sự kiện lẻ tẻ. Đó là việc giai đoạn III. Trở lên có thể coi là giai đoạn đi được với ba nấc tiểu, trung và đại học, với ba quan năng được chú ý đặc biệt để phát triển cho hợp với tuổi là trí nhớ với óc tưởng tượng ở tiểu học. Lý trí suy luận phân tích ở trung học và phát minh sáng chế ở đại học, như chúng tôi đã đề nghị trong quyển Hiến chương giáo dục. Chi cần nhấn mạnh đây là những nét lớn với ba cõi nhập nhằng trồi sụt, nhất là với những cá nhân đặc biệt vượt xa khỏi luật chung đó. Tuy nhiên đấy là luật chung có thể hướng dẫn chúng ta và cần phải dùng mọi phương thế để phát triển cả ba nhu yếu đó.

Trong các phương thế bén nhạy hơn hết phải kể tới tiếng nói. Vì thế một nền quốc học hoàn bị ngoài việc theo ba nhịp của giáo dục, thì cũng nên có ba loại ngôn ngữ ám họp cho ba nhu yếu kia. Ông Whitehead đã đề nghị cho nước Mỹ và Anh một tam giác ngữ gồm Anh, Pháp và La Tinh. Trong đó hai tiếng Anh Pháp biểu lộ tâm trạng đời mới còn tiếng La Tinh là để móc nối ngược lên đến nguồn gốc văn minh Địa Trung Hải. “In English, French and Latin, we possess a triangle, such that one pair of Vertices English and French exhibits a pair of diverse expressions of two chief types of modern mentality, and the relations of these vertices to the third exhibit alternative processes of derivation from Mediteranean civilisation of the past.” (The aims of Education P.67) Trong tam giác ngữ trên thì tiếng Anh là thông ngữ đáp ứng nhu cầu tổng hợp hay là Nhân. Pháp là sinh ngữ biểu thị Thiên, con La Tinh từ ngữ biểu thị Địa. Ông cho rằng La Tinh là tiếng thiết yếu phổ biến không thể dùng nó để khóc, còn để cười thì cũng chưa chắc: it cannot laugh, it can hardly cry. Từ Lucrece có một chút còn thì không vượt qua địa phương Roma nên rất tốt để biểu lộ sự xác định (địa) và vì nhờ đế quốc Roma rộng lớn nên tiếng La Tinh cũng chở theo những yếu tố lớn, mà đó là một trong những đức tính cần thiết cho con người. Bấy giờ cần một tiếng chỉ Thiên thì lẽ ra tiếng Hy Lạp chơi vài trò đó (The languages of heaven will be Chinese, Greek, French, German…) Vì ngôn ngữ đại diện cho Thiên phải biểu lộ được những nét phổ biến như Nho, Hy Lạp, Pháp, Đức… như vậy lẽ ra phải học tiếng Hy Lạp nhưng nếu học Hy Lạp thì hoá ra những hai từ ngữ. Vậy đã học La Tinh thì phải bỏ Hy Lạp và thay vào bằng tiếng Pháp để có một sinh ngữ mới đủ sức làm cho tam giác ngữ sống động.
Nhin xem tam giác ngữ trên, ta thấy ngay sự nông cạn vì bỏ mất tiếng Hy Lạp, bởi dầu kém Nho nhưng Hy Lạp còn sâu hơn tiếng La Tinh nhiều. Thế nhưng hoàn cảnh không cho học làm khác được.
Về phía nước ta thì không gặp khó khăn với hai từ ngữ trên đây nên không gì ngăn cản chúng ta đưa chữ Nho vào chương trình để thoả mãn nhu yếu Thiên: tức lòng ưa những gì thâm sâu phổ biến, tức cũng là những đức tính Minh Triết, và về điểm này không một ai dám tranh thủ với chữ Nho ngay như ông Whitehead dù không biết chữ Nho cũng phải kể đến Nho trước hết trong bảng các tiếng chỉ Thiên, sau đó mới đến Greek, French, German… (Aims of Education p.68) Sở dĩ như vậy vi chữ Nho là thứ chữ tổng hợp hơn hết trên thế giới này nhờ lối viết tượng hình của nó nên vượt xa cả chữ Nêm của cổ Egypt, vì cũng còn có chữ Nho là duy nhất xứng danh là linh tự. Sanskrit mới là linh ngữ chứ chưa được là linh tự. Bởi thế với tam giác chữ Nho, Việt, Anh (hay Pháp) nền quốc học chúng ta sẽ đứng vào hạng nhất trên thế giới để khỏi nói nhất trong việc đáp ứng ba nhu yếu thâm sâu của con người. Chính vì thế ta mới hiểu được sức lôi cuốn kỳ lạ của chữ Nho trên cả những học giả Tây Phương. Hễ đã học Nho sâu đều công nhận sức thôi miên. Trong các phương thế bén nhạy hơn hết phải kể tới tiếng nói. Vì thế một nền quốc học hoàn bị ngoài việc theo ba nhịp của giáo dục, thì cũng nên có ba loại ngôn ngữ ám họp cho ba nhu yếu kia. Ông Whitehead đã đề nghị cho nước Mỹ và Anh một tam giác ngữ gồm Anh, Pháp và La Tinh. Trong đó hai tiếng Anh Pháp biểu lộ tâm trạng đời mới còn tiếng La Tinh là để móc nối ngược lên đến nguồn gốc văn minh Địa Trung Hải. “In English, French and Latin, we possess a triangle, such that one pair of Vertices English and French exhibits a pair of diverse expressions of two chief types of modern mentality, and the relations of these vertices to the third exhibit alternative processes of derivation from Mediteranean civilisation of the past.” (The aims of Education P.67) Trong tam giác ngữ trên thì tiếng Anh là thông ngữ đáp ứng nhu cầu tổng hợp hay là Nhân. Pháp là sinh ngữ biểu thị Thiên, con La Tinh từ ngữ biểu thị Địa. Ông cho rằng La Tinh là tiếng thiết yếu phổ biến không thể dùng nó để khóc, còn để cười thì cũng chưa chắc: it cannot laugh, it can hardly cry. Từ Lucrece có một chút còn thì không vượt qua địa phương Roma nên rất tốt để biểu lộ sự xác định (địa) và vì nhờ đế quốc Roma rộng lớn nên tiếng La Tinh cũng chở theo những yếu tố lớn, mà đó là một trong những đức tính cần thiết cho con người. Bấy giờ cần một tiếng chỉ Thiên thì lẽ ra tiếng Hy Lạp chơi vài trò đó (The languages of heaven will be Chinese, Greek, French, German…) Vì ngôn ngữ đại diện cho Thiên phải biểu lộ được những nét phổ biến như Nho, Hy Lạp, Pháp, Đức… như vậy lẽ ra phải học tiếng Hy Lạp nhưng nếu học Hy Lạp thì hoá ra những hai từ ngữ. Vậy đã học La Tinh thì phải bỏ Hy Lạp và thay vào bằng tiếng Pháp để có một sinh ngữ mới đủ sức làm cho tam giác ngữ sống động.
Nhin xem tam giác ngữ trên, ta thấy ngay sự nông cạn vì bỏ mất tiếng Hy Lạp, bởi dầu kém Nho nhưng Hy Lạp còn sâu hơn tiếng La Tinh nhiều. Thế nhưng hoàn cảnh không cho học làm khác được.
Về phía nước ta thì không gặp khó khăn với hai từ ngữ trên đây nên không gì ngăn cản chúng ta đưa chữ Nho vào chương trình để thoả mãn nhu yếu Thiên: tức lòng ưa những gì thâm sâu phổ biến, tức cũng là những đức tính Minh Triết, và về điểm này không một ai dám tranh thủ với chữ Nho ngay như ông Whitehead dù không biết chữ Nho cũng phải kể đến Nho trước hết trong bảng các tiếng chỉ Thiên, sau đó mới đến Greek, French, German… (Aims of Education p.68) Sở dĩ như vậy vi chữ Nho là thứ chữ tổng hợp hơn hết trên thế giới này nhờ lối viết tượng hình của nó nên vượt xa cả chữ Nêm của cổ Egypt, vì cũng còn có chữ Nho là duy nhất xứng danh là linh tự. Sanskrit mới là linh ngữ chứ chưa được là linh tự. Bởi thế với tam giác chữ Nho, Việt, Anh (hay Pháp) nền quốc học chúng ta sẽ đứng vào hạng nhất trên thế giới để khỏi nói nhất trong việc đáp ứng ba nhu yếu thâm sâu của con người. Chính vì thế ta mới hiểu được sức lôi cuốn kỳ lạ của chữ Nho trên cả những học giả Tây Phương. Hễ đã học Nho sâu đều công nhận sức thôi miên ma thuật của chữ Nho. Nếu có chữ nào trên thế giới so sánh được với chữ Nho phần nào chăng thì chỉ là chữ Tàu, nhưng thông tự của Tàu ( ? ) học lại khó quá và khả năng diễn tả những phân tích xác thiết lại kém quốc ngữ của ta. Quốc ngữ ta có thể bay bổng cung mây mà cũng có thể xác định như khoa học rất tinh mật. Nên nhiều người muốn dùng ngay quốc ngữ làm linh tự linh ngữ. Nhưng không thể được vì khi quá thông dụng thì mất tính chất u linh. Điều đó không thể xảy đến cho chữ Nho. Vi thế mà phải đưa chữ Nho vào làm gốc Thiên cho tam giác ngữ trong nền quốc học của ta.
Chỉ phiền có cái là khó nhớ, nhưng nếu cho học từ nhỏ thì không thành vấn đề. Khó nhớ là đối với người lớn đã hết giai đoạn trí nhớ mà thôi. Vì thế chúng tôi dám chắc rằng nếu xếp chương trình như đã đề nghị trong “Hiến chương giáo dục” thì chúng ta sẽ có thể hiện thực cho nước nhà một tam giác ngữ lý tưởng mà đó là con đường tốt hơn hết để dẫn đến một nền quốc học hoàn bị nhất.
Chúng ta biết Tượng chỉ là một phần nhỏ xíu trong văn hoá của ta, nên phải ý tứ với những lời phê phán của các nhà chuyên môn hay bị méo mó nghề nghiệp thí dụ Boisselier nghiên cứu về tượng nhận xét rằng Chiên Thành mang lại cho Việt Nam sau này ít ra cũng bằng nó nhận được.
I a statuaire do Champa. BEFEO LIV Paris 1963

Trích Kim Định- chương 4 sách Vấn đề Quốc học

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s