Văn trong giáo dục: “ứng xử” thay cho “xử lý”

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Đọc tiếp “Văn trong giáo dục: “ứng xử” thay cho “xử lý””

Một nền giáo dục trắng

Màu trắng là màu có độ sáng cao nhưng có giá trị màu sắc bằng 0.

Trắng đại diện cho sự tinh nguyên, vẹn toàn, chưa nhuốm bẩn.

Trắng cũng thể hiện sự yêu thích những điều đơn giản, rõ ràng, chân thật và không thoả hiệp với những vết ố màu.

Chúng ta nhìn lại nền giáo dục với những con người qua vụ việc của một nhà giáo, một nhà giáo đầu tiên sau 15 năm công tác bị những cánh tay của đồng nghiệp giơ lên ủng hộ việc xoá bỏ tên của cô khỏi danh sách ngành giáo dục, chỉ với một lý do, cô đã đấu tranh cho những nhà giáo ươn hèn, vô liêm xỉ để chống lại những sai trái mà cô đã nhận ra về các hoạt động liên quan đến tài chính và sự công bình khi phân bổ nguồn nhân lực, phương cách điều hành trong quản lý giáo dục.

Nói đến bản chất sự việc, chính phủ khuyến khích người dân thực hiện quyền làm chủ, khuyến khích người dân phát hiện những hiện tượng mà bộ máy công quyền thực hiện chưa đúng, sai trái để cùng chính phủ phòng, chống, nhằm lập lại một xã hội văn minh, một xã hội đáng sống hơn và công bằng cho mọi người dân.

Chúng ta nhìn thấy gì qua việc ứng dụng lời kêu gọi từ chính phủ? Chúng ta cũng nhìn thấy gì từ những giáo viên- những đồng nghiệp của cô giáo Nhung – giáo viên âm nhạc trường Trung Học Cơ Sở Yên Sơn, Quốc Oai, Hà Nội? Chúng ta nhìn thấy gì từ một nền giáo dục giơ tay?

Tôi vẫn tin tưởng vào chân lý, rằng chỉ có sự thật mới tồn tại vĩnh cửu, còn những thứ giống như sự thật hoặc sự gian trá sẽ phải bị huỷ diệt và đưa ra công luận soi xét để phân xử.

Chúng ta có luật pháp, có những toà án, có những luật sư, cũng có những bộ ban ngành, chúng ta không thiếu bất kỳ cơ quan nào mà những quốc gia tiến bộ đang có. Có chăng, chúng ta chỉ thiếu cách mà các nhân tố trong đó thực hiện, tính nhân bản, tính trách nhiệm của những người thi hành đang khác nhau.

Chúng ta có những nhà giáo, nhà giáo với vai trò xây nền cho giáo dục, nhà giáo với vai trò là cầu nối của tri thức nhân loại, sự công bình và tình yêu con người. Nhà giáo-người mang đến cho thế giới những con người có ích cho cộng đồng, mang lại những đứa con có ích cho quê hương, mang lại những tri thức tương lai xây dựng đất nước, mang lại bầu trời trong xanh cho một dân tộc giống lòi. Nơi nào có nhà giáo chân chính đúng nghĩa, nơi ấy có bâù trời cao xanh không gợn sóng. Bầu trời của niềm tin, của hy vọng, của một ngày mai rực sáng trên nền trời nhân loại.

Nhưng đến hôm nay, nhìn vào một vài trường hợp, một vụ cá thể của cô giáo Nhung, chúng ta phải nghĩ, phải nghĩ lại, phải soi lại rất nhiều điều từ các nhà giáo.

Và phải hỏi lại, họ là ai? Họ đang có nhiệm vụ gì trong giáo dục? Họ có trách nhiệm gì với những đồng nghiệp? Họ đang sống vì điều gì? Họ có tính nhân bản để lan toả cho một cộng đồng, cho những thế hệ tương lai?

Một nhà giáo với 15 năm công tác. Con số 15 là đi nửa cuộc đời trong sự nghiệp. Một con số không nhỏ trong đời người. Nhất là, công việc ấy, với mức thu nhập eo hẹp, với một công việc mang lại niềm yêu cho đời, cho những đứa trẻ thơ dưới bàn tay của cô. Một giáo viên âm nhạc, đâu có thể nào mang đến những điều xấu xa cho bất kỳ ai?

Nhưng những cánh tay giơ lên với cô. Một sự biểu quyết của đám đông hỗn tạp, của đám đông vô trí. Họ đã ngang nhiên cướp đi của các em học sinh người thầy, họ ngang nhiên cướp đi của đồng nghiệp một niềm yêu thích công việc, họ ngang nhiên thể hiện chính kiến trong một việc không cần phải thể hiện. Bởi, họ chỉ là người cùng có nhiệm vụ giáo dục, không có nhiệm vụ đánh giá, phân định nhất là sự phân định về sự nghiệp của một người đồng nghiệp. Họ không hiểu nổi một sự giản đơn như vậy, thử hỏi họ giáo dục những đứa trẻ thế nào?

Một nền giáo dục trắng. Trắng theo nghĩa không có gì cả. Bởi những nhà giáo không có gì trong trí não, trong tư duy của nhân tính con người thì họ đang mang một trí tuệ trống rỗng. Họ không xứng đáng đứng trong ngành giáo dục.

Những nhà quản lý giáo dục, những người yêu chuộng công lý, những phụ huynh và cả những đứa trẻ, kể cả là học trò của cô Nhung hay không phải, cũng rất cần thể hiện sự bất bình, chúng ta cần chống lại cái sai trái để tìm lại sự công bình cho chính chúng ta trong tương lai.

Không một giáo viên nào như những trường hợp của cô giáo Nhung đáng bị đuổi khỏi ngành.

Nếu không làm được điều này, chúng ta sẽ có một xã hội hỏng dần,…

Tulip Đen.
Thạc sỹ toán học- Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam

Bài viết thuộc Chương trình bảo vệ quyền lợi giáo viên do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức. Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/AT6x11 

Ứng xử thế nào trong tiết học đầu tiên

Tiết học đầu tiên của một giáo viên bộ môn (không làm công tác chủ nhiệm) là tiết học mà bạn lần đầu bước vào lớp mới với vai trò giảng dạy bộ môn bạn phụ trách.

Bạn cần làm gì? Đọc tiếp “Ứng xử thế nào trong tiết học đầu tiên”

Nịnh trong giáo dục

Nịnh là một từ dùng để chỉ các lời nói,hành động biểu lộ sự khen gợi một cách thái quá, lố bịch với người được nịnh và người nghe.

 

Nịnh có tốt không? Có nên dùng không? Tại sao lại dự thảo văn bản cấm nịnh?

 

Nịnh về mặt nào đó có thể thấy cũng cần thiết cũng tốt cho người được nghe trong trường hợp người đó đang bị mất phương hướng về tinh thần hoặc đang có những mặc cảm về kết quả dự tính có thể mang lại những thất bại hơn là thành công. Nịnh trong trường hợp này là nói quá lên những điều mà thực tế có thể diễn ra nhằm tạo thêm động lực cho người được ninh, vì vậy, nó mang ý nghĩa động viên khích lệ và với ý tốt, không vụ lợi, chỉ mục đích nghĩ cho người được nịnh vì họ đang trong lúc quẫn bách mà chưa nghĩ ra điều gì sáng tỏ hơn.

 

Nhưng đa phần nịnh của người Việt mang ý nghĩa của việc xu nịnh, tức nịnh thái quá sự thật rất nhiều nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân người nịnh. Nịnh trong trường hợp này là sai trái, cần phải xác định để loại trừ, nên mới có hẳn văn bản dự thảo cấm nịnh.

 

Bản chất của người Việt có một chút xấu phổ biến, đó là hay ganh đua tị hiềm, thường ghét người khác hơn mình, nếu có kẻ hơn mình lại nghĩ cách hạ họ xuống ngang tầm hoặc thấp hơn mình. Ví như có học sinh thường ngày không chịu học, đến một ngày đẹp trời nổi hứng học chăm chỉ, khi đó thay vì khen ngợi bạn, thì các bạn cùng lớp lại dè bỉu trêu chọc rằng hôm nay trời mọc đằng Tây hay hôm nay có khi sắp bão,… Hoặc có bạn nữ thường ngày không trang điểm, ăn mặc không hợp thời trang, đến khi có sự thay đổi, thì thay bằng việc khen rằng bạn mặc đẹp hơn, quyến rũ hơn thì các bạn lại hùa nhau trêu rằng hôm nay có anh nào đưa đón mà diện vậy, chắc nhà mới kiếm được tiền ở đâu nên mới có đồ mới,…Hay với giáo viên cũng không kém phần. Khi giáo viên nào có phương pháp giảng dạy mới với bộ môn, thay vì học hỏi và động viên cùng hưởng ứng sự mới mẻ, thì họ tố nhau rằng thích khác người, tự dưng bày trò làm bận thêm, có khi nói thẳng luôn rằng làm như vậy chỉ lợi cho học sinh còn mình vất vả hơn mà có được gì đâu, hâm,…

 

Nịnh của người Việt đã đến mức báo động. Báo động bởi nó đã làm sai lệch đi nhiều kết quả thực tế, nó làm biến dạng về mặt bản chất sự việc, lời nói nhằm đạt được lợi ích cho người nịnh. Và đôi khi nó đã gián tiếp gây hại cho người khác có liên quan trong việc nịnh đó.

 

Giáo dục Việt Nam đang có nhiều chính sách bất cập, hiện tượng giáo viên biên chế , hợp đồng với công việc mức lương ưu ái khác nhau, giáo viên với mức lương hạn eo hẹp, không có thêm các nguồn thu nhập ngoài nào khác chỉ trông chờ vào lương tiết dạy nên sẽ luôn trong tình trạng thiếu thốn và đa phần giáo viên cũng là người không đủ năng lực trình độ trong việc xây tạo các nguồn thu khác ngoài lương,…nên việc ganh đua trong các trường học hiện nay rất căng thẳng. Họ ganh đua, bon chen nhau vì miếng cơm manh áo cho mình và gia đình, họ cố kiếm sống cho bằng bạn bằng bè, họ tự phải đẩy đua nhau để được nhận mức lương cao hơn đồng nghiệp. Một ngành giáo dục đào tạo con người, nhưng lại đưa ra mức trả lương không dựa vào niềm tin con người, không dựa vào trách nhiệm với công việc mà đem giáo dục ra đua tranh như thương trường, như các ngành kinh tế, thì thử hỏi chữ trách nhiệm sẽ còn không?

 

Giáo dục không thể tính theo giờ, ngày hay tháng. Giáo dục tính theo năm, có khi còn lâu hơn thế. Có những học sinh ngồi trên ghế nhà trường luôn quậy phá, lười học, tạo nên bảng thành tích thi đua của các thầy cô ở mức thấp nhất, nhưng lại là những đứa trẻ ra đời nhớ đến lời dạy thầy cô tâm huyết mà luôn làm theo, luôn sống có trách nhiệm với bản thân và mọi người, có nhiều đóng góp cho cộng đồng xã hội. Trong khi nhiều học sinh giỏi, ngoan ngoãn, không gây bất kỳ vướng mắc nào cho giáo viên thì chúng quên thầy cô và lời dạy của thầy cô ngay khi ra trường, chúng mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, làm dân thì gian, làm quan thì tham, vậy thầy cô đã từng dạy chúng coi như thất bại chứ đâu coi là giỏi hay thành công?

 

Nịnh trong giáo dục thể hiện rất rõ khi sự ganh đua ở mức cao để đạt những nguyện vọng của bản thân trong quá trình học tập công tác. Học sinh nịnh thầy cô để được cho điểm cao, để được xem nhẹ hơn việc bê trễ nề nếp, được nâng đỡ khi xem xét thi đua. Giáo viên thì nịnh sếp để được cất nhắc lên vị trí cao hơn, để được giảng dạy ở lớp có học sinh giỏi hơn, học sinh ngoan hơn giúp bảng thành tích nhiều hơn, để được phân chia quyền lợi nhiều hơn và dễ dãi hơn khi xin nghỉ làm,… Giáo viên nịnh nhau để tạo phe bè cùng bảo vệ nhau nhằm cùng hưởng lợi, cùng ủng hộ nhau trong các việc làm lén lút sai trái.

 

Môi trường giáo dục cũng muôn vàn kiểu nịnh. Bản chất cuối cùng đều nhằm mục đích làm ít hưởng nhiều không phải sáng tạo được phép ngu nhưng vẫn khen ngợi. Đó là cái nịnh nguy hiểm, nó sẽ giết chết mọi đứa trẻ đang được tạo ra từ ngành. Những đứa trẻ cũng thích xu nịnh để làm ít, học ít nhưng được khen nhiều.

 

Nịnh chính là huỷ hoại sự thật, trách nhiệm, niềm tin và sự công bình.

 

Tulip Đen.

Thạc sỹ toán học, Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Cần xóa bỏ hội thi giáo viên giỏi, thi học sinh giỏi

Giáo dục Việt Nam sau gần 30 năm tôi chứng kiến cho đến nay gần như không có thay đổi nhiều, có khi những thay đổi rất quẩn quanh, lặp lại theo đúng vòng quay cũ.

Cái sự lặp lại đó thể hiện rất rõ trong các cuộc thi thố ganh đua giữa các học sinh hay giữa các giáo viên với nhau. Đã là cuộc thi thì phải phân thắng bại, nhất nhì ba, phải phân loại giữa học sinh dự thi, rồi đến phân loại cấp trường sau kết quả thi của học sinh. Giáo viên thì quay cuồng với các lượt thao giảng cho người đến dự giờ đánh giá, rồi phải nộp để kiểm tra hồ sơ, giáo án, sổ sách, căng nhất là cuộc thi giáo viên dạy giỏi, rồi giáo viên chủ nhiệm giỏi.

Bản chất các cuộc thi, nếu theo nghĩa đúng đắn là để đánh giá kết quả đã đạt được từ đó tạo dựng các số liệu thống kê giúp các nhà hoạch định chính sách hay các giáo viên học sinh đưa ra kết luận, khuyến nghị để đề xuất thay đổi chỉnh sửa, phát huy các điểm đã thực hiện tốt,… Mỗi cuộc thi nếu làm đúng bản chất thì mang lại sự nghiêm túc trong công việc giúp các thầy cô hay học sinh được cơ hội học hỏi những điều chuyên sâu hơn mà khi thực hiện hàng ngày còn chưa có sự chuẩn bị chu đáo hay chưa có sự tổng hợp được đầy đủ.

Nhưng đa phần các cuộc thi hiện nay đều bị biến tướng, nguyên nhân là do sự khen thưởng đều dựa vào kết quả của cuộc thi, đặt cuộc thi với áp lực thành tích phải đạt được, đã vô tình bỏ qua mọi cố gắng mang tính trách nhiệm, tính học hỏi điều mới mẻ trong một niềm vui học tập, bỏ qua luôn cả sự tự tin thoải mái để có đủ sự minh trí giúp chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ quan trọng đúng đắn đó là dạy và học.

Giáo viên hay học sinh trước khi đi thi đều bị áp lực của thành tích, đều muốn làm bài thi một cách tốt nhất, theo nghĩa tốt về mặt hình thức chuyên môn, tức làm cho đúng, không được phép sai sót, làm đủ giờ không được phép thiếu thừa, làm đủ nhiệm vụ theo kế hoạch không thể bất chợt sáng tạo.

Khi bước vào phòng thi, giáo viên dự thi phải lên gân lên cốt để bình tĩnh diễn trước những ánh mắt xăm soi của những giám khảo ngồi dưới, họ nhìn họ nghe, đôi khi họ lắc đầu hay gật đầu cũng khiến người thi bị xáo động. Trong thời gian làm bài thi, cả học sinh hay giáo viên cũng đều lo sợ như nhau, lo sợ mình nói sai, làm sai, hay có điều gì đó chưa kỹ lưỡng khiến cho kết quả đạt được phải hối tiếc những điều đã được chuẩn bị từ trước. Cho nên mới có chuyện, nhiều học sinh ngay hôm trước ngày thi thì bị ốm, giáo viên ngay trước ngày thi thì mất ăn mất ngủ, hốc hác mặt mày vì chạy đôn đáo lo chuẩn bị giáo án, chuẩn bị bài, chuẩn bị các thiết bị, hồ sơ, rồi cả những câu hỏi kèm các câu trả lời của học sinh.

Bình thường một tiết học, học sinh có thể tự tin sáng tạo và suy nghĩ các cách làm khác nhau cho một vấn đề đang học, và suy nghĩ đó có quyền đúng sai hay dở. Cũng như vậy, bình thường giáo viên hoàn toàn có thể chủ động trong việc hướng dẫn trò, có thể cũng có lúc quên kiến thức phải tra cứu lại sách vở hay hẹn học trò buổi khác để giải đáp nếu học trò nêu ra các câu hỏi mà mình chưa sẵn câu trả lời. Nhưng khi dự thi, thì điều này được đánh giá rất nghiêm ngặt, có khi bị đánh giá ngay là trình độ thầy cô kém, không có hiểu biết chuyên môn, các thầy cô có khi nhận ngay kết quả không đạt hay không được khen thưởng,… Vì vậy, mới có chuyện gà bài trước cho trò, hay học sinh thì có bạn xin nghỉ ốm vì lo sợ về kết quả bài thi.

Phần lợi của cuộc thi đạt được rất ít, và phần lợi đó hoàn toàn có thể đánh giá qua những cách thức đơn giản hơn mang tính xây dựng như hội thảo, chuyên đề để cùng nhau tìm ra phương pháp, giải pháp thích hợp cho một nội dung cụ thể nào đó, và khi đó tất cả đều coi trọng nhau, cùng nhau hợp tác để đạt kết quả cao nhất cho công tác giáo dục. Hay học sinh có thể cùng thầy cô và các bạn tổ chức các lớp học chuyên đề chuyên sâu để phát triển những năng lực nổi trội về bộ môn cho các em có khả năng thiên phú hoặc yêu thích môn học đó, giúp các em có thêm niềm say mê hứng khởi phục vụ cho việc sáng tạo thêm kiến thức mới mẻ trên cơ sở những điều đã học.

Các cuộc thi mang chữ “giỏi” đang tạo nên những phản giáo dục, gây bất lợi nhiều hơn ích lợi, tốn thời gian công sức của người tham gia, tạo môi trường cho các cơ hội giả tạo, cơ hội chạy chọt về điểm số về thành tích tăng lên, trong khi chất lượng lại giảm đáng kể so với những hình thức tổ chức khác.

Và chữ “giỏi” đồng nghĩa với việc chính ngành giáo dục đã đi ngược lại với những gì mà ngành tạo ra, phải chăng những giáo viên đang đứng lớp chưa giỏi, học sinh học tập không thể giỏi, nên phải tạo thêm các cuộc thi để chọn gà lòi, nuôi bảng thành tích cho ngành?

Viết bởi Tulip Đen– Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.
Tác giả là thạc sỹ toán học, hiện đang giảng dạy tại thành phố Hà Nội.

Bài viết thuộc Chương trình cải cách nhà trường  do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức. Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/MJvhf8

Trong giáo dục có kinh doanh không?

Có chứ, vì nó bán các giá trị và kỹ năng cần thiết cho khách hàng. Vậy, vì sao “kinh doanh giáo dục” lại bị phê phán? À, là bởi vì nó bị “thương mại hóa”.

Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh nói tiếp: “Nhưng thế nào là thương mại hóa? Theo tôi hiểu, đó chính là chỉ nhắm vào lợi nhuận của người bán mà ít nhiều quên đi sự chăm chút đối với sản phẩm và những lợi ích mà những sản phẩm ấy đem lại cho người mua”. (*)

Trong một chia sẻ mang tính cá nhân, tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh nói rằng một trong những biểu hiện rõ nhất của thương mại hóa giáo dục, là truyền thông không hoàn toàn đúng với giá trị của sản phẩm. Đó cũng là những điều mà các tổ chức kiểm định quốc tế vô cùng quan tâm.

Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh biện giải: “Lâu nay tôi vẫn suy nghĩ nhiều về sự khác biệt giữa giới giáo dục và giới kinh doanh. Kinh doanh liên quan đến thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng nên thường xuyên thay đổi. Vì vậy trong giới kinh doanh khả năng thay đổi liên tục là một điều được đánh giá cao. Trong khi đó, giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông, liên quan đến các giá trị nên thường bền vững hơn và ít thay đổi. Tất nhiên giá trị cũng thay đổi nhưng có lẽ chỉ là thay đổi những biểu hiện bên ngoài còn bản chất chất thì vẫn giữ nguyên. Mà ngay cả những biểu hiện bên ngoài cũng chỉ thay đổi từ từ chứ không thay đổi ngay lập tức.

Hãy lấy một ví dụ là cái đẹp. Rõ ràng biểu hiện của cái đẹp đã thay đổi rất nhiều trong suốt tiến trình lịch sử. Nhưng dù trong thời đại nào thì nguyên tắc căn bản của cái đẹp vẫn phải là sự cân đối hài hòa. Cho dù phụ nữ đẹp thời Phục hưng sẽ có hình thức khác hẳn với thời Lãng mạn, hoặc thời Hiện đại thì trong mọi thời đại cũng không ai xem một phụ nữ ngực nhỏ bụng to mông lép lưng còng là đẹp, vì nó hoàn toàn phản lại nguyên tắc hài hòa cân đối đã nêu ở trên.

Nhưng nếu vậy thì sao? Tôi nghĩ đến việc truyền thông trong giáo dục. Mỗi thương hiệu nhà trường tượng trưng cho một giá trị. Vì vậy nội dung của truyền thông giáo dục phải do các nhà giáo dục đưa ra, chứ không thể do các giới ngoài giáo dục – ở đây tôi muốn nói đến những người chuyên làm truyền thông cho doanh nghiệp. Bởi vì do bản chất cần thường xuyên thay đổi của mình nên giới kinh doanh ít lưu ý đến các giá trị bền vững nhưng vô hình.

Đối với giới kinh doanh, chỉ có một loại giá trị thôi: giá trị quy ra tiền. Đó là vai trò của họ, và điều đó đáng kính trọng. Nhưng khi họ kinh doanh trong giáo dục mà không hiểu giáo dục thì trước sau gì họ cũng sẽ thất bại, hoặc thành công nhưng với cái giá lớn hơn rất nhiều lần so với những gì họ đáng phải bỏ ra nếu biết làm đúng cách.

Khi nào giới kinh doanh trong giáo dục hiểu ra điều này? Thưa, tôi không có lời giải đáp”.

Nguồn: Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam- Nguyễn Cao (ghi)

Chú thích:

(*) Bà Vũ Thị Phương Anh có học vị tiến sĩ Đo lường và Đánh giá giáo dục, tại Đại học La Trobe Úc, 1998. Bà có bằng thạc sỹ chuyên ngành Phương pháp giảng dạy tiếng Anh Đại học Canberra năm 1991, Úc.

Bà bắt đầu giảng dạy từ năm 1983 và có nhiều năm giữ vị trí quản lý trong các trường đại học. Bà từng giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, và hiện đang là Ủy viên Ban chấp hành Phân hội Giảng dạy tiếng Anh Việt Nam (Viet Tesol Association, VTA).

Liên kết ngoài:

Ai đủ khả năng lãnh đạo nền văn khoa của dân tộc Việt Nam?

Lại chuyện giấy vệ sinh trong phòng vệ sinh của học sinh nữ

Hôm nay bước vào lớp học sinh hỏi tôi: Cô ơi, thế nhà vệ sinh có giấy chưa cô? Tôi bảo chưa. Chúng nói: Ôi, bài của cô hơn 300 lượt thích, hơn 100 lượt chia sẻ, nhưng mà sao lại không có giấy vệ sinh, đó là thứ cần thiết mà cô!?

Tôi nói: Ừ, rất cần thiết. Cô chỉ cần nghĩ đến việc các bạn nữ như các em đến tháng mà không có giấy thì rất bất tiện. Các em có thể nhịn đi nặng nhưng không thể hoãn đến tháng.

Chúng nói, sao lại có những điều vô lý vậy cô. Mà sao các thầy cô lại không đồng ý chứ?

Tôi đã phải trả lời chúng: Thực ra người đứng đầu trường này đã đồng ý sẽ cấp giấy cho các em với nhận thức giống cô là rất cần thiết phải có giấy. Nhưng lập trường không bản lĩnh em ạ. Bị điều khiển từ xa, giật dây để thay đổi. Mà có khi, có cô em nào đó lả lơi, dúm dấu sau lưng để ra mệnh lệnh, chứ đàn ông đội trời đạp đất dễ gì nghe ai mà thay đổi một lời nói đã hứa trong cả một hội nghị chính thức với nhiều người đã nghe? Dưới bàn tay đàn bà lả lướt thì anh hùng nào thoát khỏi ải mỹ nhân?

Thôi, cô đùa thôi. Cô cũng đoán già đoán non vậy.

Thật là, cô là người cổ xưa, rất cổ. Cô vẫn tin, luôn tin, có một ngày gần nhất, sẽ có làn gió mới thổi đến, đổi chiều hướng, mang mây đen đã che mắt người, đưa điều tốt đẹp giản dị nhất ấy tới cho các em, em ạ.

Cô giáo Đỗ Thư

Một số so sánh về giáo dục giữa Việt Nam và Phần Lan

STT Việt Nam Phần Lan
1 Cạnh tranh giữa các trường

 

Hợp tác giữa các trường
2 Tiêu chuẩn hoá việc học

 

Đặt ra mục tiêu kết quả rõ ràng, cao và được quy định từ trên xuống cho tất cả trường học, giáo viên và học sinh.

 

Dẫn tới tiêu chuẩn hoá việc dạy thông qua chương trình đào tạo được xây dựng từ bên ngoài.

 

Cá nhân hoá việc học

 

Đề ra khuôn khổ quốc gia rõ ràng nhưng linh hoạt cho việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng trường. Khuyến khích các giải pháp trường và giải pháp cá nhân.

 

Tìm ra cách tốt nhất để tạo ra các cơ hội học tập cá nhân hoá cho tất cả học sinh.

 

3 Tập chung vào đọc, viết, toán và khoa học tự nhiên.

 

Thời gian dạy các môn này được tăng lên, đồng thời thời gian các môn khác giảm đi (như nghệ thuật, âm nhạc)

 

Tập trung vào toàn bộ học sinh

 

 

Mục đích của việc đến trường là tìm ra tài năng trong mỗi cá nhân để phát triển.

4 Trách nhiệm giải trình dựa trên bài kiểm tra (bị trừ đi tinh thần trách nhiệm)

 

Dùng bài kiểm tra để khen thưởng hay trách phạt, trả lương cho giáo viên hay đánh giá nhà trường.

 

Trách nhiệm dựa trên lòng tin

(Tính chuyên nghiệp)

 

Dùng bài kiểm tra để các cơ chế  trách nhiệm giải trình tác động tới công việc của giáo viên và việc học của học sinh.

5 Lựa chọn trường học

 

Khuyến khích cạnh tranh giữa các trường để phục vụ nhu cầu của gia đình.

Bình đẳng kết quả

 

Mọi học sinh có triển vọng thành công ở trường như nhau.

 

6 Chất lượng cá nhân giáo viên

 

Tính đồng nghiệp
7 Công nghệ

(mang nặng tính kỹ thuật)

 

Sư phạm

(mang đậm tính giáo dục)

8 Chiến lược rời rạc

 

Tư duy hệ thống

Tulip Đen- Thạc sỹ toán học- Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam..

Trung tướng Lê Đông Phong muốn tập hợp hiệp sĩ đường phố thành nghiệp đoàn hiệp sĩ

Trung tướng Lê Đông Phong, Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh
Trung tướng Lê Đông Phong, Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tướng Lê Đông Phong, lãnh đạo của ngành công an ở Hồ Chí Minh đang rất muốn “hợp thức hóa” mô hình hiệp sĩ. Các đề xuất của công an Hồ Chí Minh lên Bộ Công An nhằm vào ý tưởng tập hợp các hiệp sĩ thành nghiệp đoàn- dịch vụ bảo vệ.

Đọc tiếp “Trung tướng Lê Đông Phong muốn tập hợp hiệp sĩ đường phố thành nghiệp đoàn hiệp sĩ”

Con người hay rô-bốt?

Lâu lắm mới được đọc một đề văn mới mẻ, độc đáo, tạo ra tình huống cho trò thoả sức thể hiện cái tôi riêng – khó, mà không khô cứng bởi những vấn đề lý luận màu xám như thường thấy trong đề thi học sinh giỏi quốc gia.

Cả hai câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học đều mang đậm chất nhân văn khi hướng tới sự đề cao Bản Ngã ( câu 1) và vai trò cá tính sáng tạo của nhà văn trong quá trình sáng tác (câu 2)!

Gạch nhanh tạm mấy ý cho các trò vừa về tới nhà xem qua nhé!

Câu nghị luận xã hội:

“Hãy để tâm đến những tiếng nói nội tâm nhỏ bé nhưng bền vững trong bạn hơn là những tiếng ồn ào, náo loạn từ bên ngoài.”

50552580_10218056935597272_1477058752245923840_n
1/ Giải thích khái niệm
– Những tiếng nói nội tâm nhỏ bé nhưng bền vững bên trong: chính là những suy nghĩ, xúc cảm, quan niệm riêng của mình về cuộc sống, về con người, về chính bản thân.
– Những tiếng ồn ào, náo loạn từ bên ngoài: là những suy nghĩ, xúc cảm, quan niệm… của mọi người xung quanh về những vấn đề có thể mình cùng quan tâm.

2/ Lí giải vấn đề:
2.1/ Những tiếng nói bên trong mình:
+ Nhỏ bé: vì chỉ là quan niệm của cái tôi cá nhân, không mang tính đại diện cho cộng đồng.
+ Bền vững: vì là quan niệm cá nhân, là kết quả của những suy xét, trải nghiệm cá nhân, ít bị chi phối và xung đột bởi nhiều quan niệm, nhiều góc nhìn như các quan niệm trong cộng đồng.
+ Cần được để tâm, coi trọng: vì là kết quả những trải nghiệm, cách sống, cách nghĩ của chính mình, nếu coi nhẹ nó mà thay đổi theo thời thế, theo sự chi phối của những quan niệm bên ngoài, con người sẽ không còn là chính mình, đánh mất chính mình!

2.2/ Những tiếng nói bền ngoài:

+ Ồn ào, náo loạn: vì là các quan niệm của đám đông, luôn hàm chứa những mâu thuẫn, xung đột, những thay đổi, khúc xạ, trái chiều…

+ Không thể bỏ qua tiếng nói cộng đồng, dư luận, nhưng vì đó là những quan niệm của người khác, không phải của mình, vì luôn xung đột, biến đổi, trái chiều… nên chỉ nên coi như những quan niệm để tham khảo, giúp bản thân tự điều chỉnh, bổ sung cho quan niệm của mình mà không thay đổi theo một cách hồ đồ, nóng vội.

3/ Bàn luận:
– Cần đủ trí tuệ, bản lĩnh để tự tin vào quan niệm của chính mình
– Cần đủ sự cầu thị để biết lắng nghe và tiếp nhận những quan niệm đúng đắn.
– Cần đủ lòng bao dung để chấp nhận sự khác biệt!

Câu Nghị luận văn học:

1. Đặc trưng của văn chương:

– Đó là lĩnh vực sáng tạo của cái tôi, cái duy nhất, không lặp lại, và ngoại trừ những vấn đề của in ấn hay soạn thảo văn bản…, quá trình sáng tạo dù thời nào cũng luôn chỉ thuộc về con người!
– Văn chương là sản phẩm của tư duy/ xúc cảm của con người, tư duy có thể lập trình, nhưng xúc cảm luôn chỉ thuộc về con người!

2. Chứng minh qua thực tế sáng tạo văn học:
– Cùng một đề tài, mỗi tác giả có hướng khai thác, cảm nhận, góc nhìn, và cách thể hiện khác nhau! Đó là điều không công nghệ nào có thể thay thế!
– Cùng một tác giả, một đối tượng thẩm mĩ, nhưng vẫn có những sản phẩm văn chương khác nhau, do sự trải nghiệm, tâm thế, hoàn cảnh sáng tác…
– Do vậy, cá nhân mỗi nhà văn, với trải nghiệm, tài năng, trí tuệ…riêng sẽ tạo ra cá tính sáng tạo cho văn chương, tạo nên những sản phẩm tinh thần mang giá trị thẩm mĩ không lặp lại, bởi sự lặp lại là cái chết của văn chương!
– Có thể dẫn lời Nam Cao: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” —> Đặc trưng này khiến sáng tạo văn chương mãi mãi là độc quyền của con người!

 

Cô giáo Trịnh Tuyết Thu/ Facebook

Xem bộ Giáo trình Ứng xử sư phạm do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam xuất bản tại đây: https://goo.gl/rn8GZD