Gần 300 giáo viên cống hiến lâu năm cho ngành giáo dục đứng trước nguy cơ mất việc

Đài VOV ngày 29 tháng 3 năm 2019 loan tin, gần 300 giáo viên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội đang đứng trước nguy cơ không được đi dạy học vì cơ chế của ngành giáo dục.

Phần lớn các giáo viên này là những người đã cống hiến cho nền giáo dục Cộng sản nhiều năm nay, có những giáo viên thời gian giảng dạy đã lên đến 30 năm, có những người là giáo viên dạy giỏi, có bằng khen vì sự cống hiến của mình. Tuy nhiên, đến nay họ vẫn là giáo viên hợp đồng, không phải giáo viên thuộc biên chế nên sắp tới họ phải thi tuyển viên chức.

Các giáo viên cho rằng, họ sẽ khó có thể đậu vào kỳ thi này vì tuổi họ cũng đã cao, rất khó cạnh tranh với những ứng viên trẻ tuổi được đào tạo theo chương trình mới của bộ Giáo dục. Và nếu trượt viên chức, các giáo viên sẽ mất việc làm.

Bà Trần Thị Toàn, phó trưởng phòng Nội vụ, Ủy ban huyện Sóc Sơn cho biết, đây không phải là trường hợp cá biệt chỉ có ở Sóc Sơn, mà các quận, huyện khác ở Hà Nội đều có. Nguyên nhân chính là do cơ chế đặc thù của nhà cầm quyền là chỉ được tuyển dụng giáo viên biên chế trong một hạn mức nhất định. Trong khi đó, số học sinh trên địa bàn tăng liên tục, nhưng công tác thi tuyển giáo viên viên chức thì thành phố Hà Nội không triển khai. Vì vậy, để có giáo viên giảng dạy cho học sinh, huyện phải ký hợp đồng lao động.

Ngoài nguyên nhân này, thì hầu hết người dân muốn vào được biên chế nhà nước, phải có mối quan hệ thân quen, hoặc là con ông cháu cha, hoặc là phải mất một khoản tiền lớn để hối lộ cho cấp trên.

Theo SBTN

Lời bình của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam: Các cô giáo nên tham gia một nghiệp đoàn độc lập của các nhà giáo, để nghiệp đoàn này lên tiếng mạnh mẽ cho thành viên của mình- là các cô, nếu có những chuyện bất công như thế này xảy ra. Nghiệp đoàn độc lập của các nhà giáo còn có chức năng hỗ trợ các cô trong lúc thất nghiệp.

Lợi ích của việc cho con gái đi học võ

Mình cho đứa con gái đầu học võ từ năm lớp 2 . Thời điểm đó cho cháu học chủ yếu sức khỏe là chính . Biết tính con bé cộc nên mình luôn dặn :
-” Con không được đánh bạn hoặc nếu có bạn nào ăn hiếp thì con lên méc ( thầy ) cô ngay “.

Cho tới năm lớp 8, (thời điểm đó cháu đi học vẫn được bố mẹ đưa đón), có lần chở cháu đi học thấy con bé không được vui như trước và có dấu hiệu ít nói . Mình gặng hỏi :
-” Ở trường có chuyện gì hả con , sao mẹ thấy con buồn buồn vậy ?”

Hỏi đến mấy lần , con bé mới nói :
-” Trong lớp , có mấy bạn ghét con , tụi nó cứ kiếm cớ gây lộn với con hoài . Con nhịn vì sợ cô la ”
Mình hỏi :
-” Tại sao các bạn lại ghét con ?”
-” Mấy lần kiểm tra 1 tiết , các bạn hỏi bài mà con bận làm bài của con không trả lời , vậy là các bạn ấy ghét con ”
Mình hỏi tiếp :
-” Các bạn con chỉ kiếm cớ gây gỗ hay còn làm gì con không ?”
Con bé trả lời :
-” Dạ các bạn ấy đi ngang qua hay hích vào người và cố tình dậm chân con đau điếng . Con nhớ lời mẹ dặn nên con cố nhịn để không đánh nhau”
-” Vậy con đã lên méc cô chưa ? ”
Nó nói :
-” Dạ con méc rồi mà cô chỉ la sơ sơ thôi , nên các bạn ấy vẫn tìm cớ để gây với con “

Cũng ngay sáng hôm đó ( thứ 7 ), canh tiết thứ 5 có giờ sinh hoạt lớp mình đến và xin phép được gặp cô giáo chủ nhiệm ngay trên lớp học luôn . Sau khi nói rỏ lý do tại sao mình có mặt , và yêu cầu cô giáo gọi tên các học sinh đã ăn hiếp con bé lên bảng . Nhìn mặt lấm lét của những đứa trẻ mình vừa giận vừa thương nhưng vẫn cảnh cáo chúng :
-” Đây là lần đầu tiên , cô lên gặp các con và cô giáo chủ nhiệm , Cô nói cho tụi con biết điều này , bạn Thảo học võ từ nhỏ và dư sức đánh lại các con nhưng cô không cho phép . Nếu các con vẫn tiếp tục có những hành động cố tình gây gỗ với bạn Thảo thì cô sẽ lên nhà từng đứa gặp ba mẹ tụi con để cô nói chuyện .
Lúc đó cô giáo mới xin lỗi vì cứ nghĩ chuyện con nít xích mích nhau nên cô la sơ sơ rồi cho qua .

Mình chỉ muốn nói , ngoài yếu tố gia đình , giáo dục nhân cách cho con cái và luôn quan tâm chia sẽ can thiệp kịp thời trong mọi tình huống với con cái thì yếu tố nhà trường và xã hội cũng không kém phần quan trọng .

Trong xã hội ngày nay , cuộc sống thực dụng đã biến một số giáo viên thành thợ dạy, họ chạy theo đồng tiền và một số thầy cô đã đánh mất giá trị đạo đức nghề giáo của mình. Nhà trường hiện nay coi trọng thành tích hơn là giáo dục nhân cách mà quên đi việc “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ hậu học văn” .

Ngay từ nhỏ , bọn trẻ đã được nhồi sọ lòng hận thù qua những bài học lịch sử dối trá .Một nền giáo dục nát bét vì nó được hình thành bởi lòng bạo lực, sự thù hận và tính ích kỷ.

Hỏng , hỏng hết rồi . Con cháu chúng ta sẽ ra sao khi chúng đang chịu sự giáo dục của của một môi trường thối rửa mục nát . Vậy mà người đứng đầu của bộ GD vẫn mặt trơ mày tráo , lẫn như trạch trước những sự việc bạo lực học đường đang xảy ra . Nền giáo dục thối nát dẫn đến xã hội thối nát . Đã đến lúc phải loại bỏ chứ không thể nào thay đổi được nữa .

Nguyễn Lai

Thấy gì từ việc 5 nữ sinh đánh 1 nữ sinh ở Hưng Yên?

Chuyện học sinh đánh nhau thời nào và ở đâu cũng có, nhưng 5 nữ sinh lao vào đánh đập dã man một cô bé cùng lớp được cho là yếu ớt, chậm chạm, có nhiều biểu hiện của một người chậm phát triển thì không thể tưởng tượng nổi!

Chuyện lại xảy ra ở một vùng quê vốn hiền hòa, chân chất mới đau lòng! Dù không muốn cũng phải nêu tên trường đó lên. Đó là Trường THCS Phù Ủng –Ân Thi – Hưng Yên.

Tôi không rõ nguyên nhân vụ đánh lộn tàn ác đó là gì, mà dù có nguyên nhân gì đi nữa thì đánh hội đồng, tụt quần lột áo một học sinh nữ chậm chạm (có thể di truyền từ người bố bị tâm thần), rất đáng thương như thế cũng là điều không thể chấp nhận nổi. Một con mèo ốm yếu hoặc bị dị tật ta còn xót thương, đằng này một con người…

Người hèn kẻ yếu luôn được nâng đỡ, bảo vệ, chở che! Đó là lẽ phải, là cái đạo ở đời này! Nó không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo và thể chế chính trị…, ở đâu con người cũng hành xử như thế. Vậy mà vài học sinh cá biệt ở THCS Phù Ủng lại đi ngược với cái đạo lý chung đó. Hay là các cháu lấy việc hành hạ một người tàn tật làm thú vui cho mình?

Giải thích điều đó thế nào bây giờ đây hả các thầy các cô và các bậc phụ huynh? Kiến thức nhiều mà làm gì hả các nhà giáo dục trong khi lòng nhân ái và yêu thương đồng loại đã chẳng còn?

Trong Ngày Valentin 14/2 vừa qua chúng ta nô nức tặng quà cho bạn gái-người yêu, thì ở những lớp học ở nửa bên kia quả đất, nơi khởi phát ra cái ngày này, họ không chỉ tặng quà cho tình nhân mà giáo viên còn hướng dẫn học sinh đem bó hoa ra nghĩa trang tặng Mẹ; bố mẹ bảo con gửi những món quà (dưới 5 đô la) để tặng thầy tặng cô; nhà trường gởi giấy để các bé đưa về cho phụ huynh, vận động các em đem đồ ăn tới làm từ thiện, với tiêu chí “Share the Love”- chia sẻ yêu thương- với những người nghèo hơn; thầy cô hướng dẫn học trò làm thiệp tặng cho bạn bè trong lớp… Tình yêu thương đồng loại cứ thế mà nhân lên, chẳng cần giáo huấn gì to tát!

Còn việc chính quyền can thiệp mạnh tay khi trẻ bị đối xử tệ bạc thì ai ở Mỹ chắc thừa biết luật nghiêm thế nào. Trên facebook anh Nguyễn Danh Lam kể chuyện trước đây người Việt hay cạo gió, giác hơi khi con bị cảm. Đến trường giáo viên người Mỹ thấy bầm tím liền báo cảnh sát và cảnh sát theo về tận nhà học sinh để điều tra xem có phải bị bố mẹ bạo hành hay không. Còn chuyện này nữa không biết thực hư ra sao, có cậu bé gốc Việt cứ thích mặc một bộ đồ đến lớp, giáo viên thấy vậy nghĩ học sinh của mình bị gia đình ngược đãi bèn báo police, police đến tận nhà mở tủ quần áo kiểm tra.

Họ dạy con trẻ tình yêu thương và chánh quyền bảo vệ con trẻ như thế đấy! Còn sự việc ở Phù Ủng – Hưng Yên, tôi thực chả biết nói gì hơn!
Nhà báo Ngô Thiệu Phong.

Vấn đề văn hiến

Văn hiến là những người hi hiến thân tâm cho văn hoá và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hoá Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, mới chỉ có văn hào, văn sĩ…

Bởi vậy khi các giáo sĩ Âu Châu đến Viễn Đông vào lối thế kỷ 16-17 thì đều tỏ vẻ ngạc nhiên đến bỡ ngỡ vì thấy một nguyện vọng tha thiết cuả Platon đã hiện thực tại Viễn Đông . Nguyện vọng đó là đặt quyền cai trị vào tay các triết gia gọi tắt là triết vương philosophe-roi hoặc roi-philosophe. Đấy là một nguyện vọng đã chưa bao giờ được hiện thực ở Tây Âu, nhưng các vị thừa sai cho là đã hiện thực bên Viễn Đông. Có đúng như vậy chăng?

Đúng và không. Đúng ở chỗ trong thời huyền sử các vị được đưa ra làm mẫu mực toàn là các triết vương: Phục Hi, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Đại Vũ… Còn các đời sau nhất là từ Hán Nho tuy không được ông nào hẳn xứng danh là triết vương nhưng ít ra có một số sự việc đáng chú ý:

1. Một là các vua đã học Kinh điển tức là sách triết.
2. Hai là địa vị các triết nhân vẫn được đề cao coi như ánh sáng soi cho cả nước “sảng bang do triết”, ánh sáng soi cho nước là do triết (Đại cáo 13) và vì thế bao giờ cũng coi việc bàn hỏi ý kiến các vị hiền triết là một điều rất đáng khen. Như Kinh Thi khen vua nhà Thương là “phu cầu triết nhơn”. rộng cầu đến các triết gia (Bài Y huấn câu 6).
3. Ba là nước được cai trị theo văn giáo ít ra trong lý thuyết và phần nào trong thực hiện. Khi nào nước được trị theo văn giáo thì gọi là hữu đạo, bằng không thì gọi là vô đạo, chứ không có tiêu chuẩn nào khác thuộc tôn giáo thí dụ và đó là nét đặc trưng hơn hết của các nền văn hoá Viễn Đông.
4. Vì 3 điểm đó nên nhận xét của thừa sai Âu Tây có thể coi là đúng đến quá nửa, và ta có xưng tụng nước là văn hiến chi bang cũng không phải thiếu nền móng.

Thế nhưng từ hơn một trăm năm nay do sự tiếp cận với văn minh Tây Âu thì nét đặc trưng của Viễn Đông bắt đầu lung lay và đang sụp đổ, đến nỗi ngày nay đừng nói đến địa vị triết vương, mà ngay đến địa vị triết trong quốc học cũng bị từ chối hoặc coi thường. Và vì thế hôm nay khi bàn đến quốc học mà thấy đề cao triết chắc có nhiều người không khỏi ngạc nhiên, ngạc nhiên vì đã quen nghe những lời chỉ trích triết: triết nói những truyện trừu tượng, xa xôi, vu vơ vô bổ cho đời sống ăn làm… Thực ra thì đó chỉ là sự mâu thuẫn vòng ngoài vì nếu đi vào nội dung thì không có chi đáng phải ngạc nhiên, là vì những điều chê bai triết cho tới nay hầu hết là vì triết Tây bám riết chữ nghĩa hay Hán Nho bám sát luân lý và những định chế đã lỗi thời… Hoặc nữa là triết học lý niệm đề cao lý trí đến độ duy ngã độc tôn nên chẳng sao đi vào đời sống nổi. Đời sống con người vận hành trong những ngõ ngách của Lý với Tình, đôi khi có cả Chí , vậy mà triết học lại duy lý thì đi sao nổi vào đời sống. Chính vì triết học quá duy lý nên nguyện vọng triết vương của Platon chỉ là một giấc mộng không tưởng, và triết chỉ còn lẩn khuất trong một vài phòng học y như một ngành chuyên môn nào khác vì đã để mất hẳn địa vị bà chúa toả uy tín trên khắp các kiến thức vì bơm sinh khí cho chúng bằng một mối quán thông. Và hiện nay triết được dậy trong chương trình giáo dục của ta cũng như các đại học thì chính là thứ triết học như được đề nghị trong tập sách này khó hi vọng thấy được hiện thực.

Tuy thế vì nền triết lý giới thiệu ở đây có tính chất toàn diện gởi đến cho toàn dân chứ không còn hạn cục trong bốn bức tường hàn lâm trường ốc, cho nên vẫn chưa đến nỗi thất vọng, vì ngoài hàn lâm trường ốc chúng ta còn cả một khối nhân dân, nhiều triệu nhân dân, và đấy là môi trường chúng ta có thể hoạt động, và nếu biết tổ chức thì sẽ trở nên mạnh mẽ có khi đạt được khả năng khôi phục địa vị cho triết ít ra phần nào như xưa lúc các tư trào Tây Âu chưa xâm nhập. Và bấy giờ chúng ta sẽ đủ bảo đảm tìm đáp số cho câu trả lời sau đây: ai sẽ đứng ra hiện thực trở lại lý tưởng triết vương. Nói khác ai sẽ hiện thực nền quốc học như được đề nghị trong tập sách này? Ai? Dân chúng hay chính quyền? Câu trả lời tất nhiên là chính quyền, bởi chỉ có chính quyền mới nắm đủ quyền lực và phương tiện, là những yếu tố thiết yếu cho sự hiện thực bất cứ một ý tưởng nào có tầm mức quốc gia. Tuy nhiên nếu ta theo được đúng tinh thần Việt Nho thì sẽ thưa rằng phần lớn là dân. Dân mới là gốc là bổn là óc còn chính quyền chỉ là cấp thi hành, ví được như trái quả cây, còn muốn cho trái được sai thì cần bơm tưới gốc cây, muốn cho những điều bàn trong các chương trên thành sự thực thì cần nhân dân phải hành động. Phó mặc cho chính quyền thì chỉ là truyện may rủi. Trong hiện tình đất nước thì hầu hết là rủi. Bởi vì những người nắm chính quyền hầu hết được đào tạo theo đường lối của Tây Phương, còn về Đông phương thì chỉ biết bằng nghe ngóng và phần nhiều là mắc tự ti mặc cảm. Bởi Đông Phương vừa huyền bí, lại đã bị lãng quên lâu ngày, nên nay muốn nhìn lại khuôn mặt cũ thì cả là một công trình dài hơi, nếu không là người vừa có tâm huyết vừa kiên trì vững dạ thì làm sao thấy được. Vậy mà những vị nắm quyền hành đã phải hiến phần lớn thì giờ vào việc hành chánh, cho nên giả sử trong số có ai muốn nghiên cứu cổ học cũng khó tìm ra thì giờ. Và vì thế hầu hết chính quyền được điều khiển theo óc công chức, một lối làm việc duy lý rất gần kiểu máy móc phần mở, nên lạnh lùng, trốn tránh trách nhiệm nhiều được ngần nào hay ngần đó. Như vậy là một lối làm việc ngược hẳn với lý tưởng của nền quốc học đang dự trù; nó đòi phải có tinh thần cán bộ với những cái nhìn trên toàn diện với bầu nhiệt huyết hăng say với lòng yêu quê nước cao độ. Bấy nhiêu đức tính nếu có gặp được trong một số công chức thì cũng chỉ là luật trừ thưa thớt nên không thể trông vào đấy được. Vậy phải làm thế nào? Có nên đặt vào tay dân chúng mấy việc quan trọng như bộ giáo dục, bộ văn hoá, Đại học văn khoa? Không được, vì ai sẽ đứng ra lựa chọn người đủ tư cách? Nếu lại bỏ phiếu theo lối ngày nay thì chắc chi những người đủ tư cách đã được chọn và như thế chúng ta lại ở trong cái vòng luẩn quẩn. Vậy thì toàn dân phải tìm một đường lối khác để có thể vươn tới ý thức của chủ nhân, còn nhà nước chính quyền chỉ nên coi là chân tay, là những kẻ thừa hành phần nào như tiên tổ chúng ta đã có thời hiện thực được. Làm thế nào để đạt được như vậy? Thưa cần phải làm chủ được dư luận.

Xét về một mặt thì sự coi trọng dư luận là một việc thông thường không có chi mới mẻ xa lạ mà cần phải bàn tới, nhưng xét theo hoàn cảnh đặc biệt của nước ta thì lại có chỗ cần phải đem ra mổ xẻ. Đó là vấn đề làm cho dư luận có bề thế. Thiếu bề thế thì dư luận cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc: chính quyền vẫn có thể bịt tai. Mà rất nhiều trường hợp chính quyền có lý để mà làm thế bởi vì dư luận chưa được huấn luyện. Xin lấy một thí dụ thiết cận đến vấn đề gây dựng quốc học. Đã có những ý kiến về vấn đề này nên có thể gọi là đã có dư luận. Song những người đại diện cho dư luận này mới chỉ được huấn luyện theo văn hoá ngoại lai, chưa được vun đúc trong bầu khí quốc hồn thành ra khi nêu ra dư luận thì một là không sâu xa đủ để móc nối được với cơ cấu tinh thần dân tộc nên nhiều luồng dư luận nếu không do những cán bộ văn hoá Việt cộng nắm vững tung ra để gieo hoang mang thì cũng đầy mảnh vụn, tản mát. Hai nữa nếu ăn may mà trúng chiều hướng dân tộc thì cũng chỉ ở đợt lương tri, không đủ sức huy động tinh thần đa số, cho nên thường lẻ loi trơ trọi thiếu hậu thuẫn dân chúng. Chính vì thế mà dư luận thiếu sức nặng và dễ bị chính quyền coi thường. Muốn tránh tai hoạ đó, muốn trả lại cho dư luận thế giá của nó tự ngàn xưa, ít ra trong phạm vi văn hoá giáo dục thì cần tổ chức và huấn luyện những người đại diện cho dư luận nhân dân. Nói cụ thể là những người muốn nói lên tiếng dân tộc cần đứng chung vào với nhau thành một trận tuyến văn hoá. Trận tuyến đó sẽ qui tụ những người cùng chung một niềm tin như nhau thí dụ:

Thâm tín rằng nước ta đã vì ý hệ ngoại lai mà sa vào thế phân hoá và bị xâm lăng.
Thâm tín rằng chỉ có thể chữa trị thảm trạng này bằng sự thống nhất tinh thần trên nền tảng văn hoá dân tộc.
Thâm tín rằng chỉ có một hội văn hoá hợp thời đại mới trông đạt được điều mong ước chính đáng đó.
Thâm tín rằng thời này là thời tranh đua của các ý hệ, các triết thuyết, nước nhà muốn tồn tại thì văn hoá phải hưóng mũi giùi về phía đó.
Thâm tín rằng sự đứng chung trong một mặt trận sẽ giúp đắc lực vào việc thống nhất văn hoá, cũng là việc làm cho dư luận có cơ sở nên dễ trở nên mạnh.
Thâm tín rằng chỉ khi có một mặt trận như thế thì những người thiết tha yêu nước mới có một đất đứng để mà hoạt động cho công ích ít nguy cơ bị lợi dụng, bị sa đoạ vì sẽ không đi vào chính trị, mà chỉ làm văn hoá cách vô vị lợi

Nếu có được một mặt trận như thế thì chính quyền sẽ có ngày được cung ứng cho nhiều công chức có óc cán bộ, nhiều chiến sĩ có óc tông đồ, quốc dân sẽ giữ được vai trò chính cốt là hướng dẫn và kiểm soát nền quốc học. Chính vì thế sự cùng đứng vào với nhau trong một hội là điều tối quan trọng và đáng cầu ước cho có được một hội như thế. Hội văn thì nhiều rồi, nhưng một tổ hợp những tâm hồn có óc triết thì chưa, mà có triết thì mới trông được nền vững. Vậy cần phải làm thế nào để liên kết những tâm hồn triết, những người ưa thích triết? Đó là điều khó, bởi vì những tâm hồn triết thường ưa thích tĩnh mịch, đơn chiếc vì đấy là phong thái thuận lợi cho sự suy tư. Tuy nhiên thời nay là thời ngự trị của lượng số, nên thiếu liên kết thì tiếng nói lẻ loi không đủ mạnh, không ai thèm chú ý đến, mà như vậy là một điều bất hạnh cho quê nước vốn từ xưa vận hành trong ánh sáng minh triết.. Chính vì thế mà những tâm hồn triết phải chịu hy sinh một số thì giờ cho việc liên kết, đặng khuyến khích nhau và cần cùng nhau lên tiếng hay hành động, có vậy mới tạo được hiệu nghiệm cho tiếng nói của triết. Có vậy tiếng nói chân thành của dân tộc mới không bị lấn át trước các tư trào ngoại lai đã được tổ chức rất vững chắc, nếu không có một sự liên kết tối thiểu nào về phía văn hoá dân tộc thì dù nền văn hoá này còn có những người hâm mộ nhiệt thành đến đâu đi nữa rồi cũng chỉ là những cá nhân trơ trọi lẻ loi sẽ bị xiêu bạt trong cái mớ quần chúng vô dạng (amorphe masse) và như vậy sẽ không tránh nổi làm mồi ngon cho bất cứ trào lưu nào cũng có thể cưỡng ép lôi đi.

Bạn sẽ hỏi liệu còn tìm được đủ số người nhiệt thành để mà trở thành một lực lượng chăng? Muốn trả lời điểm này cần phải có một bộ máy dò mìn để tìm ra những quả mìn là các tâm hồn nhiệt huyết với dân tộc. Máy dò đó là gì nếu không là một tổ chức, tuy rất lỏng lẻo nhưng cũng là một tổ chức ít nhất để tìm ra người đồng thanh đồng khí. Riêng chúng tôi cũng biết được một số tuy nhỏ nhưng cũng đủ để có lý tin rằng nếu chịu tìm kiếm thì số đó còn nhiều, ít ra đủ để làm thành một nhóm. Chúng tôi dám tin như thế vi số người chúng tôi biết chỉ là tình cờ tuyệt nhiên bên ngoài sự tìm bạn. Vậy mà cũng thấy được một số có thể cho phép tin rằng dòng máy văn hiến chưa ngừng chảy trong người Việt Nam, và dầu trong hiện trạng đầy thối nát cũng vẫn còn có thể tìm ra những tâm hồn cao khiết đại diện cho hồn thiêng của muôn thế hệ tiên tổ đã dựng nên nước Việt Nam này và bao lần đã cứu nó khỏi diệt vong. Hồn thiêng đó vẫn còn phảng phất trên giải non sông này, vì thế tôi cho là đã đến lúc các vị đó phải tạm thời bỏ giai đoạn ẩn náu, phải vượt qua những dè dặt e ngại để đứng vào một thứ liên lạc nào đó để gây lại Tinh thần. Tinh thần đó trong trường hợp hiện đại của nước nhà không là chi khác hơn là hồn văn hoá dân tộc, mà các cụ xưa cũng kêu là Đạo, và các cụ đã nói cách chí lý: “Đạo mất trước nước mất sau”. Chúng ta có thể tiếp: vậy muốn nước còn thì cần đạo còn. Nên trong các việc làm để cứu quốc thì cứu đạo là việc tiên quyết.

Trích Kim Định- chương VII, sách Vấn đề Quốc học

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành

Ghi chú của ban biên tập: Do không có nghiệp đoàn giáo viên độc lập, không ai bảo vệ các cô giáo trong những trường hợp như thế này. Bài của Vietnamnet kể về các cô giáo có nguy cơ mất việc hôm nay.

Cuối ngày 14/3 vừa qua, chị Bình nhận được thông báo từ hiệu trưởng về việc chị là một trong số những giáo viên hợp đồng phải tham gia vào kỳ thi tuyển viên chức của thành phố. Chị tức tốc báo tin này cho đồng nghiệp – cô giáo Vân – cũng là người có thâm niên 21 năm công tác tại Trường THCS Thanh Xuân, mà không kìm được nước mắt…

Gia đình chị Nguyễn Thanh Bình nhiều đời sống tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Học hết lớp 12, chị chọn thi vào ba trường sư phạm. Vốn là người sáng dạ, chị thi đỗ cả ba. Rồi chị quyết định chọn học tại khoa Ngữ Văn, Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội. Biết cảnh gia đình nghèo khó, cô sinh viên quyết tâm phải dành học bổng nhiều kỳ.

Tốt nghiệp ra trường, mang trong mình niềm phơi phới tin yêu, chị Bình chọn trở về để cống hiến trên mảnh đất quê hương, mặc cho nhiều bạn bè khuyên nên ở lại thành phố làm việc.

Tháng 9/1998, cô gái trẻ được UBND huyện Sóc Sơn nhận ký hợp đồng lao động và phân công về giảng dạy tại Trường THCS Thanh Xuân. Tính đến nay, cô giáo Bình đã có 21 năm gắn bó với ngành giáo dục huyện nhà.

“Nếu thi không đỗ hoặc không thi tuyển viên chức thì sẽ cắt hợp đồng. Chúng tôi nhận sai vì trước đây đã không cắt hợp đồng với các đồng chí”, ông Lê Hữu Mạnh – Phó chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn nói như vậy với 256 giáo viên hợp đồng trong toàn huyện vào ngày 22/3.

Niềm hi vọng để bấu víu của chị Bình và nhiều thầy cô giáo khác cuối cùng cũng bị sụp đổ.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Chiều 26/3, hơn 100 thầy cô giáo tại huyện Sóc Sơn ngồi cạnh nhau tại căn nhà của cô giáo Đào Thu Hằng, giáo viên trường THCS Minh Phú. Nhiều ngày nay, các thầy cô không còn tâm trạng dạy vì quyết định phải tham gia thi tuyển vào công chức nếu muốn trụ với nghề.

Những ngày gần đây, chị Bình không còn động lực để đứng lớp nữa. Nghĩ đến học trò, nước mắt chị lại không ngừng rơi. 256 thầy cô không ai có ý định nộp đơn thi tuyển.

“Kỳ thi này có thể là tin vui với các cháu sinh viên mới ra trường nhưng lại là một “thảm kịch” với chúng tôi. Những năm 90, thế hệ chúng tôi chỉ được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, còn ngoại ngữ lại không được dạy trong trường THPT. Sau này học đại học, chúng tôi được đào tạo tiếng Nga – Pháp chứ không phải tiếng Anh.

Bởi vậy, nếu chúng tôi thi viên chức cùng các cháu sinh viên mới tốt nghiệp ra trường sẽ là một cuộc chạy đua không cân sức giữa hai thế hệ. Cái chúng tôi có là sự say mê, tâm huyết, kinh nghiệm nhưng lại không thể mang ra để hoàn thành yêu cầu của cuộc thi”, cô giáo Lê Thị Thu Nguyệt, giáo viên Trường THCS Minh Phú giải thích.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Kỳ thi tuyển viên chức sắp tới được các cô cho là cuộc đua không cân sức với lứa sinh viên mới ra trường

Cả cô Bình, cô Nguyệt và hơn 250 thầy cô giáo khác từng rất “yên phận” cống hiến vì họ tin rằng, những thành tích đạt được sẽ là điểm số chứng thực năng lực bản thân thay vì bài thi sát hạch kéo dài 3 tiếng đồng hồ.

Nhiều đơn “kêu cứu” đã được gửi tới các cơ quan chức năng nhưng chưa được xem xét. UBND huyện cũng khẳng định đã nỗ lực có văn bản đề xuất gửi UBND thành phố về việc xét tuyển đặc cách đối với giáo viên dạy hợp đồng từ 5 năm trở lên.

Nhưng đến ngày 14/3, văn bản số 667/TB-UBND thông báo, các giáo viên hợp đồng vẫn phải đăng ký để dự thi tuyển viên chức. Điều đó có nghĩa, nhiều giáo viên trên dưới tuổi 50, thậm chí chỉ còn 2 năm nữa nghỉ hưu, cũng sẽ phải bước vào cuộc thi đầy khốc liệt này.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Nhiều cô giáo đã bật khóc, có người lặng lẽ lau nước mắt

Cũng trong thời gian này, cô giáo Dương Thị Minh Thanh đang phải đối mặt với căn bệnh tim tái phát. Căn bệnh này khiến cô luôn cảm thấy đau tức mỗi khi xúc động. Là giáo viên công tác tại Trường THCS Hiền Ninh đã 24 năm, nhưng cô không được hưởng phụ cấp thâm niên như nhiều đồng nghiệp khác.

Để duy trì việc sinh hoạt và chăm lo cho hai đứa con đang tuổi đi học, cô chấp nhận làm thêm nhiều nghề sau mỗi giờ dạy.

“Ký hợp đồng từ năm 1995, tôi chưa một lần vi phạm điều gì cả. Điều này khiến chúng tôi không thể không chạnh lòng, không thể không tủi thân”, cô nghẹn lời.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Nhiều đơn “kêu cứu” đã được gửi tới các cơ quan chức năng

Vốn là con lai Campuchia, cô Thanh quyết ở lại mảnh đất Sóc Sơn gắn bó với nghề giáo. Cô cho biết, trong 24 năm giảng dạy, chỉ có duy nhất một lần huyện có đợt thi tuyển công chức. Tuy nhiên đợt đó do chưa kịp đổi quốc tịch, cô đã bị bỏ lỡ.

Từ đó đến nay, ở huyện chưa tổ chức thêm đợt thi tuyển công chức nào ở bộ môn Ngữ văn. Mặt khác, do được ký hợp đồng và nâng lương thường xuyên nên cô không để ý.

Chữ ký của cô hiện cũng có trong danh sách 228 chữ ký tại lá đơn kêu cứu gửi đến các cơ quan chức năng. Cô cho rằng bản thân chịu khổ cũng được, nhưng còn hai đứa trẻ cần phải được đi học.

“Ở cái tuổi đầu hai thứ tóc không còn biết bấu víu vào đâu, chúng tôi cũng không còn cơ hội để làm lại cuộc đời nữa”.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Cô giáo 53 tuổi bật khóc khi được hỏi. Ở tuổi ngoài 50, nếu không thi đỗ, cô lo sẽ không có nơi nào nhận cô nữa.

Cô Lê Thị Thu Nguyệt, giáo viên môn Ngữ văn Trường THCS Minh Phú cho biết, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2, cô đi theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước về cống hiến sức trẻ và tuổi thanh xuân của mình cho nền giáo dục huyện Sóc Sơn.Nhiều cô giáo đều khẳng định, trong suốt thời gian qua, không có bất kỳ một kỳ thi tuyển công chức nào cho giáo viên Ngữ văn. Do vậy, dù rất muốn nhưng giáo viên không có cơ hội nào khác.

“Những năm 2000, Minh Phú là một xã nghèo của huyên với tỉ lệ học sinh thất học chiếm nhiều nhất trên địa bàn huyện. Vì vậy các đồng chí lãnh đạo địa phương chào đón chúng tôi như “những người hùng”, động viên chúng tôi gắn bó công tác lâu dài với những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cấp đất cho giáo viên ngoại tỉnh để chúng tôi gắn bó với sự nghiệp giáo dục huyện.

Kể từ đó đến nay đã 26 năm, tôi chưa một lần được thi viên chức vì trước kia, có một lần tổ chức, điều kiện là phải có hộ khẩu Hà Nội. Bởi vậy, sau 26 năm, tôi vẫn “treo giò” với cái tên Hợp đồng huyện” – cô Nguyệt tâm tư.

Cô giáo bật khóc vì làm nghề gần 30 năm vẫn có nguy cơ ra khỏi ngành
Nhận được quyết định thi viên chức của huyện với 256 giáo viên là một “thảm kịch”

Nhận được quyết định thi viên chức của huyện năm nay, theo cô Nguyệt, với 256 giáo viên trong đó có cô, là một “thảm kịch”.

“Chúng tôi vô cùng hoang mang và lo lắng. Nếu còn trẻ, chúng tôi sẽ sẵn sàng dự thi. Nhưng giờ chúng tôi đã ở độ tuổi 40, 50, như vậy sẽ rất thiệt thòi. Chúng tôi chỉ mong một điều duy nhất là các cấp có thẩm quyền tạo điều kiện xét đặc cách cho chúng tôi vào viên chức giáo dục thay vì thi tuyển như giáo viên tự do”, các giáo viên bày tỏ nguyện vọng.

Còn tiếp…

Ở bài 2, phóng viên Vietnamnet tìm gặp một số trường hợp giáo viên giỏi, có học sinh thi quốc gia nhưng vẫn đứng trước nguy cơ thất nghiệp.

Thúy Nga – Thanh Hùng

Đại học Việt Nam phải tự trị và được quản trị bởi sinh viên và giảng viên trong một định chế dân chủ.

Bài nầy so sánh cách đảng đối xử với sinh viên đại học ở Việt Nam và cách các nhà giáo dục tôn trọng quyền tự trị của học sinh từ 4 tuổi đến 18 tuổi ở các trường tiểu và trung học trong các xã hội nhân bản.

Đảng đoàn trong đại học đối xử với sinh viên đại học như thế nào? Một sinh viên nói hàng chục ngàn học sinh sinh viên mỗi năm bị gây khó dễ trong việc nêu lên chính kiến (1). Nhiều trường đào tạo hệ 4 năm yêu cầu sinh viên trong vòng muộn nhất là 6 năm phải tốt nghiệp. Yêu sách về thời gian này của nhà trường làm cho việc học trở thành học khoán, học gạo, học vội vã (2). Một sinh viên trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn muốn xóa bỏ nền học chế dựa vào điểm số (3). Một cựu sinh viên trường cao đẳng báo chí Hà Nội nhận thức về giáo dục toàn diện và về coi trọng các chủ thể là học sinh nói rằng giáo dục cần có hướng đi mới – nếu mọi người chỉ coi trọng điểm số, kết quả thi và thi gì học nấy… thì nền giáo dục nước nhà sẽ mãi thụt lùi so với các nền giáo dục trong khu vực (3).

Hãy tưởng tượng một trường học nơi trẻ em và thanh thiếu niên được hưởng tất cả các quyền và trách nhiệm của công dân trong một thể chế dân chủ (4). Nơi đây, học sinh thực sự thực hành, thay vì chỉ đọc về, các nguyên tắc của tự do ngôn luận, tự do liên kết và lập hội, và tự do lựa chọn các hoạt động của riêng họ. Học sinh bỏ phiếu về các quy tắc ảnh hưởng đến họ và phục vụ trong các hội thẩm để xét xử các thành viên của trường bị cáo buộc là vi phạm các quy tắc được cộng đồng trường thiết lập. Điều gì tốt hơn đào tạo này để chuẩn bị cho học sinh trở thành các công dân tốt trong một thể chế dân chủ?

Nhiều người hoài nghi rằng một ngôi trường như vậy có thể thực thi thành công nhiệm vụ giáo dục. Có người tự hỏi liệu trẻ em và thanh thiếu niên, được trao quyền như vậy, sẽ đưa ra quyết định hợp lý, cho trường học và cho chính cá nhân họ. Tuy nhiên, nhiều trường như vậy tồn tại, và bằng tất cả các biện pháp hợp lý, các trường nầy đã chứng minh là học sinh tốt nghiệp từ các trường nầy là rất thành công. Một số trường đã tồn tại trong nhiều thập kỷ, và các trường nầy tạo dựng nhân cách của học sinh từ bốn tuổi thông qua suốt những năm của thời thiếu niên. Những trường như vậy đã đào tạo hàng ngàn học sinh tốt nghiệp, những người đã thành công trong tất cả các lĩnh vực của xã hội và cuộc sống.

Các trường dân chủ hoạt động như thế nào?
Một trường dân chủ, là một trường học mà học sinh được tin tưởng để họ chịu trách nhiệm về cuộc sống và học tập của chính họ, và họ cũng được tin tưởng là họ sẽ đóng góp cho cộng đồng trường học. Tại một ngôi trường như vậy, học sinh chọn các hoạt động của riêng họ, và liên kết với những người họ muốn. Học sinh tự do chọn lấy các tín chỉ hoặc họ có thể chọn không lấy tín chỉ nào. Hầu hết các trường như vậy chấp nhận học sinh ở nhiều độ tuổi khác nhau, thường từ bốn tuổi đến cuối tuổi thiếu niên. Cộng đồng trường không phân biệt học sinh theo độ tuổi, để học sinh có thể học hỏi từ việc tương tác với những người cao tuổi và các bạn trẻ hơn mình.

Các trường nầy hoạt động trên nguyên tắc là cần có một sự thay đổi căn bản để có được một hệ thống học tập phù hợp với một nền dân chủ thực sự và toàn diện. Hệ thống trường nầy cần phải thoát khỏi sự thống trị bởi người dạy và giáo điều. Hệ thống nầy nhận ra rằng, trong một nền dân chủ, học bằng cách ép buộc có nghĩa là truyền giáo; và chỉ học theo ý thích của chính mình lựa chọn mới đúng là giáo dục.

Các nhân viên tại một trường dân chủ có mặt để giúp đỡ, không để dạy hay chỉ đạo. Họ là những thành viên trưởng thành của cộng đồng nhà trường. Họ mang đến cho cộng đồng những kinh nghiệm, sự khôn ngoan và cam kết lâu dài với nhà trường và học sinh. Ở một số trường dân chủ, nhân viên được thuê và sa thải theo một thủ tục trong đó mỗi học sinh và nhân viên có một phiếu bầu, để những người không phục vụ cho nhu cầu của học sinh có thể bị loại trừ thông qua bỏ phiếu.

Các thành viên trong đội ngũ giảng dạy thừa nhận rằng học sinh học từ người khác khi họ chơi, khám phá, giao tiếp và làm việc cùng nhau. Cách học qua trao đổi nầy có khi còn hữu hiệu hơn là cách học từ các thầy cô. Các trường dân chủ được quản lý một cách dân chủ, thường là tại các cuộc họp trường hàng tuần, trong đó mỗi học sinh và nhân viên có một phiếu bầu. Cuộc họp của trường thường quy định tất cả các quy tắc ứng xử tại trường và đưa ra các quy trình để thực thi chúng, thường liên quan đến một bồi thẩm đoàn bao gồm các thành viên của trường ở mọi lứa tuổi. Nói tóm lại, một trường dân chủ là một môi trường được quản lý một cách dân chủ cho việc tự học, trong đó học sinh có lợi thế của một cộng đồng bạn bè và đồng nghiệp của nhiều lứa tuổi để họ có thể lựa chọn việc học và làm việc với bất cứ ai mà họ thích.

Bằng chứng cho hiệu quả giáo dục của các trường dân chủ

Các trường dân chủ không ra bài thi cho học sinh, bởi vì họ cho rằng việc học của mỗi người là việc cá nhân và có những điểm đặc thù của cá nhân đó, và chính hành động kiểm tra qua các bài thi cản trở việc tự thúc đẩy và tự định hướng. Tuy nhiên, những học sinh muốn nộp đơn vào một trường đại học, thường học và làm bài kiểm tra theo quy trình tuyển chọn của trường đại học. Các nghiên cứu tiếp theo của học sinh tốt nghiệp từ các trường dân chủ cho thấy các học sinh nầy không gặp khó khăn gì đặc biệt trong việc thi tuyển vào đại học.

Bằng chứng tốt nhất cho hiệu quả giáo dục của các trường dân chủ đến từ những lời chứng thực của các học sinh tốt nghiệp và từ các nghiên cứu có hệ thống theo dõi tiến trình của các học sinh tốt nghiệp. Kết quả nghiên cứu đánh giá các trường dân chủ cho thấy học sinh tốt nghiệp từ các trường dân chủ đã rất thành công trong giáo dục đại học. Học sinh tốt nghiệp đã làm việc thành công ở tất cả các tầng lớp có giá trị trong xã hội. Các dữ liệu cho thấy rằng các học sinh tốt nghiệp từ trường dân chủ cảm thấy họ được hưởng lợi vì ý thức trách nhiệm cá nhân, tự kiểm soát, tiếp tục nhiệt tình học tập và các giá trị dân chủ mà họ có được từ trường. Các nghiên cứu khác cho thấy sự tham gia của học sinh trong quản trị trường học có tác động tích cực cho lòng tự trọng, xữ sự cá nhân, và động lực học tập. Một nghiên cứu khác cho thấy sự suy giảm hứng thú với khoa học xảy ra thường xuyên ở các trường học thông thường không xảy ra ở các trường dân chủ.

Đề nghị

Đại học Việt Nam phải tự trị và được quản trị bởi sinh viên và giảng viên trong một định chế dân chủ.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Tài liệu
1. Chuyện của sinh viên Trần Anh Quân. https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/27/chuyen-cua-sinh-vien-tran-anh-quan/
2. Bộ giáo dục cần mở hạn tốt nghiệp từ 4 năm trở thành 10 năm, 20 năm và vô thời hạn cho sinh viên Việt Nam. https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/26/bo-giao-duc-can-mo-han-tot-nghiep-tu-4-nam-tro-thanh-10-nam-20-nam-va-vo-thoi-han-cho-sinh-vien-viet-nam/
3. Ý kiến của sinh viên Việt Nam về việc xây dựng nền giáo dục không cần điểm số. https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/06/y-kien-cua-sinh-vien-viet-nam-ve-viec-xay-dung-nen-giao-duc-khong-can-diem-so/

1. Democratic Schools. http://alternativestoschool.com/articles/democratic-schools/

Nho giáo là của văn minh người Hoa hay của người Việt?

Triết gia Lương Kim Định là người dầu tiên chứng minh được Nho giáo chân chính là Việt Nho, chứ không phải là Hán Nho.

Tiêu chí khoa học căn bản cho một lý thuyết nhân danh khoa học xác định rằng:

“Một thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng thì nó phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”

Xét theo tiêu chí ấy, Kinh Dịch, Hà Đồ, Lạc Thư..vv…vv…hết thảy những nền tảng lý thuyết ấy đều phù hợp với nền văn minh Viêm Việt của chúng ta chứ không phải là Hán Nho. Xin lấy một ví dụ dễ hiểu: nền văn minh Hán Nho chủ trương một chồng có nhiều vợ và thiếp, hay nền văn minh Chàm mà sau khi chồng chết thì phải chôn sống vợ theo chồng..vv…vv…tất cả đều không đại diện cho triết lý âm dương quy định một vợ-một chồng. Tuy nhiên, luật thiên nhiên này lại được thể hiện rõ trong nền văn hóa Việt Nam, ngoài quy định một vợ một chồng ra còn thể hiện trong sự đối xứng một-một trong vô số câu ca dao-tục ngữ. Ví dụ: môi hở răng lạnh, chó treo mèo đậy..vv…vv…đều là những cách ăn nói thể hiện tính đối xứng âm dương, mà ngoài Việt Nam ra không một nền văn minh nào có được.

Giáo sư Lương Kim Định là người khởi xướng triết Việt và đặt nền móng đầu tiên. Do đó, chúng tôi gọi ông là vị tổ sư của Triết Việt.

Bằng một lối chứng minh trực quan và sinh động, ông đã chứng minh được một cách không thể chối cãi rằng, nền văn minh Việt Nam là nền văn minh hậu tự duy nhất còn sót lại của nền văn minh Viêm Việt đã làm bá chủ toàn cõi Đông Á.

Mời bạn xem chứng minh chi tiết trong cuốn sách mỏng có tên là Giáo trình Việt Nho căn bản- Dẫn nhập vào thuyết An Vi. Cuốn sách được tải miễn phí tại đây: https://goo.gl/GKjh3n

Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam ký tên phản đối cho Trung Quốc thầu đường cao tốc Bắc Nam

Ngày 25 tháng 03 năm 2019, nhà giáo Lê Trọng Hùng thay mặt các nhà giáo trong Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam đã ký tên phản đối cho Trung Quốc làm nhà thầu thi công đường cao tốc Bắc Nam. Bản tuyên bố do câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng soạn thảo, được nhiều tổ chức xã hội dân sự người Việt ký tên hưởng ứng.

TUYÊN BỐ VỀ DỰ ÁN ĐƯỜNG CAO TỐC BẮC- NAM
(Danh sách tên ký đến 14h ngày 25.03.2019)
1. Sự việc:

Bộ Giao thông vận tải VN đã làm việc với Cty Thái Bình Dương (TQ) về việc Cty này ngỏ ý muốn làm Đường cao tốc Bắc- Nam bằng vốn vay từ Trung Quốc (TQ).

2. Xét rằng:
Đường cao tốc Bắc- Nam chạy dọc mặt phía Đông nước VN là dự án chiến lược, không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn liên quan chặt chẽ với an ninh quốc phòng, liên quan phòng thủ Biển Đông.
Mọi công trình hợp tác với các nhà thầu TQ từ trước đến nay đều đội vốn rất lớn, thi công dây dưa. Thủ đoạn của họ là bỏ thầu rẻ, thi công trì trệ, kết hợp với quan tham VN đẩy giá lên. Trên thực tế, hầu hết các công trình có yếu tố TQ đều yếu chất lượng, kém an toàn khi thi công, khi vận hành và gây ô nhiễm trầm trọng môi trường. Đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông cho bài học xương máu.
Các nhà thầu TQ luôn đem các công nghệ lạc hậu, nhân lực TQ, kể cả lao động phổ thông vào VN, đến đâu ở lì đó, gây phức tạp an ninh xã hội.
Hiện nay các nước từ châu Phi, đến Ấn Độ Dương, Đông Á… đều tẩy chay các dự án đầu tư của TQ.
Tiếp tục thuê nhà thầu TQ là tiếp tay cho tham nhũng.

3. Yêu cầu:
Trước thực trạng tệ hại và nguy hiểm trên, chúng tôi – các cá nhân các tổ chức xã hội dân sự – yêu cầu:

Tổ chức ngay việc lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, các chuyên gia VN trong và ngoài nước, tham vấn các nhà thầu Mỹ, Pháp, Nhật Bản… tìm phương án tối ưu cho dự án Đường cao tốc Bắc-Nam. Loại bỏ dứt khoát nhà thầu TQ, không vay vốn và nhận đầu tư từ TQ vì những lý do trên.

Làm mỗi công trình đều phải đem lại công ăn việc làm, tích lũy kỹ năng, điều kiện học hỏi cho lao động và kỹ thuật viên VN, để tiến tới tự làm. Các dự án Cầu dây văng Mỹ Thuận, Cầu Cần Thơ là bài học tốt. Nhà thầu Úc, Nhật chỉ mang chuyên gia đến, kỹ sư, công nhân là người VN.

Theo cách ấy, ngăn chặn được hiện tượng di dân bất hợp pháp, gây bất ổn xã hội của lao động TQ, ngăn chặn tham nhũng.

Chính phủ cần huy động các doanh nghiệp VN cùng tham gia vào công trình chiến lược này, ưu tiên hợp tác với các công ty Mỹ, nhằm hạ giá thành, góp phần cân bằng cán cân thương mại, tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững kim ngạch giao thương hai nước.

Soạn tại Sài Gòn ngày 20.3.2019

Các tổ chức và cá nhân ký tên hưởng ứng Tuyên Bố trên xin gửi “họ, tên, nghề nghiệp (chức vụ nếu có), địa chỉ cư trú hay làm việc” về email : bacnamcaotoc@gmail.com

CÁC TỔ CHỨC KÝ TÊN:
1.CLB Lê Hiếu Đằng, đại diện: Lê Thân, nhà hoạt động xã hội, Sài Gòn
2.Nghiệp đoàn Báo chí Việt Nam, đại diện: Tiến sĩ Dương Thị Phương Hằng, Hoa Kỳ
3.Nhóm Vì Môi Trường, đại diện: Nguyễn Thị Bích Ngà, nhà báo tự do, Sài Gòn
4.Diễn đàn XHDS, đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
5.Người Bảo vệ Nhân quyền (Defend the Defenders), đại diện: Thạc sỹ Vũ Quốc Ngữ
6. Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam, đại diện: Sinh viên Trịnh Thị Ngọc Kim
7. Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam, đại diện: nhà giáo Lê Trọng Hùng ( Trung Dân Việt Thương), Hà Nội

( còn nữa)

Sứ mạng hiện nay của người trí thức các tôn giáo

Tôi dùng chữ trí thức ở đây theo nghĩa rộng lượng bao hàm thông thái (intellectual) lẫn thông minh (intelligent) tuy biết rằng nhiều khi hai phẩm tính đó không đi đôi, nhưng không hẳn thiếu và tôi chỉ muốn nói với những người kiêm cả hai đức tính đó. Tôi nói rằng sứ mạng của tri thức tôn giáo hiện nay là đức Tương Dung. Một đức cần phải luyện tập cũng như tuyên dương ra rộng rãi.

Bạn hỏi hiện nay các tôn giáo không có đức Tương Dung sao? Các tôn giáo đã chẳng sát cánh đánh đuổi thực dân cũng như hiện nay chẳng đang chống lại xâm lăng của cộng sản là gì? Thưa cái đó đúng, nhưng chưa đủ để chứng minh là có đức Tương Dung, vì nó mới là đợt ngoài tạm đủ cho những việc khẩn cấp và hiển hiện thí dụ khi phải đánh đuổi kẻ thù chung: cho nên rất có thể đó mới là sự chịu vậy vì không thể làm khác. Đó là tâm trạng tiêu cực không xoá bỏ được lòng nghi kị nhè miếng; còn lâu lắm mới đạt đợt tích cực làm bằng lòng kính nể, tương thân, tương ái tự trong lòng phát xuất, phải có nền móng vững chắc và đã được tài bồi vun tưới. Con hiện trạng trên có thể mới chỉ là một đức tự nhiên có ra đó chứ thiếu nền móng, không được vun tưới hoặc có thể là do hoàn cảnh bên ngoài, nói cho xác thiết là một sự quân bình lực lượng giữa các tôn giáo. Sự quân bình này có ngày sẽ mất khi một trong các tôn giáo sẽ nắm phần trội và khi nào có phần trội vượt hẳn thì lúc đó cũng sẽ chấm dứt trạng thái hiện nay để mở sang giai đoạn xuất hiện nguyên hình của cái người ta quen gọi là đức Tương Dung mà kỳ thực chỉ là sự khôn khéo tùy thời của óc chinh phục còn đang chờ đời thời cơ thuận tiện để xuất trận. Lúc đó nó sẽ không ngần ngại đàn áp, ép buộc các tôn giáo khác. Chưa biết ngày nào cán cân sẽ nghiêng và nghiêng sang bên nào, chỉ biết hiện nay không một tôn giáo nào là không mong cầu và tích cực hoạt động để nó nghiêng sang cho tôn giáo mình. Và như vậy sự bình an hiện nay không chứng tỏ có Tương Dung. Hay nói khác cái gọi là Tương Dung hiện nay chỉ là giả tạo và khi tôi nói sứ mạng là có ý nói đến thứ Tương Dung chân thực làm bằng kính nể tôn trọng lẫn nhau, đặt trên nền móng một tình yêu chân thật không có hàm chứa cái gì là mưu toan là chinh phục. Nếu định nghĩa như thế thì quả là đức Tương Dung còn thiếu và chúng ta phải coi đó như sứ mạng, bởi vì rất cần thiết cho sự hưng thịnh của quê nước cũng như cho tinh thần trung thực của tôn giáo là yêu thương.

Vì thế chúng ta hãy trở lại đào sâu vào trong vấn đề. Muốn xác định sứ mạng cho mỗi giai đoạn thì việc làm trước hết phải là xem vào thực trạng hiện nay cả trên thế giới lẫn trong nước nhà.

Về thế giới thì quả là một thực trạng rối loạn bơ vơ, thiếu hướng. Đó là một sự hiển nhiên, ai cũng thấy. Tuy nhiên có một điểm đáng thắc mắc là tại sao nhân loại đang bơ vơ lại không chịu nhận tôn giáo làm chủ đạo đang khi các tôn giáo vẫn không ngớt tự trình bày như một hướng đạo tinh thần. Điều này có nhiều lý do nhưng đáng chú ý hơn cả thì có hai: một là vì tôn giáo quá nhiều mà chủ trương lại trái ngược nhau nên chấp nhận tôn giáo là kim chỉ nam thì sẽ không đi tới nam mà có thể là tới Đông Tây tứ phía. Lý do thứ hai quan trọng hơn hẳn lý do thứ nhất vì lý do thứ nhất có thể vượt qua bằng một sự tuyển tập ở mỗi tôn giáo một ít điểm để làm thành món ăn có nhiều mùi vị ai thích mùi nào thì dùng, có nhiều hạng người với tầm mức trí thức khác nhau, thị hiếu khác nhau do phong tục, tính nết, giáo dục v.v. thì đa giáo có hệ chi. Thế nhưng lý do thứ hai làm cho nó rất hệ trọng đó là xưa nay tôn giáo hầu hết dễ ghé sang cuồng tín mà đã cuồng tín thì không chịu chấp nhận một tôn giáo khác và vì thế mà gây nên những xung đột đẫm máu. Những cuộc xung đột này không phải là những bóng ma trơi do người trí thức suy ra nhưng là có thực và đã xảy ra nhiều nơi kể cả bên Âu Châu là xứ văn minh nhất: những cuộc thánh chiến, những vụ sát hại tập thể kêu là Saint Barthelemy, những trận chiến 30 năm, rồi một trăm năm và hiện nay là những vụ xung đột giữa Tin lành và Công giáo trên đảo ái Nhĩ Lan.

Bên Đông thì những vụ rắc rối đẫm máu giữa Hồi giáo và Ấn giáo cứ lâu lâu lại bùng nổ. Còn bên Cận Đông thì cuộc chíến dai dẳng giữa khối Á Rập và Do Thái cũng không thiếu yếu tố tôn giáo xen vào nhất là giai đoạn mới rồi khi Roben một người theo Ki Tô giáo đốt đền thờ Alaksa ở Jerusalem được người Ả Rập sùng bái nhất. Vì thế các quốc gia Ả Rập đã đồng loạt đứng lên phản đối mãnh liệt, họ đình công, biểu tình, gào thét đòi phục thù và thế là chiến tranh bùng nổ trở lại và được gọi bằng tên mĩ miều là “thánh chiến”. Cuộc nội chiến ở Biafra cũng phần lớn do Tôn giáo: Nigeria theo Hồi giáo, Biafra phần lớn Thiên chúa giáo.

Đó là Á Châu, còn bên Mỹ Châu và nhiều nơi khác vẫn có những cuộc xung đột tuy không lộ liễu nhưng vẫn ngấm ngầm. Chỉ có những nước theo một tôn giáo mới thoát. Nhưng đó là tình trạng càng ngày càng hiếm hoi.

Bây giờ trở lại nước nhà và ai cũng đã biết hiện nay là một quốc gia đa giáo: Phật giáo, Cao đài, Hoà Hảo, Tin Lành, Công giáo v.v. Trong đó Tin Lành cũng như Phật giáo lại chia ra nhiều phe phái khác nhau. Còn về mối liên lạc giữa các phe các tôn giáo, nếu phải đi vào tận bề sâu mà nhìn là đối kháng, đố kỵ, hận thù… và điều đang e ngại là lòng đó kỵ khi đã không có gì làm tiêu tan mà còn được vun tưới cho lớn mạnh theo đà đi lên của lòng mộ đạo, đến nỗi hầu có thể nói các phong trào tôn giáo xét về lâu về dài cũng chính là những phong trào phá hại tinh thần đoàn kết quốc gia hơn hết. Câu đó thoạt nghĩ đã không khỏi làm phật ý, có khi còn gây cả phẫn nộ cho rất nhiều đoàn thể tôn giáo, nhưng nếu chịu thành tâm suy xét thì sẽ nhận ra là thế, chỉ cần nhớ lại những ngày tháng hãi hùng năm 1965 là lúc sự hận thù đã hiện nguyên hình bằng đập phá, đâm chém và phải kết luận là chưa bao giờ các tôn giáo đã biểu diễn yêu thương nhau cách chân thành được một phần mười như vậy. Đấy là một sự thật ê chề đau đớn khiến cho những người chân thành muốn phụng sự cả quê nước lẫn đạo pháp không biết phải làm thế nào mà dung hợp. Không lẽ phải chọn một bỏ một: chọn tổ quốc thì thôi tôn giáo và ngược lại. Đó là một sự lựa chọn rất đau đớn giữa bên lý bên tình, chọn tổ quốc thì có lý vì trước nạn xâm lăng của cộng sản thì ưu tiên phải dành cho tổ quốc. Tổ quốc có còn thì tôn giáo mới có đất đứng, cộng sản mà thắng thì mất luôn tôn giáo cùng với tổ quốc. Cho nên sự lựa chọn này rất hợp lý.

Tuy vậy khó lòng hợp tình. Vì tình cảm với tôn giáo rất linh thiêng không dễ gì bỏ được, và do lẽ đó hầu hết sẽ chọn tôn giáo mà bỏ tổ quốc, vì rằng tổ quốc chẳng qua là tạm bợ đời này, còn tôn giáo mới là quê thật bền vững thường hằng v.v. Sự chọn này càng dễ dàng vì chẳng ai nghĩ đến mình đã chọn: tức là tất cả yên trí rằng mình đang phụng sự cho cả hai. Và trong tâm khảm mọi người đều cho sự bắt buộc chọn lựa kia chỉ là điều suy ra trong bàn giấy chứ trong thực tế ai mà có ý chọn như vậy. Điều đó đúng: chẳng có ai nghĩ như vậy, nhưng cũng nên biết rằng ở đời có những cái xảy ra bên ngoài ý nghĩ, ý định, ý muốn… vì bên ngoài tầm ý thức, như muôn vàn đau thương mà con người gây ra cho nhau không mấy khi do ý muốn cả, trái ngược lại là khác. Vì thế phải nói rằng sự chọn lựa kia có thực, nó không thi hành trên đợt ý thức, nói cụ thể là trên bình diện công dân, vì hiện nay người công dân nào không đi quân địch, không đóng thuế… nhưng nằm sâu trong bình diện tâm hồn giáp cõi tiềm thức nên khó nhận ra. Nhưng ai chịu lặn sâu xuống sẽ nhận ra là có thực và đã có sự lựa chọn dầu rằng đó là một sự lựa chọn đầy nguy cơ dẫn đến chỗ mất luôn cả tôn giáo lẫn tổ quốc; vì thế số chọn tôn giáo đông hơn gấp trăm ngàn lần số chọn tổ quốc. Vì thế cũng có trăm ngàn lần người đi theo những đường hướng khác nhau mà đã khác nhau là làm suy yếu sự đoàn kết quốc gia. Nếu suy yếu quá mà bị cộng sản tràn ngập thì còn chi nữa. Vậy mà điều ấy đang được thực hiện trong xứ sở chúng ta, có nghĩa là người nước ta đang vô tình dẫn nhau đến chỗ chia rẽ làm hại cho cả tổ quốc lẫn tôn giáo.

Trước mối nguy cơ đó chúng ta phải làm gì? Hô hào đồng bào làm ngược lại nghĩa là bỏ đạo để phụng sự tổ quốc? Ai làm như thế là ngố vì hiện nay tổ quốc có còn cơ sở tinh thần đâu mà bảo chọn được. Và giả sử có đi nữa thì sự chọn cũng vẫn còn nằm trong nhị nguyên tức còn phải chọn một bỏ một. Vậy có cách nào ổn thoả được cả hai chăng? Tôi nghĩ rằng có và nó ở tại mỗi tôn giáo hãy tìm trở lại cái nguồn gốc chân thực của mình. Cái nguồn gốc đó là yêu thương, là từ bi, là bác ái… Như câu thánh Jean gọi “Chúa là Yêu Thương = Deus est Charitas”. Câu ấy có thể trở thành tiêu chuẩn tối hậu cho chúng là khi tìm chân lý: nghĩa là tất cả những gì không đi theo tiêu chuẩn đó thì đều sai: và ta có thể tuyên bố rằng những đố kỵ, hận thù hành hung kia đều không do đạo, mà là do những hoàn cảnh nào đó đã được đưa vào các tôn giáo để làm sai lạc tinh thần tôn giáo đi: “vì lẽ ra tôn giáo phải là một nhân tố đoàn tụ, thì ngược lại đã trở thành nhân tố chia rẽ mạnh nhất” (nhận xét của Henri de Lubac một linh mục dòng tên). Tại sao lại có sự đáng buồn đến như vậy. Theo khoa xã hội học thì đại để nó đã xảy ra như thế này: Ai cũng biết tôn giáo là yếu tố cao cả linh thiêng nhất trong một xã hội, nhờ đó khi nêu cao tôn giáo thì cũng là củng cố sự đoàn kết xã hội như thực sự nó đã nhiều lần thi hành được. Thế tại sao ngày nay lại không làm được như trước. Thưa vì có một yếu tố mới: trước kia mỗi người dân nước chỉ biết có đồng hương đồng đạo nên vấn đề cho đạo mình là cao trọng nhất không gây nên sự bất tiện nào cả. Trái lại ngày nay hầu như không còn nước nào độc giáo, và sự sống bên cạnh người khác tôn giáo, khác văn minh đã trở thành chuyện thường nhật. Vậy nếu mọi người đều giữ tâm trạng suy tôn đạo mình… thì tất không sao tránh được va chạm. Và vì thế sự khôn ngoan sơ đẳng bắt phải dẹp niềm tin đó sang một bên. Bằng cách nào? Thưa trước hết là bằng ngoại giao, nhưng ngoại giao mới là cách cấp thời nó mới kịp che đi sơ sài. nhưng che đi không có nghĩa là xoá bỏ, là chữa chạy nên óc độc tôn kia vẫn còn đó, có tài giấu đến mấy thì nó vẫn thò đuôi ra kiểu này hay kiểu khác. Và cũng chính vì chỗ nửa kín nửa hở nên càng gây thêm ngờ vực đố kỵ. Vậy chỉ có phép là thực tình dẹp bớt niềm tin trên kia lại để nó không bị dốc ra cuồng tín. Và đó là điều tôn giáo nào cũng công nhận. Chứng cớ là những lời tuyên bố về thông cảm, đón nhận, đối thoại…, và đã lập ra nhiều đoàn hội kêu là hoà đồng các tôn giáo, đến nỗi hôm nay khi tôi nói đến sự cần thiết của đức Tương Dung thì như là lặp lại một chuyện đã được nghe nhiều lần. Sự thực thì không phải thế. Số là những hội hoà đồng tôn giáo cũng như các lời hô hào trên kia tuy rất cần kíp, nhưng mới là việc cấp thời chưa tìm ra một nền móng chung nào để làm chỗ đứng cho các tôn giáo, nên kết quả rất ít và phiến diện. Và chính vì thế mà bên Âu Mỹ hiện đang nổi lên một trào lưu phản kháng ở tại đập phá mọi thể chế và chối bỏ mọi uy quyền. Đại loại luận cứ của họ có thể tóm lược như sau: vì tôn giáo đã sống quá lâu trong địa vị độc tôn cao cả, nên bất cứ cái chi liên hệ tới cũng đều được phủ lên một bào quang uy linh tôn kính, đến nỗi có những cái sù sù ra trước mắt kia, như lấn đất, buôn lậu, bắt tay với cộng sản… mà vì nhân danh tôn giáo hay có một liên hệ nào đó với tôn giáo thì đến ngay chính quyền cũng phải e dè: sợ làm ra sẽ xúc phạm tới tôn giáo, huống hồ những cái khác tế vi hơn thuộc lý thuyết, thói tục v.v. thì ai dám động tới. Bởi thế nên sự trở về nguồn được hết mọi nơi công nhận và hô hào thì trong thực tế không là chi khác hơn là sự đổi kiểu trình bày. Nhưng trình bày kiểu khác không là trở lại nguồn vì trở lại nguồn là đi một “hướng đi khác” (Reorienter): Mà đi hướng khác là chấp nhận và dọn chỗ đứng cho những yếu tố mới. Yếu tố mới là liên châu, là giáo dân trưởng thành được quyền suy nghĩ và nhận lấy trách nhiệm về mình… Yếu tố mới đó không thể đưa vào nếu chỉ trình bày đạo lý cách khác. Trình bày khác thuộc nghệ thuật làm văn không động chạm tới nội dung và vì thế bao giờ thì cũng như nhau là mở đầu bằng sự nhấn mạnh đến cởi mở, đối thoại rất kêu, nhưng cuối cùng chỉ là để che đậy độc thoại: sau cũng như trước: vẫn đâu nằm đó, vì thế vẫn dẫn đến chỗ bế tắc. Và đó là lý do trào lưu phản kháng chủ trương dùng phương thế mạnh là đạp đổ, đả kích… có như thế mới trông tôn giáo giũ bỏ được những cáu bụi làm sáng tinh thần và yêu thương trung thực. Vì thế họ cho rằng đả kích tôn giáo chính là làm bùng nổ lên các phong trào phản kháng ở khắp nơi bên Âu Mỹ.

Cũng may mà trào lưu này chưa lan sang đến Việt Nam, nên chúng ta còn được ít nhiều an tĩnh để kiểm điểm tình hình. Cứ lấy đại cương ra mà bàn thì lý do của họ có cái đúng chi chăng. Nhưng xét về hành động thì không thấy gì bảo đảm, mà còn đi ngược tâm lý: có đời nào một tâm trạng đã được nuôi dưỡng nhiều ngàn năm bỗng nay đòi đạp đổ ngay đi được. Đừng bảo rằng nó sai, Nói thế cũng còn là vun tưới lòng tin đó, vì nó sẽ trỗi dậy để tự vệ cũng là củng cố là lớn mạnh…

Đã thế đối với bên Việt Nam thì đường lối phản kháng chỉ thấy có hại, ít ra trong tình thế khẩn cấp của nước nhà. Trong tình thế này cần đoàn kết, nên hết mọi đả phá rộn ràng gây li tán đều nên tránh, vì cuối cùng sự chia rẽ đó sẽ vang dội vào sức mạnh của quê nước. Tuy nhiên chưa tới không có nghĩa là chẳng bao giờ tới và vấn đề đã được đặt ra không bao giờ được tự nhiên giải quyết. Vì thế chúng ta nên tìm ra một đường hướng mới vừa hợp tình trạng đất nước, vừa giúp vào việc xây đắp quê hương, nâng cao nền văn hoá dân tộc mà cuối cùng cũng là tìm trở lại tận nguồn suối Phúc Âm, tức cũng là giúp vào việc định hướng lại tôn giáo (réorientation) đang được nhiều người bên Âu Mỹ (nhất là tu sĩ) mong muốn và vẫn không tìm ra hoặc bị đôi chút ( ? ) nhưng không có quyền binh nào ngăn trở sự gạt bỏ đi để tinh lọc.Vì thế nó có thể coi như ý muốn của Tạo hoá “như luật thiên nhiên nên dùng để làm tiêu chuẩn thì không có gì láo cả: lấy ý của Tạo hoá biểu diễn qua thiên nhiên để soi vào ý muốn của Tạo hoá được hiện hành trong xã hội loài người là phải, loài người có thể sai lầm, còn thiên nhiên vẫn không bị xuyên tạc hay nếu có đi nữa thì vẫn có thể dùng lý trí suy luận mà phân tích chối bỏ… không động đến uy quyền như đối với tôn giáo, vì thế vẫn đễ làm hơn. Đạo thiên nhiên đó đối với nước ta là đạo làm người hay là Việt Nho. Theo đó thì yêu thương trung thực cũng là Tương Dung chân thực vì Tương Dung chân thực phải là một nhân đức mà đã gọi là nhân đức thì phải dựa trên một nền triết lý nhân bản. Có nhân bản mới gọi được là nhân đức thiếu nó chỉ là đạo đức theo nghĩa đạo của tôn giáo mà không là nhân đức theo tính bản nhiên con người. Còn khi thiếu triết lý thì không phải là đức hiểu là linh lực nội khởi tự phát bởi thâm tâm mỗi người mà chỉ là công thức, là sụ hoà đồng với công ước vậy thôi. Hay nói khác đó chỉ là xã đức, chưa là nhân đức vì chưa có nền tảng đích thực. Bởi thế cần một nền triết lý, nhưng không phải bất cứ triết lý nào nhưng là một nền triết lý xây trên nhân tính con người. Có y cứ trên nhân tính thì con người mới có nền móng chung để nương tựa và để chấp nhận lẫn nhau. Sở dĩ tôn giáo hay gây chia rẽ vì tôn giáo dựa theo quá nhiều tập tục. Điều đó cần thiết ở giai đoạn sống cách biệt nhưng trở thành nhân tố chia rẽ trong thời đại liên châu, cần những cái gì phổ biến, thế mà tập tục vì là sản phẩm của từng nơi, từng thời, nên là toàn yếu tố dị biệt nên người xưa nói = “tập tương viễn” nghĩa là tập tục làm người ta xa nhau. Phải có tính mới làm cho người ta gần lại (tính tương cận) gần lại là đoàn kết yêu thương.

Vì thế mà cần học hỏi nghiên cứu tài bồi nền triết lý về nhân tính. Đến nỗi tôi coi đó là sứ mạng hiện đại của người trí thức của mọi tôn giáo. Sứ mạng có nhiều, nhưng khi nói đến trí thức thì tất nhiên phải nói tới học hỏi nghiên cứu. Nghiên cứu tôn giáo hay triết lý đều khác với nghiên cứu các ngành khác ở chỗ vừa đi về nguồn suối vừa là những điều thiết yếu cho con người. Mà vì hoàn cảnh đặc biệt của lúc này nên nghiên cứu triết lý cần cho nhân loại hơn vì hiện nó đang tan rã chia ly mạnh mà chưa tìm ra được nền móng kết hợp. Đó là điều ít được nhận ra.

Hiện nay ai cũng cho đức Tương Dung là cần. Mọi tôn giáo đều hô hào, nhưng đồng thời hết mọi tôn giáo đều nỗ lực cổ võ học hỏi đạo của mình, còn nền móng chung của mọi con người thì không ai ngó ngàng chi tới hết. Thế nghĩa là nếu phải nói toạc ra thì hết mọi tôn giáo đang vô tình gieo gió rồi sẽ có ngày con người phải gặp bão, bão hận thù, đâm chém, đốt phá. Bởi vậy những người yêu nước chân thành, những người có lòng nhân ái thực, những người chịu xem ra thì nhất định phải hoạt động cho sự lớn mạnh của một cội gốc chung cho mọi con người, cho mọi người dân: Vi cội gốc đó có được vun tưới tài bồi mới có ngày nở ra hoa trái thực. Nền móng đó là nhân bản tâm linh cũng là nền đức lý của Việt Nam chúng ta xưa kia, nhưng nay chúng ta đã đánh mất, mà vì chưa đâu đưa ra được nền móng mới thay vào, nên chúng ta phải làm phục hoạt lại nền nhân bản của tiên tổ đã sống giữa cảnh đa giáo nên đã giàu kinh nghiệm về Tương Dung và đã được kết đúc vào Việt Nho. Vì thế nó đã chứng tỏ cái khả năng hiện thực đức Tương Dung chân thực cho nên khi ta làm phục hoạt lại được cái tinh hoa đó thì một trật chúng ra có Đức Tương Dung cũng như có được cơ sở tinh thần chung cho mọi người dân trong nước, đồng thời có thể đóng góp vào thế giới trong việc định hướng đời sống con người hiện đang lạc hướng. Và rồi cuối cùng là tìm trở lại được cái tinh hoa cả tôn giáo là bác ái, từ bi. Như thế là với một hòn đá mà được ba chim. Đó là một viễn tượng huy hoàng đủ sức đem lại cho chúng ta lòng can đảm cần thiết trong con đường mới này, một đường đòi phải có trí, nhân, dũng đến tột độ. Phải dùng trí tuệ một cách bền gan mới nhìn ra nổi đường hướng mới như mỗi lần nhân loại bước vào một khúc quanh lịch sử. Lúc còn đi đàng thẳng thì chỉ việc theo đường đã có sẵn. Còn ở khúc quanh thì đi đường cũ sẽ là đi vào đường cụt: trước sau gì ác quả cũng sẽ tới. Thế nhưng con đường mới chỉ hiện ra cho những người có óc thông minh trí tuệ và bền bỉ lam việc. Ngoài ra còn phải có đức dũng cảm phi thường vì bước chân lên đường mới cũng có nghĩa là hành sử khác với lân nhân, khác với sự xét đoán của dư luận quanh mình. Đã thế thì không thể trông chờ sự khuyến khích mà chỉ phải dọn sẵn linh hồn đón nhận chỉ trích, ruồng bỏ, khinh bỉ hắt hủi, cô đơn, cám cảnh…. nhưng cũng phải chấp nhận, vì thâm tin rằng “Thiên Chúa là Yêu Thương” nên bao nhiêu cố gắng cho sự lớn mạnh của yêu thương cũng chính là những cố gắng cho chân đạo. Đàng khác phải nhớ rằng có còn tổ quốc mới còn đạo, cho nên hiện tại tuy đành ưu tiên cho tổ quốc nhưng tựu kỳ trung cũng là lo cho đạo, lo cách sâu xa nền móng.

Vì những lý do rất nghiêm trọng như thế cho nên mặc dầu ý thức được biết bao khó khăn chờ đón, tôi vẫn cương quyết nói rằng sứ mạng của người trí thức các tôn giáo lúc này là phải gây nên sự trỗi dậy mạnh mẽ tinh thần quốc gia, một đạo lý về tổ quốc, tức là một nền triết lý nhân sinh. Xưa nay ai cũng nghĩ là mình đang phụng sự tổ quốc nhưng xét về phương diện học hỏi nền móng vẫn trống trơn. ngoài những bổn phận công dân thì về đàng đạo lý quốc gia hoàn toàn không có gì. Điều đó lỗi không tại người tôn giáo, nhưng chỉ vì hiện tổ quốc chưa có chủ đạo. Làm thế nào cho tổ quốc có được một chủ đạo thì đó là bổn phận của mỗi người công dân, và tôi gọi đó là sứ mạng vì nó bao hàm sự tìm kiếm và đi tiên phong nên khó hơn nhiều, vi thế mới phải chờ mong ở những phần tử sáng suốt nhất trong mọi tôn giáo và cả ngoài các tôn giáo nữa.

Trích Kim Định- phụ chương thứ hai sách Vấn đề Quốc học

Nghiệp đoàn Giáo chức Los Angeles hoãn ngày đình công

Los Angeles – Theo tin từ đài ABC News, vào thứ Tư (9 tháng 1), Nghiệp đoàn Giáo chức United Teachers Los Angeles (UTLA) đã thông báo hoãn ngày đình công sang ngày 14 tháng 1. Theo kế hoạch ban đầu, các giáo viên sẽ đình công vào thứ Năm.

Nghiệp đoàn UTLA cho biết, họ hoãn ngày đình công để có thời gian cung cấp thông tin rõ ràng, và cho phép các thành viên, phụ huynh và cộng đồng lên kế hoạch kỹ hơn. Ngoài ra, nghiệp đoàn cũng đang phải giải quyết vấn đề pháp lý, vì chính quyền quận đã đến tòa án trình báo nghiệp đoàn không cung cấp đủ thông tin trước khi đình công. Tuy nhiên, nghiệp đoàn UTLA cho biết họ đã đưa ra thông báo đầy đủ vào ngày 19 tháng 12.

Hôm thứ Tư, hai bên đã trình diện trước tòa, nhưng vấn đề pháp lý và các thỏa thuận vẫn chưa được giải quyết. Quan tòa sẽ xem xét đánh giá pháp lý vào thứ Năm.

Phát biểu tại cuộc họp báo trước trụ sở nghiệp đoàn UTLA, Chủ tịch Alex Caputo-Pearl cho biết, UTLA không muốn gây thêm hỗn loạn, và bối rối trong thời điểm đang tồn tại nhiều bất ổn. Ông Caputo-Pearl tin rằng họ sẽ thắng ở tòa án, và bắt đầu đình công vào thứ Hai nếu không có chỉ thị quan trọng nào được đưa ra. Phía chính quyền và UTLA đã thỏa thuận vào thứ Tư, nhưng hai bên vẫn không thể đạt được thỏa thuận.

Theo đài ABC News đưa tin, khoảng 30,000 giáo viên sẽ đình công nếu hai bên không tiến tới thỏa thuận. Cuộc đình công sẽ ảnh hưởng nửa triệu học sinh, vì các bên nảy sinh mâu thuẫn về sỉ số lớp học và chính sách tăng lương.

Hội đồng giáo dục LAUSD cho biết, họ đã cam kết đưa ra thỏa thuận công bằng, nhưng nghiệp đoàn UTLA đã từ chối đề nghị tăng lương 6% và giảm sĩ số lớp học. Vào thứ Hai, Nghiệp đoàn Giáo viên không chấp nhận đề nghị này, vì họ cho rằng hiệu trưởng Austin Beutner đang tích lũy 2 tỷ Mỹ kim tiền quỹ dư.

Mộc Miên-Người Việt