Giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam, tập 1 và tập 2

 

Kính thưa quý vị và các bạn.

Xét thấy rằng, các giáo trình văn học cổ điển xuất bản trước năm 2019 còn nhiều phiến diện,

Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức biên soạn bộ tài liệu:

Giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam, tập 1 và tập 2

Đây là tài liệu thiết kế riêng cho sinh viên văn khoa. Đồng thời văn học cổ điểm cũng cần thiết và ơn ích cho nhưng ai muốn tìm lại cội nguồn dân tộc, tìm lại những giá trị truyền thống. Đây là nỗ lực cải cách học thuật của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam trong suốt những năm qua.

Giáo trình này khác với những giáo trình từng biên soạn trước ở chỗ công nhận Kinh Thi là một bộ phận cấu thành của Văn học cổ điển Việt Nam. Có nghĩa là, bộ Giáo trình văn học cổ điển khác ít nhất 10 thế kỷ. Bởi những giáo trình trôi nổi trên thị trường hiện nay làm việc với văn bản quãng thời nhà Lý ( thế kỷ X, XI), trong khi giáo trình do Nghiệp đoàn giáo chức xây dựng khai quật được những bản văn của nền văn minh nông nghiệp Bách Việt ở bờ Nam sông Dương Tử, tức là có trước công nguyên. Hoa tộc mãi sau này mới từ bờ Bắc mà sang được bờ Nam sông Dương Tử. Chính vì vậy Kinh Thi thể hiện tinh thần của Việt tộc, xứng đáng được đưa vào môn văn học cổ điển trong chương trình đào tạo sinh viên văn khoa. Đề quyết này mang tính táo bạo, làm thay đổi triết lý giáo dục ở Việt Nam.

Bộ giáo trình này không hướng sinh viên tới chỗ học thuộc lòng, các em được mang sách vở ghi chép vào trong các kỳ thì giữa kỳ và cuối kỳ. Tuy nhiên chỉ những em hiểu sâu sắc nhờ học thuộc mới có thể đạt được điểm cao, còn lại các em không thuộc văn bản, phải mở sách ra để chép bài thơ thì thường đạt điểm số trung bình. Tất cả các em đều qua môn, những em thuộc thơ có thêm hành trang vào đời.

Không chỉ vậy, bộ giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam công làm việc với các văn bản viết bằng chữ Khoa Đẩu- là dạng tự đầu tiên của Việt tộc. Chính vì vậy chúng tôi tự tin khẳng định rằng giáo trình này vượt xa giáo trình đang giảng dạy trong các trường đại học có chuyên ngành văn hiện nay.

Để nhận bộ giáo trình này, bạn đọc có thể gửi email về địa chỉ điện thư: info@nghiepdoangiaochuc.org

Trân trọng.

33849111_198864920926963_8731457599808995328_n

Nhân phẩm một người phụ nữ Việt chỉ bằng một ngày công lao động: ” Hoặc thần kinh, hoặc khốn nạn!”

Yên Khuê

Những điều không bình thường như quấy rối tình dục, lạm dụng trẻ em, an toàn vệ sinh thực phẩm … bỗng nhiên lại được các quan tỉnh, quan huyện, cán bộ công quyền biến thành chuyện bình thường làm cho người ta phải rùng mình. Không biết họ ngây ngô để có thể tự tin vào những phát ngôn của mình hay họ đang tìm cách trấn an dư luận một cách ngu xuẩn.

Nhân phẩm phụ nữ có giá 200 ngàn đồng

Ngày 18/3, Công an quận Thanh Xuân (Hà Nội) cho biết vừa ra quyết định xử phạt người đàn ông 47 tuổi (quê Hải Phòng) 200.000 đồng theo Khoản 1, Điều 5 Nghị định 167 trong vụ cưỡng hôn một phụ nữ 20 tuổi trong thang máy một toà chung cư cao cấp ở đường Lê Văn Lương (quận Thanh Xuân, Hà Nội) lúc 22h15 ngày 4/3.

200 ngàn đồng sẽ được nộp vô ngân sách nhà nước, nhưng bài học cho ông “dê xồm” này quá rẻ. 200 ngàn đồng chỉ bằng có 3,4 tô phở ăn sáng.

Chưa bao giờ nhân phẩm của phụ nữ lại rẻ đến như vậy!

Có thể sẽ có người thắc mắc tại sao lại để cho ông ta hôn mà không tát cho một cái, cào cho sứt mặt hay thậm chí đạp vô chỗ kín một cái cho chừa tật hôn bừa. Nhưng một cô gái trẻ như vậy, chỉ biết hoảng loạn khi bị người khác dở trò quấy rối tình dục mà mất luôn khả năng phản kháng, tự vệ trước một người đàn có lẽ thừa tiền nhưng thiếu đạo đức.

Dù đã nhận lời công khai xin lỗi theo yêu cầu của nạn nhân trước sự chứng kiến của cư dân, Ban quản lý tòa nhà, Tổ dân phố, Công an quận, phường…, nhưng trong hai lần tổ chức gặp mặt ông ta đều vắng mặt.

Điều cô cần là một lời xin lỗi từ phía kẻ quấy rối tình dục thì công an quận Thanh Xuân – Hà Nội đã không thể làm được. Và cả phía công an lẫn thủ phạm đều cho rằng chỉ cần 200 ngàn đồng mọi chuyện sẽ xong xuôi.

Có lẽ vì họ cho rằng, hôn một cái, sờ một chút thì có mất mát gì đâu.

Sờ mông, sờ đùi bày tỏ tình cảm yêu thương

Thầy giáo D.T.M (SN 1981) – giáo viên chủ nhiệm lớp 5A, Trường Tiểu học Tiên Sơn, Việt Yên (Bắc Giang) – bị tố sau khi uống rượu đã sờ mó một loạt các em học sinh tiểu học tại trườngtrong đó có một em xác nhận thầy sờ vào vùng nhạy cảm.

Kết quả điều tra 14 em học sinh nữ 9,10 tuổi; các em cho biết thầy D.T.M “chỉ véo tai, véo mũi, dí vai, sờ mông, sờ đùi một số học sinh nữ của lớp 5A.” Nên vì thế theo ông phó chủ tịch huyệnNguyễn Đại Lượng vì“thầy M không có hành động nào khác nên cơ quan chức năng chưa đủ căn cứ chứng minh ông M. có hành vi dâm ô (đối với người dưới 16 tuổi).”

Ông Lượng cho rằng ông M. đã có hành vi xâm phạm thân thể trẻ em và rằng “Dù là bày tỏ tình cảm yêu thương hay đùa vui thì hành vi đó cũng không phù hợp với vai trò người giáo viên đứng lớp”.Trong khí đó Phó trưởng công an huyện Nguyễn Việt Nguyễn tuyên bố việc xác định sờ mông đùi có phải là vùng nhạy cảm hay không là “không phải chức năng của công an”.

Họ đã coi nhẹ nhân phẩm của trẻ em nữ, những người yếu thế và dễ tổn thương vì không đủ khả năng tự vệ cũng như chưa đủ nhận thức thật sự để phân biệt hành động sờ mó mông đùi không là “cách thể hiện tình cảm yêu thương hay vui đùa” ở một xã hội văn minh. Ông M. sau đó bị đình chỉ công tác 15 ngày, báo chí cũng loan tin các em bị thầy sờ mó cũng đã ổn định tâm lý và đi học trở lại.

Một kết cục toàn hảo!?

Sờ mông đùi người khác, kể cả trẻ nhỏ hay người lớn cũng không phạm luật vì chẳng phải dâm ô. Con nít có bị sờ tý nó cũng quên ngay, mất mát gì mà phải làm lớn chuyện!

Hành vi dâm ô trẻ em là “phạm tội ít nghiêm trọng”

Một bé gái 9 tuổi bị một người đàn ông lừa vô ruộng chuối để xâm hại làm rách màng trinh, và rách tầng sinh môn, ngoài ra bé còn bị rạn xương tay, gãy răng hàm dưới nhưng kẻ thủ ác vân được tại ngoại vì theo ông Thiếu tá Tống Quang Hiếu, Đội trưởng Đội cảnh sát hình sự (Công an huyện Chương Mỹ), nghi phạm Nguyễn Trọng Trình được tại ngoại vì “phạm tội ít nghiêm trọng”.

Thủ phạm bị kết tội dâm ô theo luật dành cho các hành vi dâm ô với người dưới 16 tuổi mà không phải với trẻ dưới 10 tuổi.

Nếu đây là hành vi hiếp dâm thì kẻ thủ ác đã phạm tội hiếp dâm trẻ dưới 10 tuổi. Theo điều 142 của Bộ Luật Hình Sự 2015 thì theo khoản 3 mục c, tội “thực hiện các hành vi có thể phải lãnh án từ 20 năm tới chung thân hay tử hình. Hoặc nếu chiếu theo khoản 1 cũng của điều luật 142 này khi tìm cách thực hiện các hành vi tình dục khác với trẻ dưới 13 tuổi cũng sẽ được xem là tội hiếp dâm và có thể bị kết án từ 7 đến 15 năm tù.

Cơ quan chức năng lại vụ này cho vào mục dâm ô đối với người dưới 16 tuổi vì “không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác” để thủ phạm có thể chỉ bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Theo công an huyện Chương Mỹ thì qua lời khai chỉ có thể khép tội thủ phạm vào tội dâm ô. Vậy còn các hành vi quan hệ tình dục khác thì sao? Các hành vi quan hệ tình dục bằng tay, miệng, hay thậm chí đồ chơi thì không được xem là “các hành vi quan hệ tình dục khác” để có thể dễ dàng lẩn từ tội danh hiếp dâm sang tội dâm ô?

Và rõ ràng theo công an dâm ô là tội “ít nghiêm trọng” vì họ đã cho thủ phạm được tại ngoại!?

Phụ nữ – trẻ em Việt Nam: hàng thứ cấp!

Những tội không thể tha thứ về mặt đạo đức đã được quan chức và công an Việt Nam coi nhẹ như không. Họ không nghĩ đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ sau này cũng như những tổn thất tâm lý và thể chất mà người phụ nữ sẽ gặp phải khi kết hôn.

Ở nước ngoài, người ta tuyệt nhiên không chạm vô thân thể của người khác khi không được phép. Đàn ông trưởng thành càng tránh sờ mó, đụng chạm vào trẻ em vì không khéo sẽ bị kết tội lạm dụng trẻ em.

Họ cũng không dám tự ý đụng chạm, có những hành vi khiêu khích bằng lời nói hay cử chỉ với người khác để có thể bị quy kết là quấy rối tình dục. Thậm chí ở ngoài đường nếu huýt sáo, phát ra các âm thanh trêu ghẹo phụ nữ cũng có thể bị xem là phạm luật và sẽ bị phạt tiền.

Còn ở Việt Nam, sờ mó mông đùi có gì là quá, cưỡng hôn cũng không to tát gì vì có bị phạt 200 ngàn, xâm phạm trẻ dưới 10 tuổi cũng chỉ là tội ít nghiêm trọng vì chỉ cần trám vô 10 triệu. Cả Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em, Hội phụ nữ, Bộ Giáo dục vô tích sự vẫn câm như hến trong khi vẫn ngốn tiền thuế dân mà không biết xấu hổ.

Trẻ và phụ nữ phải tự giáo dục về giới tính, phải tự tìm hiểu các biện pháp tự vệ hay học võ để phòng thân, tự trang bị các vật dụng chống bị tấn công trong người như bình xịt hơi cay mini bởi họ đang sống trong một thời đại rực rỡ đồng bộ đến như thế!

Quả thật chỉ có thể nói “ hoặc là thần kinh, hoặc khốn nạn”.

 

Nhân cách của nhà giáo Trần Văn Hương- tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa

TRẦN VĂN HƯƠNG – 2
Thái Bá Tân

Đã nhiều lần nghe nói,
Không biết có đúng không.
Nhưng có lẽ là đúng.
Nghe mà nhói trong lòng.

Hai ngày sau nhậm chức,
Tổng thống Trần Văn Hương
Được đại sứ nước Pháp
Trao bức thư dị thường.

Đó là bức thư mật
Của chính quyền Trung Hoa,
Hứa viện trợ, giúp đỡ
Nước Việt Nam Cộng Hòa

Đánh bại quân Bắc Việt.
Ông từ dưới đánh lên.
Họ từ trên đánh xuống,
Rồi ép cả hai bên.

Miền Bắc thua, lúc ấy
Ông vẫn giữ nước ông.
Họ sẽ chiếm Miền Bắc.
Cả hai cùng hài lòng.

Một đề nghị hấp dẫn,
Nhất là khi sắp thua.
Thư từ đại sứ Pháp.
Nghiêm túc, không phải đùa.

Không cần phải cân nhắc,
Tổng thống Hương nói: “Không!
Chúng tôi thà mất nước
Cho Bắc Việt. Các ông,

Các ông thì không được.
Các ông là ngoại bang”.
Và mấy hôm sau đó
Ông ký giấy đầu hàng.

*
Tôi thành thật xin lỗi
Tổng thống Trần Văn Hương,
Một người con yêu nước,
Một nhân cách phi thường.

Xin lỗi vì ngày trước
Bị nhồi sọ, bốc đồng
Tôi đã từng căm ghét
Tổng thống Diệm và Ông.
_________

TRẦN VĂN HƯƠNG

Ngày Hăm Chín tháng Bốn
Năm Bảy Lăm, một ngày
Trước Sài Gòn thất thủ,
Điện thoại réo gắt gay.

Đó là đại sứ Mỹ
Gọi điện thoại dục ông
Phải gấp rút di tản.
Nhưng ông đã nói không.

“Tôi tình nguyện ở lại
Để chia sẻ phần nào
Cái nhục người mất nước
Của quốc dân đồng bào”.

Sau đấy ông bị bắt,
Bị giam suốt ba năm
Ở đường Phan Thanh Giản,
Trong căn hẻm tối tăm.

Năm Một Chín Bảy Tám,
Người ta trả cho ông
Quyền công dân, quốc tịch.
Nhưng ông lại nói không.

“Tôi không thể nhận nó.
Các quân nhân Miền Nam
Tuân lệnh tôi, ngừng bắn,
Nay đang bị tù giam.

Với tư cách tổng thống,
Tôi đau xót trong lòng,
Nên không muốn, không thể
Làm công dân các ông.

Năm Một Chín Tám Mốt,
Ông chết ở tư gia.
Vẫn công dân, quốc tịch
Nước Việt Nam Cộng Hòa.

Chương trình đào tạo văn khoa do giáo sư Lê Trí Viễn thiết kế đã xuất hiện lỗ hổng và cần thiết kế lại.

Nhà giáo Lê Trí Viễn- Ảnh tư liệu

Chương trình đào tạo văn khoa do giáo sư Lê Trí Viễn thiết kế đã xuất hiện lỗ hổng và cần thiết kế lại. Trong đó, hai môn bắt buộc phải đưa vào là môn Việt Nho và môn Triết Văn. Mặc dù rất giỏi, rất tâm huyết nhưng nhận thức còn phiến diện và chưa đủ chín, giáo sư Lê Trí Viễn đã không nhìn ra hai đặc thù này của nền đào tạo văn khoa.

Vì sao phải đưa vào chương trình môn Việt Nho-vì Việt Nho là tư tưởng chủ đạo của dân tộc, là bảo vật trấn quốc của ông cha ta qua hàng thế kỷ. So với các thứ triết khác thì môn triết Việt Nho phải làm xương sống cho chương trình đào tạo, còn những học thuyết từ Tây đưa vào chỉ là tùy phụ.

Vì sao phải đưa chương trình môn Triết Văn vào chương trình giảng dạy? Vì đó là nhịp cầu bắc giữa môn Triết và môn Văn. Thiếu môn này, sinh viên khoa Triết không biết cách diễn đạt vấn đề. Cũng vì thiếu môn này nên sinh viên khoa văn rơi vào tình trạng lời đẹp cầu âu, viết trúng trúng trật trật.

Việc đưa hai môn Việt Nho và Triết Văn vào chương trình giảng dạy được xem là một cuộc cách mạng học thuật ở Việt Nam.

Hiện nay đã có tổ chức đầu tàu trong việc biên soạn giáo trình Việt Nho và giáo trình Triết Văn. Giảng viên ngành Việt Nho và ngành Triết Văn đang được Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam đào tạo gấp rút cho kịp với tình hình thực tiến của Việt Nam. Những giảng viên này giảng dạy theo lời mời của các trường đại học đào tạo ngành văn hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có thiện chí cho nỗ lực cải cách đào tạo ngành văn của Việt Nam.

Download Giáo trình Việt Nho: https://goo.gl/GKjh3n
Download Giáo trình Triết Văn: https://goo.gl/B81uxJ

Để đóng góp ý kiến cho giáo trình Việt Nho và giáo trình Triết Văn, mời bạn gửi thư về địa chỉ: info@nghiepdaongiaochuc.org
Trân trọng.

Giảng viên Việt Nam cần chấm dứt tệ nạn dùng tiền của sinh viên để tổ chức hội thảo khoa học

Các hội thảo khoa học, đáng tiếc, lại lấy từ ngân sách, mà ngân sách thì đến từ tiền chi trả học phí của sinh viên. Do đó, giảng viên Việt Nam cần chấm dứt tệ nạn dùng tiền của sinh viên để tổ chức hội thảo khoa học, nhất là ở các trường quốc gia. Nếu có thì phải cho đại diện của các tổ chức sinh viên biết.

Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam, một tổ chức sinh viên với nỗ lực minh bạch giảng đường đang thu thập tài liệu của các trường để giảm chi phí cho sinh viên. Bằng cách loại bỏ những chi phí thừa, chi phí phát sinh, sinh viên được giảm học phí và từ đó giảm các tệ nạn xã hội.

Giới thiệu giáo trình Triết Văn- Philo-Lettres

Lời nói đầu

Làm văn hoá mà lầm thì giết muôn thế hệ.

Mỗi một nước, một dân cần phải có một nền chủ đạo. Nền chủ đạo ấy phải xuất phát tự nội, nghĩa là tìm tiêu chuẩn ngay trong chính mình. Tìm ra nền chủ đạo ấy đáng lý ra là công việc của toàn dân. Song, những người học triết khoa- văn khoa-sử khoa được đào tạo kỹ càng hơn thì có sứ mệnh lớn hơn trong việc tìm ra nền chủ đạo để toàn dân chiêm ngưỡng và vụ tưới tài bồi. Môn chuyên ngành hiểu về nền chủ đạo của dân mình và biết so sánh lợi-hại với nền chủ đạo của các dân xung quanh gọi là môn Triết Văn.

Việt Nam hiện còn thiếu một ngành gọi là ngành cử nhân Triết Văn ( Philo-lettres). Khi các bậc sĩ phu có ý tưởng lập ra ngành này, họ hy vọng sẽ là một cầu nối giữa triết và văn. Đến thời chúng tôi là những người phác thảo thành giáo trình, chúng tôi nhận thấy rằng ngành Triết Văn còn ơn ích cho ngành sử. Vậy ngành Triết Văn giúp thực hiện lý tưởng văn-sử-triết bất phân, tưởng chừng một đi không trở lại thì nay chúng tôi có ý định vực dậy.

Trong năm 2019, Ban cải cách học thuật của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam bắt đầu xây dựng ngành Triết Văn cho hệ thống giảng đường Việt Nam. Đây là dự định còn dang dở của đại học Văn khoa Sài Gòn từ năm 1973, do điều kiện đất nước chiến tranh mà chưa thực hiện được.

Nếu bạn đã đọc các tác phẩm và có ý tưởng xây dựng ngành Triết Văn như chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi để bắt đầu cho khối lượng công việc lớn này.

Là những người đầu tiên khai mở ngành học này cho Việt Nam, cuốn giáo trình này rất giản lược, hầu cho bạn đọc có căn bản để sau này làm việc, nhất là những bạn làm trong ngành xuất bản và các công việc trên mặt trận văn hóa nước nhà.

Bản mà bạn đang cầm đọc trên tay viết lần đầu ngày 05 tháng 03 năm 2019, cập nhật mới nhất 21h59 ngày 18 tháng 03 năm 2019.

Cuốn giáo trình này được phép sao chép, in ấn mà không cần phải xin phép trước, với điều kiện duy nhất là phải tuân thủ đúng tinh thần của người biên soạn.

Chủ biên Lê Tín- ngành văn học, trường đại học Văn Khoa Sài Gòn,
Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Tải miễn phí giáo trình Triết Văn ( Philo-lettres):  https://goo.gl/B81uxJ

Nết xấu của dân tộc

Hỏi rằng có nét xấu nào gọi được là dân tộc tính chăng? Nên phân biệt, nếu là xét về thể thì không có vì nhờ nền văn hoá đạt Cơ , thì tất cả nhhững nhu yếu nền tang đều đã có chỗ ứng đáp. Nhưng nếu xét về Dụng tức là do hoàn cảnh ngoại lai thì mấy nét xấu sau đây có thể gọi được là gắn liền với dân tộc, một là gian vặt hai là cẩu thả và ba là thiếu lòng chung. Cả ba gây nên do tình trạng của nước bé nhỏ sống bên cạnh một nước quá lớn, hay bị xâm chiếm đô hộ thì tất nhiên phải chịu nhiều bất công nên nhu yếu sinh tồn bắt phải tìm những lề lồi ngang ngửa quặt quẹo để sống.

Trong các lối đó phải kể trước hết là sự gian lận. Thí dụ lúc người Pháp còn cai trị lập ra sở đoan , muốn để giữ độc quyền mua bán muối. Mua vào 6 xu bán ra 9 cắc (hay là 90 xu tức 15 lần đắt hơn. Đây là thí dụ có thực ở Bắc Việt). Với giá mua rẻ mạt như vậy tất nhiên dân làm muối quá khổ, cần phải gian lận, giấu giếm một ít để bán lậu. Thế là có cả một hệ thống buôn muối lậu mà ai cũng cho là phải lẽ. Nói là gian lận thì không đúng, vì đó là của mồ hôi nước mắt mình, nay bị ngoại bang tham tàn đến cướp miếng cơm thì mình có quyền phản kháng nhưng vì quá yếu phản kháng vô ích chỉ còn cách làm lén một việc không hề phạm tới quyền lợi của ai, vì thế được mọi người chấp nhận. Nhưng chính sự chấp nhận đó lâu ngày gây nên tật xấu là gian dối. Tôi có đọc trong một quyển sử Pháp nào đó lời phàn nàn rằng sau bốn năm quân Đức chiếm đóng, người Pháp phải nói dối để tự vệ, để giúp du kích quân…. thế là khi lấy lại được độc lập thì nhiều người Pháp đã mắc tật nói dối, gian lận…

Mới có 4 năm Đức chiếm đóng mà tật gian dối đã xâm nhập một số người Pháp, huống chi từng ngàn năm Bắc thuộc, rồi 80 năm Pháp thuộc thì người Việt Nam thoát sao khỏi cảnh bị tẩm nhuận trong việc ăn gian nói dối. Khi nó lan vào giới công chức nhất là những đợt cao cấp thì sẽ làm tê liệt mãi mãi quê hương ta. Không một việc lớn nào có thể hiện thực khi chính quyền gồm phần lớn những đầu óc tham nhũng.

Cầu thả: Tật xấu thứ hai cũng do cảnh tiểu nhược quốc bên cạnh nước khổng lồ, không bao giờ được hưởng thái bình lâu dài nên cứ phải làm lại cuộc đời luôn luôn. Sự kiện đó gây nên tâm trạng ăn sổi ở thì lâu ngày đâm ra quen không thích những lối làm việc dài hơi. Thế là lâu ngày đoạ ra cầu thả. Đấy là một nết xấu rất tai hại, Con đường người Việt tráng nhựa thì hầu như phải làm lại một năm. Dây điện cao độ do người Việt mắc chưa xong mà các cây sắt đã quằn hoặc trệ xuống. Quyển Kinh Thư do trung tâm học liệu xuất bản mà không có đến cả một mục lục. Quyển Xuân Thu thì phải kể là thùng rác… Hầu hết cách chưa xuất xứ trong các sách khảo cứu của ta còn xa lắm mới đạt sự cẩn thận của khoa học gia… Đây là một tật xấu rất tai hại, có sửa đổi được thì nước mới trông tiến bộ. Sau trận thế chiến thứ hai thì Nhật và Đức là hai nước đã phục hưng một cách mau lẹ hiện nay Nhật đứng thứ ba Đức thứ bốn sau Mỹ, Nga. Cái gì đã giúp hai nước này tiến được như thế? Có nhiều lý do nhưng các nhà quan sát đều nhận thấy ở cả hai nước một yếu tố chung thuộc tinh thần đó là sự ham mê việc làm, nhờ vậy việc nào làm cũng tới nơi tới chốn. Có thể nói đức tính này đứng đầu trong các nhân tố đẩy đà tiến mạnh của hai nước Đức Nhật. Đấy là tấm gương trong mà người nước ta cần phải soi đêm soi ngày cho tới lúc bất cứ việc gì to nhỏ không làm thì thôi, đã làm là làm tới chốn. Chỉ có thế nước nhà mới trông theo kịp thế giới.

Thiếu lòng chung: Nét xấu thứ ba là thiếu lòng chung không chú ý đến lợi ích công cộng. Điều này xem ra trái ngược với tinh thần công thể mà chúng tôi đã gọi là một dân tộc tính. Quả thiệt nó là một dân tộc tính phát xuất từ tình huynh đệ phổ biến, nên đã được thi hành ở nhiều đợt: gia đình, làng xã, quốc gia. Tuy nhiên xuyên qua các đời tinh thần công thể đã không gặp bầu khí thuận lợi cho sự nẩy nở do tình trạng luôn luôn bị đô hộ. Một khi chủ quyền đã vào tay ngoại bang thì khó có thể còn lòng chung, và lúc ấy lòng chung chỉ còn được biểu lộ qua những vận động đánh đuổi xâm lăng. Sự đánh đuổi này có nhiều độ: có khi là phá cầu cống đê điều có khi là tẩy chay hay làm việc công cho qua lần… Thế là ít lâu công dân cũng như công chức mất tinh thần lo cho công ích để chỉ còn biết lo cho gia đình. Vì thế hiện nay ta thấy các nhà tư gia của các ông bự thì rất đẹp, đang khi các cơ sở chung thì rất tồi tệ. Ngược hẳn với bên Đài Loan nhà của các ông lớn xuýt xoát như nhà dân có hơn cũng không nhiều, đang khi đó các công sở đều đẹp đẽ tráng lệ.

Đó là vài ba nét xấu nổi của người Việt, nổi đến nỗi có thể ghi vào bảng “dân tộc tính”. Tuy chỉ do hoàn cảnh mà ra nhưng nếu không có một nền giáo dục và quốc học chú ý sửa chữa cách nghiêm nghị, thì đó là những nết xấu sẽ kìm hãm nước nhà lại trong tình trạng chậm tiến. Và cũng là những bóng đen che khuất lấp mất những đức tính cố hữu của dân tộc. Vì thế muốn nhìn ra cần phải vượt nhiều đợt trật đường do ngoại bang, thí dụ “bình sản” là một nét dân tộc nhưng vì bị ảnh hưởng của Tàu (tự đời Tần, Hán… xem Cửa Khổng) nên bình sản co lại như miếng da lừa: Ngoài Bắc còn có 20 phần trăm, Trung còn có 26 phần trăm, đến Nam vì chịu thêm một ách đô hộ mới của Pháp nữa nên chi còn được có hơn hai phần trăm. Vậy nếu căn cứ trên số lượng công điền hiện có thì làm sao nói được “bình sản” là một nét của dân tộc. Muốn thấy câu trên đúng thì phải vượt qua nhiều đợt trở ngại chắn khuất. Chính vì sự vượt qua này khó khăn không phải ai cũng có mắt tinh tường để minh biện, nên khi nói đến dân tộc tính ít có sự đồng ý là vì vậy. Bởi vì trong mọi địa hạt đều có sự lấn át tương tự như trong vụ bình sản nhưng không hiện lên trong hình tích đếm đo được. Tuy nhiên vẫn có đó trong tình trạng hôn mê và ta có thể dùng những tỷ lệ ruộng công trên (20, 26, 25 phần trăm) làm như tiêu biểu của sự sa sút của đức tính dân tộc gây nên do những căn do bên ngoài.

Trích Kim Định- chương 5 sách Vấn đề Quốc học

Sự hình thành nền quốc học xuyên qua các đời

Một số những đức tính dân tộc được ghi lại trong chương trên đã phát xuất từ một cơ cấu tinh thần có từ xa xưa. Tuy nhiên vì không gặp môi trường thuận lợi nên nó đã thích ứng với những điều kiện từ ngoài mà thay hình biến dạng nên khó nhận ra. ở đây chúng ta đứng về phương diện triệt để đặt một cái nhìn bao quát trên nền văn hoá nước nhà bằng phác hoạ một hai nét chính khả dĩ có thể làm sườn cho một trong những lối viết quốc học sử chưa ai hiện thực bởi vì cái sườn này đứng về khía cạnh của triết lý nhân sinh chứ không còn là văn học suông nữa. Theo đó ta có thể chia văn hoá sử thành bốn giai đoạn như sau.

Thời kỳ manh nha: Giai đoạn 1 .

Một nền triết đáng gọi là nhân sinh phải gồm cả ý, tình lẫn chí. Chí biểu hiện ra bằng công việc.
Tình qua nghệ thuật như văn thơ, truyện , tuồng , kịch…

Qua tư tưởng và chủ thuyết. Nhìn chung lại thì ta nhận thấy văn hoá nước nhà đã thành tựu ở chí và tình nhưng còn ý thì kể là thiếu. Chí bao hàm cơ cấu tâm linh là cái đem lại sự hiệu nghiệm sự bền bỉ lâu dài và có mạch lạc ngầm (mạch lạc hiện rõ chỉ ở ý) chính vì thế chí bao giờ cũng có tình đi kèm. Tình ví được như lửa hun nóng bầu năng lực đủ sức thúc đẩy để đưa đến tác động tức là đưa đến dụng. Vì thế tình và chí vẫn xoắn xuýt lấy nhau và cả hai yếu tố này đã xuất hiện từ xưa, ta có thể cho là tự đời huyền sử thuộc Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Phục Hy như đại diện cho chí tức cơ cấu uyên nguyên là cặp âm dương làm nên Kinh Dịch. Nữ Oa đại diện cho mối tình thâm sâu đến độ nối kết đất trời lại làm nên con số 5 .biểu thị bằng cái qui tức mối tình thiên nhiên là mối tình gắn liền với văn minh nông nghiệp. Nền văn minh này được đại diện bằng danh hiệu Thần Nông, nói lên tính chất nông nghiệp (thôn dân) của nó. Một nền văn hoá mà đàn bà đóng vai trò quan trọng, nên sau Nữ Oa chúng ta còn có Âu Cơ, Mỵ Nương, Mỵ Châu đại diện cho khía cạnh thiên nhiên (nông nghiệp) nên rất có lý mà đoán rằng chữ Mỵ chính ra là chữ Mễ (gạo nông nghiệp). Đó là đại khái mấy nét then chốt đã hiện lên ở thời sơ khai: vì sơ khai nên nói hoàn toàn bằng ngôn ngữ thần thoại là loại ngôn ngữ rất co dãn mập mờ dành riêng cho những cái gì âm u thấp thoáng. Đấy là lúc tương đương với thời bái vật, nhưng trong nền văn hoá Việt Nho có may mắn gặp được ngay tự thời này mấy vị hiền triết nên đã nhìn ra được cái cơ. Nhờ đó sẽ bước vào giai đoạn hai một cách đặc biệt.

Giai đoạn 2
Thường thì đây sẽ là giai đoạn ý hệ nhưng vì nhờ đã khám phá ra Cơ nên văn hoá giai đoạn hai không là ý hệ vì ý hệ là duy lý mà đây vẫn có yếu tố tấm linh (cơ) nên không có ý hệ ít ra cách trổi vượt. Mở đầu giai đoạn hai này là Hoàng Đế cầm đầu văn minh du mục của Hoa tộc tràn vào, khởi lên đợt hai với ý thức rõ rệt. Vi ý chỉ được phát triển cách đây đủ ở những văn minh du mục, công thương chuyên về chinh phục đo đếm với sự trội quyền của cha cũng như của võ bị. Với Hoàng Đế dẫn đầu du mục thì ý nổi mạnh và đưa văn hoá Viêm Việt lướt qua trên giai đoạn ý hệ. Sở dĩ lướt qua là vì yếu tố Viêm Việt quá mạnh nên giai đoạn hai không là ý hệ mà chỉ là bá đạo, pháp hình (dụng của ý hệ) đối với vương đạo lễ tri (dụng của tâm linh). Bá đạo cũng là sự thẳng lướt của lý trí nhưng chưa đến nỗi huỷ diệt được cơ, mà chỉ vận hành ở đợt chính trị (óc chuyên chế) còn sự thử đi vào độc chuyên lý trí, tức huỷ diệt các sách khác để bắt học các sách luật như Tần thuỷ Hoàng đã thử làm thì thất bại. Tuy vậy cuối cùng óc độc chuyên đó đã gây nên óc Hán Nho mà ta có thể coi là giai đoạn III.

Giai đoạn 3
Chính vì giai đoạn này đã đại diện cho Hán Nho và đã tràn lấn trên mảnh đất Việt, lẽ ra phải là nơi nương náu của Nho giáo nguyên thuỷ, thế nhưng cuối cùng Việt Nho cũng phải ép mình dưới phủ việt của Hán nho. Vì thời kỳ này kéo quá dài ở bên Tàu lẫn bên ta nên làm cho người Việt Nam quên béng đi các quyền của mình trên Nho Giáo. Có thể nói tinh thần Việt Nho đã lịm đi hẳn trong ngàn năm Bắc thuộc cho đến mấy đời độc lập nhất là đời Lê thì mới ú ớ nửa tỉnh nửa thức vì thế với nước ta đấy có thể coi là giai đoạn 4.

Giai đoạn 4
Một trong những nét đặc trưng của giai đoạn này là chống Tàu, và trong thời ấy có rất nhiều nét Việt Nho được chồi dậy… Như được ghi lại trong quyển Lĩnh Nam Trích Quái của Trần thế Pháp. Đó là một tuyển tập những câu chuyện ghi lại cuộc kháng văn hoá Tàu đã trải qua nhiều ngàn năm, nhưng vì là sự đối kháng của kẻ yếu nên phải nói bằng huyền thoại tức là lối văn âm u và quá hàm hồ đến nỗi ý thức dân tộc về phương diện văn hoá không đủ sức mạnh để nổi lên trên tâm thức, và vì thế không sao có được một triết gia, hay dù chỉ một tư tưởng gia nào, mà chỉ có những triết gia hụt, cũng như những tư tưởng gia hụt. Có lẽ Từ Thức đại diện cho những triết gia hụt đó. Từ Thức đã lên đến cõi tiên ở với tiên nhiều chục năm mà lúc trở về trần cấu to vo một mình đơn chiếc không có lấy được một mụn con đi kèm. Theo tiếng nói của Huyền sử thì đấy là một sự thành công nửa vời. Thành công về tình bởi Từ Thức đã lên tiên lấy vợ tiên tức là Tình đã thâm hậu lắm. Rồi chí cũng sâu vì đã đạt cơ biểu thị bằng Từ Thức đã đi qua hai điện Quỳnh Hư và Giao Quang, Quỳnh Hư là hào 4: “hoặc dược tại uyên” còn Giao Quang thì lẽ ra là hào 5 Hào năm là đợt cao nhất trong triết lý An. Vi được ghi lại trong quẻ Kiền bằng câu “Long phi tại thiên”… “thánh nhân tác dã”. Triết lý An vi gồm hai bước: một là lên cùng cực để rồi xuống cùng cực: nói khác có chí trung (lên cùng cực) mới đạt chí hoà (xuống cùng cực). Vì thế chí hoà sẽ là thước đo độ vào của chí trung. Chí trung là “long phi tại thiên thánh nhân tác dã” chí hoà là “đại nhân tạo dã’. “Thánh nhân tác dã” có thể coi như những cái nhìn thấu triệt được những nguyên lý nền tảng, còn “đại nhân tạo dã” có thể coi như những mối liên hệ cụ thể hiện thực vào tận những việc tầm thường. Khả năng bao quát được nhiều hay ít những việc tầm thường này là do cái nhìn thấu thị vào nguyên lý, thấu vào càng sâu thì toả ra càng rộng. Rộng mà cùng cực bao mà khắp hết thì gọi là Thái Hoà, cũng gọi là Hoà Thời hay Việt Thời gồm cả triệt thượng lẫn triệt hạ, cả 50 con theo mẹ lên núi (lên tiên) cũng như cả 50 con theo cha xuống biển (sâu hơn đất) Từ Thức đã lên đến cũng “Giao Quang” thì tất nhiên cũng phải có cuộc trở về triệt hạ. Ai chê Từ Thức dại bỏ cõi tiên về cõi trần đầy tham nhũng bất công là tỏ ra không hiểu triết An vì xó lên mà cũng có xuống, lên tới hào 5 thì lại liên lạc với hào 2 nên trách là tỏ ra ở lì lại hào 4 “dược tại uyên” rồi. Triết lý An Vi khác hơn triết học ý niệm hay vô vi ở chỗ dẫn tới việc dấn thân để biến cải xã hội. Vậy thì ta nên mừng vì Từ Thức trở lại trần gian. Từ Thức lên tiên có thể là chỉ văn học nhà Lý nặng về xuất thế. Từ Thức trở lại cõi trần là văn học nhà Lê nhập cuộc mạnh hơn. Ta chỉ cần hỏi cuộc trở về có đạt quan chăng. Và phải thưa rằng kể ra là thất bại hay nói cho thật xác đáng thì thành công được 2 phần 3 tức có tình và chí còn ý vẫn nằm gàn bát sách… Huyền sử ghi lại sự thất bại rằng sự việc con cháu không nhận ra Từ Thức nữa? nhận ra sao được vì Từ Thức đã đi trật đường văn hoá dân tộc rồi. Ông bảo ông lên tiên. Hay lắm, nhưng đâu nào là bằng chứng Tiên đẹp chứ xấu gì? Thế tại sao ở giữa bày tiên đến gần một thế kỷ mà không được mụn con nào thì một là ông mù , hai là sự khám phá tiên chưa đủ sâu đến hạ tầng cơ sở, thành ra trở về tay trắng. Nói theo triết vậy là chưa chí trung mà không chí trung thì khó lòng chí hoá. Và việc phải xảy đến đã đến: thấy con cháu không nhận ra mình Từ Thức bỏ làng sang Tây! Tây đây là Tây Trúc quê hương của vô vi xuất thế. Vậy có nghĩa là Từ Thức không đạt chí hoà. Nếu đạt thì ở ngay lại làng chứ còn phải đi đâu nữa? ở lại làng cũng gọi là “ở đời” có nghĩa là chu toàn sứ mạng của triết gia trong một giai đoạn nhất định. Sứ mạng đó có thể tóm vào ít nét đại cương như sau:

1. Lôi lên mặt ý thức nội dung nằm trong những câu nói bóng gió của ký ức tập thể (cũng thuộc tiềm thức cộng thông) về việc chống đối Tàu. Đấy là việc làm cần thiết để lay tỉnh quốc dân. Nếu việc ấy mà thành công thì sẽ đi đến chỗ đặt nổi lên phần đóng góp của Viêm Việt trong việc hình thành Nho giáo.
2. Sau đó thì đến việc gỡ Nho giáo ra khỏi bụi gai Hán học để làm hiện lên cái cơ cấu uyên ngyên của Việt Nho. Cuối cùng tháp vào đấy những suy luận những dữ kiện mới để thiết lập nên một nền triết lý vừa vững mạnh vừa ám hợp cho tâm trí dân tộc mình. Đó là ba việc mà Từ Thức đã không làm được. Trong thực chất có nghĩa là cả kẻ sĩ và về sau cả tri thức đã không thiết lập nổi một nền triết cho dân tộc. Cả hai đều lên tiên: kẻ sĩ thì tiên là thơ phú suông; tri thức thì tiên là ý hệ xa rời thực tế cắt đứt với hàng triệu thôn dân, vì thế đối với nền quốc học cũng một tuồng như Từ Thức: trở về tay không. Về điểm này trí thức có lẽ còn kém kẻ sĩ Hán Nho vì dẫu là Hán nhưng còn là Nho, nên còn có cơ cấu tức là còn có đạo sống tuy lờ mờ, nhưng đến tri thức thì đạo sống cũng mất luôn và thế là để cho nước đi đến chỗ phân hoá cùng cực. Bởi vì từ và ý có phát triển tùm lum nhưng thiếu dụng và cơ thì kể là thiếu trọn vẹn. Đấy là một thiếu sót mà thế hệ mới đã nhận ra và đã nói lên nhiều lần. Tuy nhiên lại muốn bù đắp chỗ thiếu sót bằng khuyên y nguyên triết Tây trám vào lỗ hổng. Cái hỏng hiện ra rõ rệt – Trước hết vì triết Tây thuộc loại triết cá mè một lứa: tiêu diệt lẫn nhau thì có chứ không một tay nào nổi lên như chúa trùm để điều lý toàn bộ. Thứ đến là sự son đẹt của nó trong phạm vi hiệu nghiệm vì thiếu hai yếu tố quan trọng là tình và chí. Triết mà đã gảy ra ngoài tình cũng như chí thì còn là một mớ trí thức, một mớ lý luận suông không trông “làm nên giống má” chi cả. Vì thế tuy nó có đánh bại được nền văn hoá Việt để chiếm chỗ thì đấy cũng là những triết học hàn lâm trường ốc không bao giờ âm vang vào đời sống. Vậy thì có nên bỏ triết Tây chăng? Thưa không, vì chúng ta thiếu triết mà thiếu là tại thiếu ý, mà Tây lại giầu về ý, nếu bỏ triết Tây thì mượn ở đâu, cho nên giải pháp tốt nằm trong chỗ phải thâu hoá nhiều ý của triết Tây, nhưng phải đặt chúng vào cơ cấu Việt Nho. Và lúc ấy chúng ta sẽ có một nền triết lý ám hợp cho tâm trạng chúng ta. Ngoài là ý nhưng trong là Tình mà tình thâm thì văn sẽ minh (tức đạt chí) sẽ có thể bơm hăng say vào cho nền cổ học. Và lúc ấy chúng ta sẽ mở ra được giai đoạn 5.

Giai đoạn 5
Nhằm là đem lại cho nước nhà một nền triết lý nhân sinh để làm xương sống cho quốc học. Xét như thế thì sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu đem lại cho ta nhiều may mắn để thành tựu trong bước ý. Triết Tây với những ý hệ đồ sộ nguy nga dễ giúp cho chúng ta nhận ra chỗ yếu của mình, đồng thời giúp phương tiện để chúng ta xây đắp chỗ thiếu sót đó. Thế là trong cái rủi lại có cái may: trong những đổ vỡ hoang tàn gây ra do sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu chúng ta gặp cái may nhận thức được giá trị chân thực của mỗi nền văn hoá, và đó là chỗ có thể làm ta giầu kinh nghiệm hơn tổ tiên.

Phía dân chúng
Những điểm vừa bàn thuộc về phía trí thức.
Bây giờ chúng ta nhìn sang phía dân chúng để ước lượng những khả năng của sự đón nhận một nền chủ đạo mới. Ta hỏi rằng sau từng ngàn năm tẩm nhuận Hán Nho, sau 80 năm chạy theo Tây học thì liệu nay dân chúng còn có tâm kiện để đón nhận một nền triết lý Việt Nho nếu nó xuất hiện. Và chúng ta có thể vui mừng mà trả lời là có, dân chúng vẫn còn tâm kiện đó. Ai cũng có thể nhận thấy trong dân gian còn rất nhiều những yếu tố của Việt Nho, mặc dầu chỉ còn trong tình trạng tình cảm và tiềm thức, lý do là bởi vì đã không còn được tri thức vun tưới. Nhưng nếu có vun tưới thì sẽ sống lại mạnh mẽ trên khắp lãnh thổ, kể cả miền Nam nơi có thể bị ảnh hưởng Pháp quá nặng vì là thuộc địa khác hơn Trung Kỳ Bắc Kỳ chỉ mới là đất bảo hộ nên ảnh hưởng Pháp chưa thấm sâu bằng, như nhiều người quen nhận xét. Riêng tôi cho rằng nhận xét như vậy chỉ đúng với giới trí thức với thị dân, còn với thôn dân thì không. Đời sống tình và chí nơi thôn dân vẫn còn vận hành trong quĩ đạo Việt Nho nhất là trong Nam. Hơn thế nữa miền Nam hội tụ được hai điều kiện rất thuận lợi cho sự nảy nở của Nho giáo nguyên thuỷ: Trước hết vì là đất mới nên chưa chịu ảnh hưởng Hán Nho tức những lễ giáo quá kềnh cơi nghiêm ngặt như ngoài Bắc và nhất là miền Trung với sức nặng của ảnh hưởng triều đình. Người trong Nam chưa bị óc “sính lễ” (hyperituel) ràng buộc. Nên chúng ta gặp ở đây một thứ Nho giáo thong dong bên ngoài mọi ước lệ. Rất nhiều người đã tự học Nho qua những sách như “Minh tâm bảo giám” phiên âm và dịch ra quốc ngữ nên chỉ cần có đạo lý không kể đến chữ a b c lề lối phức tạp, vì thế mà nơi những người Nam có một sự chân thành hết sức tự nhiên không có sức lèo lá che đậy, một lòng hiếu khách bộc lộ với những mối tình chân thực trong trinh, mạnh mẽ hùng tráng như được biểu lộ trong các tuồng loại Sơn Hậu… Thứ đến là đời sống vật chất phong phú: đất đai rộng, cây cối hoa màu tốt tươi, cá tôm đầy khắp đem lại che đời sống một sự thoải mái dễ chịu nhân đo có nhiều những lúc thư nhàn thuận lợi cho sự nảy nở tình cảm, nó là nền móng cho văn hoá, cho sự nảy nở của tuồng cải lương, ca sướng. Nhờ đó mà người trong Nam đã thể hiện được những đức tính của Việt Nho một cách khá trung thực, nhờ không bị mắc vướng trong những điều kiện kinh tế quá hẹp hòi ở hai miền Trung và Bắc. Về điểm này miền Nam có thể sánh với Mỹ Châu khi người Âu Châu tới lập nghiệp, cả hai nơi đều có những vùng đất tương đối mênh mông để mặc sức khai thác. Nếu ai làm một luận án, điều tra cẩn thận hai lối đối xử của dân di cư với dân thổ trước, một bên là lối sống hậu tình của dân mới đến lập nghiệp vẫn kính trọng quyền lợi các dân trước. Bên kia là tước đoạt giết chóc tiêu diệt… thì sẽ nhận ra sự khác biệt rất sâu xa về hai nền văn hoá và sẽ phần nào nhận ra khuôn mặt hiền hoà thâm diệu của Việt Nho . Tóm lại là ở miền Nam người Việt đã gặp hai điều kiện thuận lợi cho Nho giáo nguyên thuỷ nảy nở một là đất rộng hai là những nghi lễ phiền toái của Hán Nho chưa kịp đến chi phối bẻ quặt.

Tại sao người Nam ít thích văn học?
Đối với những điều quyết đoán trên có thể đưa ra vấn nạn sau đây: nếu những lời trên là đúng thì lẽ ra người Nam phải thích văn hoá. Thế mà tại sao phần đồng lại không ưa văn hoá, chỉ chuyên nhậu nhẹt với ba câu vọng cổ mùi, như thế sao nói được là có tinh thần Việt Nho, vì một trong những đức tính của Việt Nho là ưa văn hoá, nên mới gọi là văn hiến chi bang? Nhận xét trên đúng, nhưng chưa sâu. Nếu muốn đào sâu, thì phải hỏi tại đâu lại có tình trạng đó, lúc ấy sẽ nhận ra lý do ở tại sự đứt quãng văn hoá giữa thôn dân và thị dân. Tự đời Pháp thuộc thì thị dân được lái dần vào quĩ đạo văn hoá Tây Au một nền văn hoá trưởng giả thiếu khả năng thông đạt đến dân gian (xem đầu Hiến chương giáo dục) vì thế những sản phẩm văn hoá do thế hệ Tây học không sao gây âm vang vào lòng dân gian được như văn hoá cổ truyền sáng tạo do kẻ sĩ , thi dụ truyện Kiều hay Lục Vân Tiên… Trí thức nay không thể sáng tạo nổi một tác phẩm nào được dân chúng hoan nghênh đến thế. Sự đứt quãng này ít được nhận ra, vì một đàng ảnh hưởng trước còn lưu lại rất nhiều trong những người trí thức đầu tiên. Đàng khác trong phương diện chính trị chống xâm lăng thì tri thức với dân gian đều thông cảm mạnh mẽ nên nó che đậy sự cắt đứt với dân chúng của giới trí thức. Hơn thế nữa lại nhờ có quốc ngữ nên sự truyền thông trở nên mau lẹ. Khiến nhiều người nghĩ giới trí thức nay gần dân chúng hơn nho sĩ. Đấy là một sự lầm tưởng, vì sự truyền thống chỉ hời hợt bề mặt, còn bề sâu đi vào tâm hồn thì kém xưa nhiều, vì trí thức đánh mất dần mối tương quan với dân gian trong khi được đào tạo theo văn hoá trưởng giả Tây Âu nên càng lâu càng xa cách dân gian, không còn giữ được nền nhất trí như bên Viễn Đông nơi toàn dân tham dự vào đời sống văn hoá, nếu có chút phân biệt nào chăng là kẻ sĩ thi tham dự bằng sáng tác, còn dân gian tham dự bằng tiêu thụ. Điều này giới trí thức không nhận ra vì nhiều lý do mà chúng ta cần phải nói phớt qua: trước hết là nhờ chữ abc nên dân học mau lẹ, do đó giới trí thức thổi phồng sự khó khăn của chữ Nho cho là trưởng giả xa dân, kỳ thực nếu xét về nội dung thì chính trí thức mới là trưởng giả xa dân, bởi vì ngoài việc chống Pháp thuộc chính trị và mấy câu truyện giải trí tri thức đưa đến cho thôn dân nền đức lý nào, mà đó mới là cốt tuỷ của văn hoá còn hô hào đánh Tây, với mấy câu truyện thì chỉ là phần Dụng hời hợt từng giai đoạn chứ có gì thâm sâu lâu đời được như Nho giáo với thôn dân Việt đâu. Trí thức đã đem ra được chủ đạo nào để hội thông với thôn dân? Chính vì thế mà long yêu văn hoá nơi thôn dân trở nên yếu nhược. Văn hoá là một thực hoá. Thiếu điều đó thì nó sẽ ngảng dần. Trí thức nay có sản xuất những sách kiểu Tự Lực văn đoàn hay có dịch các tác phẩm của Tây phương thì hầu hết cũng là những kiến thức vừa tản mát vừa rất xa với thực tế của nền văn hoá nông nghiệp Việt Nam, nên nếu không có hại thì ít gì cũng xa lạ, quá xa lạ đối với quảng đại quần chúng thôn dân, nên cùng lắm thì những sản phẩm nọ chỉ giúp ích cho giới trí thức thành thị giải trí với nhau mà thôi, không sao thẩm thấu vào lòng dân chúng. Vì thế mà trí thức thiếu mất chân đứng trong dân và văn hoá cả hai phía đều trở nên yếu nhược. Bên trí thức thị dân thì phân tán vì văn hoá Tây Âu hầu hết chỉ có Ý nên là thứ văn hoá tan nát, đúng ra chỉ là văn học, văn nghệ.

Còn phía dân gian thôn dã vì không được tiếp sinh khí mới thì tất cả đời sống văn hoá phải dậm chân trên mấy sáng tác cuối mùa của kẻ sĩ: Lục Vân Tiên với ba câu vọng cổ mùi. Cái gì hay đến mấy mà dọn đi dọn lại rồi cũng phải nhàm nên dần dần quay ra chán văn hoá, đi vào nhậu nhẹt. ít lâu thành thói quen. Hại không ở tại nhậu nhẹt mà hại là đánh mất đức tính ưa chuộng văn hoá.

Đây là một sa đoạ trầm trọng, bởi vì đời mới chúng ta có muôn phương tiện để mở mang văn hoá hơn xưa, thế mà lòng yêu văn hoá lại xuống thấp đến độ không đua hơi nổi với nhậu nhẹt… với những phim cao bồi vô luận đang vẫy vùng trong mảnh đất bị bỏ hoang này. Đấy là một thảm trạng mà khi xét kỹ thì nhận ra lý do ở tại sự đứt liên lạc giữa trí thức trưởng giả thị dân một bên và thôn dân bên kia. Cho nên nói tới cùng thì chính là trách nhiệm của giới trí thức chứ nơi thôn dân vẫn còn tìm được bầu khí thuận lợi cho sự phục sinh của văn hoá dân tộc. Làm thế nào để trí thức từ bỏ lối văn hoá đầy du hí tính (như ta nhận thấy các tuần báo nguyệt san nay hầu hết là giải trí lăng nhăng, không còn những chiến đấu cho văn hoá chính trị) và bác tạp tan nát. Làm thế nào để mọi người đi học đều thầm nhuần sự cần thiết một nền văn hoá thống nhất được toàn dân như xưa. Thiết nghĩ đường lối tốt nhất là làm sao cho mọi người nhận thức ra được cái cơ cấu tinh thần dân tộc, rồi nữa phải hướng mắt nhìn về thôn dân, nơi có những tâm hồn trinh trong chưa bị bẻ quặt do những ý hệ ngoại lai, để trở thành những trạm chuyển vận tư tưởng trong dân gian. Khi nào chu toàn được việc ấy thì nước ta sẽ lại vận hành trong quĩ đạo của triết lý nhân sinh có nội dung chân thực thống nhất thôn dân với thị dân để bước vào giai đoạn 5 với nền quốc học mạnh mẽ làm lương tinh thần cho sự kiến thiết quốc gia. Làm thế nào để đạt mục tiêu đó sẽ bàn ở chương sau về Văn Hiến.

Về điều này có thể khởi đầu bằng tra cứu những sách như “khi những người lưu dân trở lại” của Nguyên Văn Xuân, và “Người Việt có dân tộc tính không” của Sơn Nam.
Trong quyển Déclin de l’occident (trang 95) ông Spengler quả quyết: “hết mọi kiệt tác của Tây Âu từ Dante cho tới Parsifal đều không có tính chất đại chúng”.

Trích Kim Định- chương VI, sách Vấn đề Quốc học

 

Trẻ em đi học, bố mẹ có cần quan tâm chính trị không?

Khi bạn phải xếp hàng từ tối hôm trước tới 5h sáng hôm sau để đưa con bạn đi xét nghiệm vì ăn phải thịt lợn nhiễm sán thì có phải là chuyện chính trị không? Hằng ngày có biết bao tiêu cực xảy ra mà bạn vẫn hồn nhiên né tránh? Đến một lúc nào đó việc không tốt sẽ xảy ra với chính con bạn thì bạn có còn chửi những người lên tiếng vì một xã hội công bằng, văn minh là Phản Động nữa không?

Fb Chi Trần

Cần có quy định cấm cô giáo lên lớp không được mặc quần áo hở hang

Cần có quy định cấm cô giáo lên lớp không được mặc quần áo hở hang. Nếu không, học sinh nam sẽ sớm phát dục khi say mê cô là người khác giới.

Cô giáo mặc quần xẻ váy, khêu gợi đường nét để làm gì? Cho tiện để chiều còn đi tăng ca với giám đốc sở ? Hay đi tiếp rượu cho quan chức?

Khâm Mai: Trên bảng có mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Bà sáng tác rất ít nhưng bài nào cũng là tuyệt tác! Cả hình thức và nội dung đều rất trang trọng. Chính vì thế mà hầu hết thành phố trên cả nước đều có đường Bà Huyện Thanh Quan.
Dạy về thơ bà, cô giáo tuyệt đối không diện như thế!