Sự hình thành nền quốc học xuyên qua các đời

Một số những đức tính dân tộc được ghi lại trong chương trên đã phát xuất từ một cơ cấu tinh thần có từ xa xưa. Tuy nhiên vì không gặp môi trường thuận lợi nên nó đã thích ứng với những điều kiện từ ngoài mà thay hình biến dạng nên khó nhận ra. ở đây chúng ta đứng về phương diện triệt để đặt một cái nhìn bao quát trên nền văn hoá nước nhà bằng phác hoạ một hai nét chính khả dĩ có thể làm sườn cho một trong những lối viết quốc học sử chưa ai hiện thực bởi vì cái sườn này đứng về khía cạnh của triết lý nhân sinh chứ không còn là văn học suông nữa. Theo đó ta có thể chia văn hoá sử thành bốn giai đoạn như sau.

Thời kỳ manh nha: Giai đoạn 1 .

Một nền triết đáng gọi là nhân sinh phải gồm cả ý, tình lẫn chí. Chí biểu hiện ra bằng công việc.
Tình qua nghệ thuật như văn thơ, truyện , tuồng , kịch…

Qua tư tưởng và chủ thuyết. Nhìn chung lại thì ta nhận thấy văn hoá nước nhà đã thành tựu ở chí và tình nhưng còn ý thì kể là thiếu. Chí bao hàm cơ cấu tâm linh là cái đem lại sự hiệu nghiệm sự bền bỉ lâu dài và có mạch lạc ngầm (mạch lạc hiện rõ chỉ ở ý) chính vì thế chí bao giờ cũng có tình đi kèm. Tình ví được như lửa hun nóng bầu năng lực đủ sức thúc đẩy để đưa đến tác động tức là đưa đến dụng. Vì thế tình và chí vẫn xoắn xuýt lấy nhau và cả hai yếu tố này đã xuất hiện từ xưa, ta có thể cho là tự đời huyền sử thuộc Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Phục Hy như đại diện cho chí tức cơ cấu uyên nguyên là cặp âm dương làm nên Kinh Dịch. Nữ Oa đại diện cho mối tình thâm sâu đến độ nối kết đất trời lại làm nên con số 5 .biểu thị bằng cái qui tức mối tình thiên nhiên là mối tình gắn liền với văn minh nông nghiệp. Nền văn minh này được đại diện bằng danh hiệu Thần Nông, nói lên tính chất nông nghiệp (thôn dân) của nó. Một nền văn hoá mà đàn bà đóng vai trò quan trọng, nên sau Nữ Oa chúng ta còn có Âu Cơ, Mỵ Nương, Mỵ Châu đại diện cho khía cạnh thiên nhiên (nông nghiệp) nên rất có lý mà đoán rằng chữ Mỵ chính ra là chữ Mễ (gạo nông nghiệp). Đó là đại khái mấy nét then chốt đã hiện lên ở thời sơ khai: vì sơ khai nên nói hoàn toàn bằng ngôn ngữ thần thoại là loại ngôn ngữ rất co dãn mập mờ dành riêng cho những cái gì âm u thấp thoáng. Đấy là lúc tương đương với thời bái vật, nhưng trong nền văn hoá Việt Nho có may mắn gặp được ngay tự thời này mấy vị hiền triết nên đã nhìn ra được cái cơ. Nhờ đó sẽ bước vào giai đoạn hai một cách đặc biệt.

Giai đoạn 2
Thường thì đây sẽ là giai đoạn ý hệ nhưng vì nhờ đã khám phá ra Cơ nên văn hoá giai đoạn hai không là ý hệ vì ý hệ là duy lý mà đây vẫn có yếu tố tấm linh (cơ) nên không có ý hệ ít ra cách trổi vượt. Mở đầu giai đoạn hai này là Hoàng Đế cầm đầu văn minh du mục của Hoa tộc tràn vào, khởi lên đợt hai với ý thức rõ rệt. Vi ý chỉ được phát triển cách đây đủ ở những văn minh du mục, công thương chuyên về chinh phục đo đếm với sự trội quyền của cha cũng như của võ bị. Với Hoàng Đế dẫn đầu du mục thì ý nổi mạnh và đưa văn hoá Viêm Việt lướt qua trên giai đoạn ý hệ. Sở dĩ lướt qua là vì yếu tố Viêm Việt quá mạnh nên giai đoạn hai không là ý hệ mà chỉ là bá đạo, pháp hình (dụng của ý hệ) đối với vương đạo lễ tri (dụng của tâm linh). Bá đạo cũng là sự thẳng lướt của lý trí nhưng chưa đến nỗi huỷ diệt được cơ, mà chỉ vận hành ở đợt chính trị (óc chuyên chế) còn sự thử đi vào độc chuyên lý trí, tức huỷ diệt các sách khác để bắt học các sách luật như Tần thuỷ Hoàng đã thử làm thì thất bại. Tuy vậy cuối cùng óc độc chuyên đó đã gây nên óc Hán Nho mà ta có thể coi là giai đoạn III.

Giai đoạn 3
Chính vì giai đoạn này đã đại diện cho Hán Nho và đã tràn lấn trên mảnh đất Việt, lẽ ra phải là nơi nương náu của Nho giáo nguyên thuỷ, thế nhưng cuối cùng Việt Nho cũng phải ép mình dưới phủ việt của Hán nho. Vì thời kỳ này kéo quá dài ở bên Tàu lẫn bên ta nên làm cho người Việt Nam quên béng đi các quyền của mình trên Nho Giáo. Có thể nói tinh thần Việt Nho đã lịm đi hẳn trong ngàn năm Bắc thuộc cho đến mấy đời độc lập nhất là đời Lê thì mới ú ớ nửa tỉnh nửa thức vì thế với nước ta đấy có thể coi là giai đoạn 4.

Giai đoạn 4
Một trong những nét đặc trưng của giai đoạn này là chống Tàu, và trong thời ấy có rất nhiều nét Việt Nho được chồi dậy… Như được ghi lại trong quyển Lĩnh Nam Trích Quái của Trần thế Pháp. Đó là một tuyển tập những câu chuyện ghi lại cuộc kháng văn hoá Tàu đã trải qua nhiều ngàn năm, nhưng vì là sự đối kháng của kẻ yếu nên phải nói bằng huyền thoại tức là lối văn âm u và quá hàm hồ đến nỗi ý thức dân tộc về phương diện văn hoá không đủ sức mạnh để nổi lên trên tâm thức, và vì thế không sao có được một triết gia, hay dù chỉ một tư tưởng gia nào, mà chỉ có những triết gia hụt, cũng như những tư tưởng gia hụt. Có lẽ Từ Thức đại diện cho những triết gia hụt đó. Từ Thức đã lên đến cõi tiên ở với tiên nhiều chục năm mà lúc trở về trần cấu to vo một mình đơn chiếc không có lấy được một mụn con đi kèm. Theo tiếng nói của Huyền sử thì đấy là một sự thành công nửa vời. Thành công về tình bởi Từ Thức đã lên tiên lấy vợ tiên tức là Tình đã thâm hậu lắm. Rồi chí cũng sâu vì đã đạt cơ biểu thị bằng Từ Thức đã đi qua hai điện Quỳnh Hư và Giao Quang, Quỳnh Hư là hào 4: “hoặc dược tại uyên” còn Giao Quang thì lẽ ra là hào 5 Hào năm là đợt cao nhất trong triết lý An. Vi được ghi lại trong quẻ Kiền bằng câu “Long phi tại thiên”… “thánh nhân tác dã”. Triết lý An vi gồm hai bước: một là lên cùng cực để rồi xuống cùng cực: nói khác có chí trung (lên cùng cực) mới đạt chí hoà (xuống cùng cực). Vì thế chí hoà sẽ là thước đo độ vào của chí trung. Chí trung là “long phi tại thiên thánh nhân tác dã” chí hoà là “đại nhân tạo dã’. “Thánh nhân tác dã” có thể coi như những cái nhìn thấu triệt được những nguyên lý nền tảng, còn “đại nhân tạo dã” có thể coi như những mối liên hệ cụ thể hiện thực vào tận những việc tầm thường. Khả năng bao quát được nhiều hay ít những việc tầm thường này là do cái nhìn thấu thị vào nguyên lý, thấu vào càng sâu thì toả ra càng rộng. Rộng mà cùng cực bao mà khắp hết thì gọi là Thái Hoà, cũng gọi là Hoà Thời hay Việt Thời gồm cả triệt thượng lẫn triệt hạ, cả 50 con theo mẹ lên núi (lên tiên) cũng như cả 50 con theo cha xuống biển (sâu hơn đất) Từ Thức đã lên đến cũng “Giao Quang” thì tất nhiên cũng phải có cuộc trở về triệt hạ. Ai chê Từ Thức dại bỏ cõi tiên về cõi trần đầy tham nhũng bất công là tỏ ra không hiểu triết An vì xó lên mà cũng có xuống, lên tới hào 5 thì lại liên lạc với hào 2 nên trách là tỏ ra ở lì lại hào 4 “dược tại uyên” rồi. Triết lý An Vi khác hơn triết học ý niệm hay vô vi ở chỗ dẫn tới việc dấn thân để biến cải xã hội. Vậy thì ta nên mừng vì Từ Thức trở lại trần gian. Từ Thức lên tiên có thể là chỉ văn học nhà Lý nặng về xuất thế. Từ Thức trở lại cõi trần là văn học nhà Lê nhập cuộc mạnh hơn. Ta chỉ cần hỏi cuộc trở về có đạt quan chăng. Và phải thưa rằng kể ra là thất bại hay nói cho thật xác đáng thì thành công được 2 phần 3 tức có tình và chí còn ý vẫn nằm gàn bát sách… Huyền sử ghi lại sự thất bại rằng sự việc con cháu không nhận ra Từ Thức nữa? nhận ra sao được vì Từ Thức đã đi trật đường văn hoá dân tộc rồi. Ông bảo ông lên tiên. Hay lắm, nhưng đâu nào là bằng chứng Tiên đẹp chứ xấu gì? Thế tại sao ở giữa bày tiên đến gần một thế kỷ mà không được mụn con nào thì một là ông mù , hai là sự khám phá tiên chưa đủ sâu đến hạ tầng cơ sở, thành ra trở về tay trắng. Nói theo triết vậy là chưa chí trung mà không chí trung thì khó lòng chí hoá. Và việc phải xảy đến đã đến: thấy con cháu không nhận ra mình Từ Thức bỏ làng sang Tây! Tây đây là Tây Trúc quê hương của vô vi xuất thế. Vậy có nghĩa là Từ Thức không đạt chí hoà. Nếu đạt thì ở ngay lại làng chứ còn phải đi đâu nữa? ở lại làng cũng gọi là “ở đời” có nghĩa là chu toàn sứ mạng của triết gia trong một giai đoạn nhất định. Sứ mạng đó có thể tóm vào ít nét đại cương như sau:

1. Lôi lên mặt ý thức nội dung nằm trong những câu nói bóng gió của ký ức tập thể (cũng thuộc tiềm thức cộng thông) về việc chống đối Tàu. Đấy là việc làm cần thiết để lay tỉnh quốc dân. Nếu việc ấy mà thành công thì sẽ đi đến chỗ đặt nổi lên phần đóng góp của Viêm Việt trong việc hình thành Nho giáo.
2. Sau đó thì đến việc gỡ Nho giáo ra khỏi bụi gai Hán học để làm hiện lên cái cơ cấu uyên ngyên của Việt Nho. Cuối cùng tháp vào đấy những suy luận những dữ kiện mới để thiết lập nên một nền triết lý vừa vững mạnh vừa ám hợp cho tâm trí dân tộc mình. Đó là ba việc mà Từ Thức đã không làm được. Trong thực chất có nghĩa là cả kẻ sĩ và về sau cả tri thức đã không thiết lập nổi một nền triết cho dân tộc. Cả hai đều lên tiên: kẻ sĩ thì tiên là thơ phú suông; tri thức thì tiên là ý hệ xa rời thực tế cắt đứt với hàng triệu thôn dân, vì thế đối với nền quốc học cũng một tuồng như Từ Thức: trở về tay không. Về điểm này trí thức có lẽ còn kém kẻ sĩ Hán Nho vì dẫu là Hán nhưng còn là Nho, nên còn có cơ cấu tức là còn có đạo sống tuy lờ mờ, nhưng đến tri thức thì đạo sống cũng mất luôn và thế là để cho nước đi đến chỗ phân hoá cùng cực. Bởi vì từ và ý có phát triển tùm lum nhưng thiếu dụng và cơ thì kể là thiếu trọn vẹn. Đấy là một thiếu sót mà thế hệ mới đã nhận ra và đã nói lên nhiều lần. Tuy nhiên lại muốn bù đắp chỗ thiếu sót bằng khuyên y nguyên triết Tây trám vào lỗ hổng. Cái hỏng hiện ra rõ rệt – Trước hết vì triết Tây thuộc loại triết cá mè một lứa: tiêu diệt lẫn nhau thì có chứ không một tay nào nổi lên như chúa trùm để điều lý toàn bộ. Thứ đến là sự son đẹt của nó trong phạm vi hiệu nghiệm vì thiếu hai yếu tố quan trọng là tình và chí. Triết mà đã gảy ra ngoài tình cũng như chí thì còn là một mớ trí thức, một mớ lý luận suông không trông “làm nên giống má” chi cả. Vì thế tuy nó có đánh bại được nền văn hoá Việt để chiếm chỗ thì đấy cũng là những triết học hàn lâm trường ốc không bao giờ âm vang vào đời sống. Vậy thì có nên bỏ triết Tây chăng? Thưa không, vì chúng ta thiếu triết mà thiếu là tại thiếu ý, mà Tây lại giầu về ý, nếu bỏ triết Tây thì mượn ở đâu, cho nên giải pháp tốt nằm trong chỗ phải thâu hoá nhiều ý của triết Tây, nhưng phải đặt chúng vào cơ cấu Việt Nho. Và lúc ấy chúng ta sẽ có một nền triết lý ám hợp cho tâm trạng chúng ta. Ngoài là ý nhưng trong là Tình mà tình thâm thì văn sẽ minh (tức đạt chí) sẽ có thể bơm hăng say vào cho nền cổ học. Và lúc ấy chúng ta sẽ mở ra được giai đoạn 5.

Giai đoạn 5
Nhằm là đem lại cho nước nhà một nền triết lý nhân sinh để làm xương sống cho quốc học. Xét như thế thì sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu đem lại cho ta nhiều may mắn để thành tựu trong bước ý. Triết Tây với những ý hệ đồ sộ nguy nga dễ giúp cho chúng ta nhận ra chỗ yếu của mình, đồng thời giúp phương tiện để chúng ta xây đắp chỗ thiếu sót đó. Thế là trong cái rủi lại có cái may: trong những đổ vỡ hoang tàn gây ra do sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu chúng ta gặp cái may nhận thức được giá trị chân thực của mỗi nền văn hoá, và đó là chỗ có thể làm ta giầu kinh nghiệm hơn tổ tiên.

Phía dân chúng
Những điểm vừa bàn thuộc về phía trí thức.
Bây giờ chúng ta nhìn sang phía dân chúng để ước lượng những khả năng của sự đón nhận một nền chủ đạo mới. Ta hỏi rằng sau từng ngàn năm tẩm nhuận Hán Nho, sau 80 năm chạy theo Tây học thì liệu nay dân chúng còn có tâm kiện để đón nhận một nền triết lý Việt Nho nếu nó xuất hiện. Và chúng ta có thể vui mừng mà trả lời là có, dân chúng vẫn còn tâm kiện đó. Ai cũng có thể nhận thấy trong dân gian còn rất nhiều những yếu tố của Việt Nho, mặc dầu chỉ còn trong tình trạng tình cảm và tiềm thức, lý do là bởi vì đã không còn được tri thức vun tưới. Nhưng nếu có vun tưới thì sẽ sống lại mạnh mẽ trên khắp lãnh thổ, kể cả miền Nam nơi có thể bị ảnh hưởng Pháp quá nặng vì là thuộc địa khác hơn Trung Kỳ Bắc Kỳ chỉ mới là đất bảo hộ nên ảnh hưởng Pháp chưa thấm sâu bằng, như nhiều người quen nhận xét. Riêng tôi cho rằng nhận xét như vậy chỉ đúng với giới trí thức với thị dân, còn với thôn dân thì không. Đời sống tình và chí nơi thôn dân vẫn còn vận hành trong quĩ đạo Việt Nho nhất là trong Nam. Hơn thế nữa miền Nam hội tụ được hai điều kiện rất thuận lợi cho sự nảy nở của Nho giáo nguyên thuỷ: Trước hết vì là đất mới nên chưa chịu ảnh hưởng Hán Nho tức những lễ giáo quá kềnh cơi nghiêm ngặt như ngoài Bắc và nhất là miền Trung với sức nặng của ảnh hưởng triều đình. Người trong Nam chưa bị óc “sính lễ” (hyperituel) ràng buộc. Nên chúng ta gặp ở đây một thứ Nho giáo thong dong bên ngoài mọi ước lệ. Rất nhiều người đã tự học Nho qua những sách như “Minh tâm bảo giám” phiên âm và dịch ra quốc ngữ nên chỉ cần có đạo lý không kể đến chữ a b c lề lối phức tạp, vì thế mà nơi những người Nam có một sự chân thành hết sức tự nhiên không có sức lèo lá che đậy, một lòng hiếu khách bộc lộ với những mối tình chân thực trong trinh, mạnh mẽ hùng tráng như được biểu lộ trong các tuồng loại Sơn Hậu… Thứ đến là đời sống vật chất phong phú: đất đai rộng, cây cối hoa màu tốt tươi, cá tôm đầy khắp đem lại che đời sống một sự thoải mái dễ chịu nhân đo có nhiều những lúc thư nhàn thuận lợi cho sự nảy nở tình cảm, nó là nền móng cho văn hoá, cho sự nảy nở của tuồng cải lương, ca sướng. Nhờ đó mà người trong Nam đã thể hiện được những đức tính của Việt Nho một cách khá trung thực, nhờ không bị mắc vướng trong những điều kiện kinh tế quá hẹp hòi ở hai miền Trung và Bắc. Về điểm này miền Nam có thể sánh với Mỹ Châu khi người Âu Châu tới lập nghiệp, cả hai nơi đều có những vùng đất tương đối mênh mông để mặc sức khai thác. Nếu ai làm một luận án, điều tra cẩn thận hai lối đối xử của dân di cư với dân thổ trước, một bên là lối sống hậu tình của dân mới đến lập nghiệp vẫn kính trọng quyền lợi các dân trước. Bên kia là tước đoạt giết chóc tiêu diệt… thì sẽ nhận ra sự khác biệt rất sâu xa về hai nền văn hoá và sẽ phần nào nhận ra khuôn mặt hiền hoà thâm diệu của Việt Nho . Tóm lại là ở miền Nam người Việt đã gặp hai điều kiện thuận lợi cho Nho giáo nguyên thuỷ nảy nở một là đất rộng hai là những nghi lễ phiền toái của Hán Nho chưa kịp đến chi phối bẻ quặt.

Tại sao người Nam ít thích văn học?
Đối với những điều quyết đoán trên có thể đưa ra vấn nạn sau đây: nếu những lời trên là đúng thì lẽ ra người Nam phải thích văn hoá. Thế mà tại sao phần đồng lại không ưa văn hoá, chỉ chuyên nhậu nhẹt với ba câu vọng cổ mùi, như thế sao nói được là có tinh thần Việt Nho, vì một trong những đức tính của Việt Nho là ưa văn hoá, nên mới gọi là văn hiến chi bang? Nhận xét trên đúng, nhưng chưa sâu. Nếu muốn đào sâu, thì phải hỏi tại đâu lại có tình trạng đó, lúc ấy sẽ nhận ra lý do ở tại sự đứt quãng văn hoá giữa thôn dân và thị dân. Tự đời Pháp thuộc thì thị dân được lái dần vào quĩ đạo văn hoá Tây Au một nền văn hoá trưởng giả thiếu khả năng thông đạt đến dân gian (xem đầu Hiến chương giáo dục) vì thế những sản phẩm văn hoá do thế hệ Tây học không sao gây âm vang vào lòng dân gian được như văn hoá cổ truyền sáng tạo do kẻ sĩ , thi dụ truyện Kiều hay Lục Vân Tiên… Trí thức nay không thể sáng tạo nổi một tác phẩm nào được dân chúng hoan nghênh đến thế. Sự đứt quãng này ít được nhận ra, vì một đàng ảnh hưởng trước còn lưu lại rất nhiều trong những người trí thức đầu tiên. Đàng khác trong phương diện chính trị chống xâm lăng thì tri thức với dân gian đều thông cảm mạnh mẽ nên nó che đậy sự cắt đứt với dân chúng của giới trí thức. Hơn thế nữa lại nhờ có quốc ngữ nên sự truyền thông trở nên mau lẹ. Khiến nhiều người nghĩ giới trí thức nay gần dân chúng hơn nho sĩ. Đấy là một sự lầm tưởng, vì sự truyền thống chỉ hời hợt bề mặt, còn bề sâu đi vào tâm hồn thì kém xưa nhiều, vì trí thức đánh mất dần mối tương quan với dân gian trong khi được đào tạo theo văn hoá trưởng giả Tây Âu nên càng lâu càng xa cách dân gian, không còn giữ được nền nhất trí như bên Viễn Đông nơi toàn dân tham dự vào đời sống văn hoá, nếu có chút phân biệt nào chăng là kẻ sĩ thi tham dự bằng sáng tác, còn dân gian tham dự bằng tiêu thụ. Điều này giới trí thức không nhận ra vì nhiều lý do mà chúng ta cần phải nói phớt qua: trước hết là nhờ chữ abc nên dân học mau lẹ, do đó giới trí thức thổi phồng sự khó khăn của chữ Nho cho là trưởng giả xa dân, kỳ thực nếu xét về nội dung thì chính trí thức mới là trưởng giả xa dân, bởi vì ngoài việc chống Pháp thuộc chính trị và mấy câu truyện giải trí tri thức đưa đến cho thôn dân nền đức lý nào, mà đó mới là cốt tuỷ của văn hoá còn hô hào đánh Tây, với mấy câu truyện thì chỉ là phần Dụng hời hợt từng giai đoạn chứ có gì thâm sâu lâu đời được như Nho giáo với thôn dân Việt đâu. Trí thức đã đem ra được chủ đạo nào để hội thông với thôn dân? Chính vì thế mà long yêu văn hoá nơi thôn dân trở nên yếu nhược. Văn hoá là một thực hoá. Thiếu điều đó thì nó sẽ ngảng dần. Trí thức nay có sản xuất những sách kiểu Tự Lực văn đoàn hay có dịch các tác phẩm của Tây phương thì hầu hết cũng là những kiến thức vừa tản mát vừa rất xa với thực tế của nền văn hoá nông nghiệp Việt Nam, nên nếu không có hại thì ít gì cũng xa lạ, quá xa lạ đối với quảng đại quần chúng thôn dân, nên cùng lắm thì những sản phẩm nọ chỉ giúp ích cho giới trí thức thành thị giải trí với nhau mà thôi, không sao thẩm thấu vào lòng dân chúng. Vì thế mà trí thức thiếu mất chân đứng trong dân và văn hoá cả hai phía đều trở nên yếu nhược. Bên trí thức thị dân thì phân tán vì văn hoá Tây Âu hầu hết chỉ có Ý nên là thứ văn hoá tan nát, đúng ra chỉ là văn học, văn nghệ.

Còn phía dân gian thôn dã vì không được tiếp sinh khí mới thì tất cả đời sống văn hoá phải dậm chân trên mấy sáng tác cuối mùa của kẻ sĩ: Lục Vân Tiên với ba câu vọng cổ mùi. Cái gì hay đến mấy mà dọn đi dọn lại rồi cũng phải nhàm nên dần dần quay ra chán văn hoá, đi vào nhậu nhẹt. ít lâu thành thói quen. Hại không ở tại nhậu nhẹt mà hại là đánh mất đức tính ưa chuộng văn hoá.

Đây là một sa đoạ trầm trọng, bởi vì đời mới chúng ta có muôn phương tiện để mở mang văn hoá hơn xưa, thế mà lòng yêu văn hoá lại xuống thấp đến độ không đua hơi nổi với nhậu nhẹt… với những phim cao bồi vô luận đang vẫy vùng trong mảnh đất bị bỏ hoang này. Đấy là một thảm trạng mà khi xét kỹ thì nhận ra lý do ở tại sự đứt liên lạc giữa trí thức trưởng giả thị dân một bên và thôn dân bên kia. Cho nên nói tới cùng thì chính là trách nhiệm của giới trí thức chứ nơi thôn dân vẫn còn tìm được bầu khí thuận lợi cho sự phục sinh của văn hoá dân tộc. Làm thế nào để trí thức từ bỏ lối văn hoá đầy du hí tính (như ta nhận thấy các tuần báo nguyệt san nay hầu hết là giải trí lăng nhăng, không còn những chiến đấu cho văn hoá chính trị) và bác tạp tan nát. Làm thế nào để mọi người đi học đều thầm nhuần sự cần thiết một nền văn hoá thống nhất được toàn dân như xưa. Thiết nghĩ đường lối tốt nhất là làm sao cho mọi người nhận thức ra được cái cơ cấu tinh thần dân tộc, rồi nữa phải hướng mắt nhìn về thôn dân, nơi có những tâm hồn trinh trong chưa bị bẻ quặt do những ý hệ ngoại lai, để trở thành những trạm chuyển vận tư tưởng trong dân gian. Khi nào chu toàn được việc ấy thì nước ta sẽ lại vận hành trong quĩ đạo của triết lý nhân sinh có nội dung chân thực thống nhất thôn dân với thị dân để bước vào giai đoạn 5 với nền quốc học mạnh mẽ làm lương tinh thần cho sự kiến thiết quốc gia. Làm thế nào để đạt mục tiêu đó sẽ bàn ở chương sau về Văn Hiến.

Về điều này có thể khởi đầu bằng tra cứu những sách như “khi những người lưu dân trở lại” của Nguyên Văn Xuân, và “Người Việt có dân tộc tính không” của Sơn Nam.
Trong quyển Déclin de l’occident (trang 95) ông Spengler quả quyết: “hết mọi kiệt tác của Tây Âu từ Dante cho tới Parsifal đều không có tính chất đại chúng”.

Trích Kim Định- chương VI, sách Vấn đề Quốc học

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s