Lại chuyện đề văn

Tình cờ tôi đọc được trên facebook của 1 bạn nào đó đưa lên ảnh 1 bài văn bị điểm không (0). Giáo viên ra đề như sau: “Em hãy viết lại bài thơ Qua đèo Ngang”

Học sinh này làm bài bằng cách viết 1 bài thơ khác dựa trên vần bài thơ nguyên gốc của Bà huyện Thanh Quan. Bài làm của em Học sinh như sau: (xem ảnh bên dưới)
Qua đèo Ngang
Nhảy qua đèo ngang bỗng mất đà
Đập đầu vào đá máu tuôn ra
Lom khom dưới núi tìm y tá
Y tá theo trai không có nhà
Thiếu máu đau đầu em sắp chết
Nhìn qua nhìn lại chẳng thấy ai
Khắc lên bia mộ dòng thông báo
“Nhảy qua đèo ngang nhớ lấy đà”

Tôi đọc lời phê thấy viết:“10 điểm sáng tạo! Gọi phụ huynh gặp tôi 9h sáng Thứ 2”
Chưa bàn đến chất lượng nội dung và hình thức bài thơ của Học sinh; tôi chỉ bàn về đề văn và lời phê của Giáo viên.
1) Nếu mục đích và yêu cầu của Giáo viên là chép lại nguyên văn bài thơ Qua đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan để kiểm tra xem Học sinh có thuộc thơ không (mà chắc mục đích là thế) thì đề văn phải chỉnh lại cho chuẩn xác như sau: “Em hãy chép lại bài thơ Qua đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan”; không phải là “viết lại bài thơ…”.
2) Khái niệm “viết lại” trong đề “em hãy viết lại bài thơ…” của Giáo viên hoàn toàn có thể làm cho Học sinh hiểu viết lại là viết một cách khác đi, giống như kể lại một cách sáng tạo câu chuyện cổ tích vậy.


3) Lời phê của Giáo viên viết:“10 điểm sáng tạo!” có thể hiểu như thế nào? Đó sẽ là 1 lời khuyến khích, động viên nếu chỉ mình câu ấy. Nhưng ngay sau đó lại là câu lệnh “Gọi phụ huynh gặp tôi 9h sáng T2” và ô điểm bên cạnh ghi con số 0 to đùng gạch đít thì câu “10 điểm sáng tạo!” chỉ là sự chế giễu.

Đọc đề văn trên lại nhớ giai thoại từ hồi tôi còn ở xứ Thanh. Có Giáo viên ra đề: Hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về chị Sứ. Một Học sinh làm bài như sau: “Chị Sứ là chị Sứ nào? / Cớ sao lại được vận vào văn chương?/ Em đi tìm khắp bốn phương/ Hay là chị Sứ ở phường Lò Chum?”. Mấy câu thơ muốn nhắc nhở người ra đề: phải ghi rõ chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất của nhà văn Anh Đức thì đề mới chuẩn xác.

Gặp những bài làm “đầy sáng tạo” như trên, Giáo viên khoan hãy cho Học sinh điểm 0. Cần bình tĩnh và xem xét thật kĩ, trước hết là xem mình có gì sai không, rồi sau đó hãy tìm một giải pháp phù hợp. Tiên trách kỉ, hậu trách nhân.

11- 03-2019

Nhà giáo Đỗ Ngọc Thống/ Facebook

Vấn đề chữ Nho: Có nên học chữ Nho nữa chăng?

Đó là vấn đề đã được đặt ra và chưa được giải quyết dứt khoát. Nhưng nếu đã nhận một số sách Nho làm kinh điển thì nhất định phải học chữ Nho. Tuy nhiên chúng ta cũng nên tìm hiểu xem đó chỉ là cái ách nặng cần phải chấp nhận hay có ơn ích gì chăng và phải học Nho cách nào? Từ ngày có quốc ngữ mà tôi sẽ gọi là chuyển tự thì chữ Nho bị phế bỏ đi như một thứ văn tự lỗi thời chứ không thể so đọ với chuyển tự trong các lợi ích của nó: học mau hơn chữ Nho ít ra gấp 10 lần, lại dễ đi sang chữ quốc tế… Vì tiện lợi như thế nên chuyển tự không để Nho giữ được địa vị xưa. Sau này vì một số người hoài cổ, tranh đấu cho chữ Nho một hai giờ, nhưng cũng không mấy ai chú ý, nên nay bỏ hẳn. Mà bỏ là phải vì lối dạy cũng như lý do bảo trợ chữ Nho đều mất gốc.

Tại sao cần duy trì chữ Nho? Câu thưa hơi kém là vì chữ Nho có liên hệ với nước ta. Thiếu chữ Nho không thể hiểu trọn vẹn tiếng Việt. Đó là những lý lẽ đúng nhưng lại tuỳ phụ. Bởi vì có biết bao người không học chữ Nho mà vẫn hiểu được tiếng Việt, và viết văn Việt còn hay hơn những người biết Nho là khác. Ngoài ra còn phải ghi nhận tính chất bật rễ của ý lẽ trên tức là nhấn mạnh đến văn chương ngôn ngữ, đó là theo Tây đặt ngôn từ trên hết, ngược hẳn với Đông phương đặt ngôn từ xuống hàng ba sau thành công và thành nhân. Thực ra nếu chỉ nhằm có mục đích hạn hẹp về ngôn từ thì bỏ Nho là phải. Vì không có chữ Nho tiếng Việt vẫn có thể phong phú cách này hoặc cách khác và công nghệ kỹ nghệ cũng vẫn tiến như thường, nên đứng về hai mặt này thì tiếng Anh giúp ta nhiều hơn chữ Nho.

Vậy lý do đưa chữ Nho vào phải lấy từ đợt nhất là “lập đức” tức là thành nhân, và ở đây thì tiêu chuẩn phải đổi. Ở thành công cũng như học viết học đọc thì sự mau lẹ là nhất, nhưng ở thành nhân lại phải chú trọng đến sự xâu xa, thâm trầm giàu chất rung cảm lay động tới nền móng vô thức con người Việt Nam chúng ta, và lúc ấy thì chữ Nho trở thành cần thiết, không thể lấy chuyển tự thay thế, và dù khó nhọc đến đâu cũng phải học và còn nên coi đó như một cái may mắn lớn lao cho nền văn hóa nước nhà. Bởi vì một tác phẩm càng khó thì càng có sức giáo hóa mạnh, vì nó đòi phải có nhiều tập trung tinh thần và nhờ đó dễ có tư tưởng. Và đấy là chỗ lợi hại của tử ngữ hơn sinh ngữ. Sinh ngữ học đến đâu hiểu đến đó liền; tử ngữ bắt người học phải tìm ý tưởng qua gốc tiếng, hay mối liên hệ với toàn bích và đấy là dịp cho các học giả trở nên sâu xa trong khi tìm ý nghĩa ám hợp nhất trong rất nhiều ý tưởng gợi lên do một tiếng. Chính vì thế một nền văn hóa sâu xa bó buộc phải có hai loại ngôn ngữ: một thứ thông dụng hàng ngày trong công việc làm ăn, cũng như trong việc truyền thông mọi ý tưởng từ công nghệ kỹ nghệ lên tới đạo lý và đó là chữ quốc ngữ hoặc chuyển tự, và chuyển tự đã chơi vai trò đó một cách tuyệt vời. Xét trong thế giới đố ai tìm ra chữ dễ đọc hơn thông ngữ Việt. Ta ghi ơn những người có công thiết lập ra lối văn tự này. Tuy nhiên ta phải nhận thức rằng thông ngữ mới chỉ nắm vai tròn vòng ngoài gắn liền với lý trí, giác quan rõ rệt và dễ dàng. Thế nhưng nếu nền giáo dục chỉ có những cái dễ dàng minh bạch, khúc chiết thì nền giáo dục đó làm cho người học chóng trở thành bì phu thiển cận, hời hợt bởi “dễ học thì cũng dễ quên”, “easy come, easy go”. Vì thế mà cần một lối văn tự khác, một ngôn ngữ khác để chuyên chở những cái sâu xa, những di sản sơ nguyên của dân tộc. Vì là sơ nguyên (primitif) nên cũng là tối hậu (irréductible) vì nối liền với nền minh triết tiềm thức (subconscient Wisdom) tức là cái u linh, cảm nhiều mà nói ra rất khó vì nó gắn liền với niềm vô thức, cần một ngôn ngữ thiếu đường viền, với những bờ cõi nhập nhằng trồi sụt giữa các loại từ, với một ngữ pháp lỏng lẻo… và với ta đó là chữ Nho. Nho là thứ chữ của Minh triết, của tiềm thức hơn bất cứ cổ ngữ nào trong nhân loại, nên bất cứ cổ ngữ nào cũng đều đã trở thành tử ngữ, chỉ riêng chữ Nho là trở thành linh ngữ linh tự, tức là vẫn sống mạnh và đầy uy lực đầy cảm xúc như bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng nhận ra (xem chẳng hạn Granet, Pensée Chinoise tr.36, 39, 62). Vì thế ta phải coi chữ Nho là một đặc ân mà ít dân tộc nào có được. Mà cũng vì không có, nên văn hóa của họ chỉ có sinh ngữ và tử ngữ.

Tử là chết nghĩa là không gây ảnh hưởng vào việc định hướng đời sống văn hóa hiện tại là bao nhiêu. Và vì thế mà văn hóa thiếu mất chiều sâu. Cho nên văn hóa nước nhà nằm trong miền ảnh hưởng của chữ Nho là một ơn huệ, và ta cần khai thác triệt để ân huệ đó. Vì thế ta sẽ coi chữ Nho là cơ sở vòng trong căn để minh triết, còn thông ngữ ở vòng ngoài thuộc thành công, văn nghệ, văn học văn chương. Nhờ có hai ngôn từ như thế nền văn hóa nước nhà có khả năng trở thành phong phú sâu xa với một cơ sở tinh thần rất mạnh mẽ. Và lúc đó văn hóa nước ta mới có linh tự (hiéroglyphe) làm căn để cho linh ngữ, mà linh ngữ là chìa khóa mở vào kho tàng tiềm thức bao la, thiếu nó thì một nền văn hóa có sáng lạn đến mấy cuối cùng cũng không đủ sức quyến rũ được con người muôn thưở. Vì nếu chỉ có sức quyến rũ hay đúng hơn chỉ có ơn ích cho con người phải sống trong xã hội, phải ăn làm nói năng, phải thành công, phải giải trí… thì chưa đủ; vì phần sâu xa nhất là tính bản nhiên con người chưa có chi đáp ứng. Cái đó là việc của linh tự linh ngữ. Chính vì thiếu linh ngữ mà văn hóa Tây Âu tuy rất phong phú dồi dào nhưng không vượt qua nổi trình độ du hí (tuồng kịch, tiểu thuyết…) không sao vươn tới nổi triết lý… để đến nỗi “vất cho chó ăn nó cũng chưa no”. Đó là câu nói tàn nhẫn nhưng rất thật, vì chúng ta chưa hề thấy có những chiến sĩ hi sinh hết thân tâm cho nền văn hóa đó, vì là nền văn hóa duy trí, duy chí (volonté) nên quá hời hợt không thể lôi cuốn được con người có cả vòng trong là tiềm thức mênh mông vô biên. Cũng vì thiếu vòng trong nên giáo dục Tây Âu đặt trọn vẹn trên lý trí và ý chí mà thôi, thiếu hẳn một dụng cụ đào sâu vào cõi vô thức (xem Vocation Sociale, Gurvitch I.148). Nền giáo dục nước ta nay gọi là vong bản, chính vì cũng chỉ có thành công, và du hí: văn chương, tiểu thuyết, văn học, triết học… Muốn có phần tâm linh thì với Tây phương hầu như bất lực, không phải vì họ kém ai, chỉ vì họ đã không may không còn linh ngữ nữa. Ngược lại với Việt Nam, muốn cho nền giáo dục bớt bì phu, thì chỉ có việc đưa Nho trở lại chương trình. Một khi đưa Nho vào là ta đã có một lợi khí thống nhất. Thống nhất với tiên tổ xa xưa đã cùng học chữ Nho trong những sách đó, thống nhất với các thế hệ một hai ba ngàn năm sau sẽ có một chuyển ngữ khác, và khó lòng hiểu được tiếng nói Việt Nam hiện đại. Nhưng về linh tự lại cũng học một thứ chữ Nho như tiền nhân và cũng như ta nay, thành ra trong cái biến thiên là chuyển ngữ của mỗi đời lại có một linh ngữ đời đời giống nhau để làm mối liên hệ văn hóa ràng buộc các thế hệ với nhau theo hàng dọc đặng làm xương sống bơm sinh khí là hàng ngang là văn hóa mỗi thời. Cái bí quyết làm cho nền văn hóa Viễn Đông mạnh mẽ sâu xa là ở đó: ở chỗ không những có tiếng nói cho cá nhân mỗi thời mà còn có tiếng nói cho dân tộc trải qua mọi đời. Muốn cho được những ơn ích trên chúng ta cần phải bàn xem nên dạy chữ Nho như thế nào.

DẠY NHO CÁCH NÀO?
Điều này tối quan trọng vì có những cách dạy chữ Nho mà vẫn bật rễ như thường. Để nhận định chúng ta hãy kiểm điểm lại xem có mấy lối học Nho. Thưa có ít gì ba lối.
Một là học như sinh tự
Hai là học như sinh tự sinh ngữ
Ba là học như linh tự linh ngữ.
Học như sinh tự là kiểu của người Tàu, họ đã biết sinh ngữ rồi không cần học lắm nữa nay chỉ học thêm mặt chữ vậy gọi là sinh tự. Người ngoại quốc muốn học chữ Tàu phải học cả sinh tự lẫn sinh ngữ, tức phải học cả chữ lẫn tiếng Tàu. Thí dụ sách Tân quốc văn dạy: “điểu hữu lưỡng dực cố năng phi. Thú hữu tứ túc, cố thiện tẩu”, với người ngoại quốc thì đó là lối học sinh ngữ, và sinh tự. Họ phải biết điểu là con chim, đó là sinh ngữ, và phải biết đọc và biết viết chữ điểu vậy là sinh tự. Đó là cái học hoàn toàn hợp lý cho người ngoại quốc khi muốn giao thiệp với người Tàu. Và đó là cái học hữu lý một phần cho người Tàu, tức phần nhận mặt chữ, nhưng còn phần nội dung thì người Tàu cũng đã bật rễ như chúng tôi sẽ bàn sau về tiếng Việt. Còn đối với Việt Nam mà cũng học như thế thì phải kể là cái học chuyên môn nghĩa là chỉ cần cho những ai giao thiệp với người Tàu, tức là cái học không cần cho hết mọi người Việt. Cho nên dạy như thế là đặt mình vào hướng sinh ngữ, hướng chuyên môn, nghĩa là với tình trạng hiện nay là tiếng Anh rồi sau là tiếng Pháp, chỉ cần có bấy nhiêu, còn chữ Nho hiện không mấy giúp vào việc anh làm giao thiệp hay khoa học chi lắm. Cho nên dạy chữ Nho theo lối sinh tự sinh ngữ chỉ là chuyên môn nghĩa là tạm để dành cho thế hệ chúng ta nay đã không được học từ lúc nhỏ, còn khi nói đến đưa Nho vào chương trình giáo dục, là phải nhằm vào việc giáo dục làm cốt yếu như thế phải dạy theo lối linh tự linh ngữ, nói khác học Nho là cốt học đạo làm người mà tiên tổ đã bao đời kinh nghiệm tích lũy lại. Nói cụ thể là lấy ngay những sách đã được tuyển chọn làm sách dân tộc, làm kinh điển để dạy. Dạy như thế là trước hết nhằm vào nội dung, rồi mới đến mặt chữ. Mặt chữ phải giúp vào việc duy trì nội dung. Thí dụ trong khi đọc câu “nhơn chi sơ tính bản thiện” là học được nội dung triết lý rất sâu xa, mà một trật cũng học được mặt chữ. Còn trong khi đọc câu “điểu hữu lưỡng đực cố năng phi…” thì chỉ học được có mặt chữ và ý nghĩa một câu, còn nội dung câu nói thuộc thường thức không cần học rồi cũng biết, và điều đó hầu không giúp chi vào việc truyền đạt di sản thiêng liêng của dân tộc chi cả. Vì thế dùng những bài kinh Thi vắn tắt bốn chữ một dễ học. Cũng có thể dùng Tam tự kinh hay Sơ học vấn tân hoặc 14 truyện đầu Lĩnh Nam trích quái học bằng chữ Nho. Ngoài ra những sách Tam thiên tự hay Ngũ thiên tự tuyệt đối bỏ vì chỉ là học chữ rời, không có nội dung, càng không nên đặt ra sách mới vì không phải là kinh nữa. Để chống lại lối dạy cổ hủ xưa chúng ta đã đi theo lối khoa học, là tiến từ đơn sơ đến phức tạp, tức từ chữ ít nét đến nhiều nét, rồi theo đó đặt ra một câu nói xuôi cốt để tránh lối học ê a chẳng hiểu chi ý nghĩa. Đấy là một bước tiến, nhưng bước tiến đó phải thực thi với những sách kinh điển. Nếu để thực hiện được bước tiến kia mà phải chạy ra ngoài để làm bất cứ một câu nào thì tiến một mà lùi mười, tiến được trong phương diện dạy mặt chữ, nhưng bỏ mất nội dung của đạo lý. Học xong đọc được chữ Nho, nhưng không biết chi tới đạo lý của nhà Nho. Thành thử cả hai người dạy lẫn người học không nhận ra vai trò của chữ Nho đâu cả. Cái hại học chữ Nho theo lối sinh tự, sinh ngữ là ở đấy. Học như thế không giúp chút nào vào việc tránh cái thông bệnh thời đại là tán loạn trong tâm hồn. Dù có biết chữ biết nghĩa, nhưng học xong rồi cũng quên hết vì nó nằm trong cảnh rời rạc kiểu Tân quốc văn. Ngược lại khi học Nho theo lối linh tự linh ngữ thì khi học xong người học đã được truyền thụ lại cho một nền đạo lý của tiên tổ có thể dùng làm mối dây để xỏ thêm các sự hiểu biết mới, thành ra phong phú tới đâu cũng có một tiêu điểm để hướng tới, rồi có thể làm cho thêm phong phú, hay chỉ hướng tới để đả phá, nhưng tất cả đều có chỗ hướng tới và như thế là còn tiêu điểm để ý cứ, để khỏi vật vờ và nhờ đó dễ trở nên mạnh mẽ, và đó là mục tiêu tối hậu của giáo dục. Dạy như thế là người dạy đã đóng góp phần lớn nhất, quan trọng hơn hết vào việc “giáo dục” con người vậy. Nói khác khi dạy Nho giáo theo linh tự linh ngữ là người dạy đã làm tôn hẳn giá trị của chữ Nho lẫn giá trị người dạy, ngược lại khi dạy theo lối sinh tự sinh ngữ thì chỉ là việc của nhà chuyên môn, hiện nay không mấy thiết yếu.

Cần thêm rằng lối dạy bằng kinh điển không có hại chi cho việc phân tích từng chữ cũng như trong việc đi từ chữ đơn đến chữ kép. Nhất là chúng ta biết khả năng đi từ đơn đến kép không có nhiều trong chữ Nho khi muốn dùng các chữ đó làm ra một câu có ý nghĩa, nên dẫu có vứt bỏ kinh điển để đi ra ngoài tự ý lựa chọn, thì chỉ sau mấy chữ đã phải đi đến chữ nhiều nét (Tân quốc văn bài 1 gồm chữ nhơn hai nét. Bài hai gồm hai chữ thủ và túc thì chữ túc tới bảy nét!). Vậy không nên vì tiện lợi thuộc phương pháp mà bỏ mất nội dung. Làm thế là dạy ăn sò mà chỉ nhai có cái vỏ, không biết chi đến cái ruột đầy sinh tố. Vậy thì chỉ nên dạy theo lối linh tự linh ngữ nghĩa là dạy kinh điển, và lấy bản văn đó làm cơ sở phân tích. Thí dụ: “đại học chi đạo, tại minh minh đức” thì nên phân tích chữ đại, chữ chi… và khi lên mấy lớp trên thì trở lại phân tích ngữ luật. Cũng như sau này lên mấy lớp trên nữa (đệ ngũ đệ tứ) thì trở lại trên kinh điển để làm phê bình nội ngoại và triết lý… Thành ra cùng một bản văn mà trong thời kỳ đi học được trở đi trở lại thì tức là chôn vững được cơ sở tinh thần dân tộc vào tâm hồn người học. Cũng xin ghi rằng lối dạy này là đi từ tổng quát tới phân tích là lôi được nền giáo dục mới đang khám phá (Méthode globale idéovisuelle của Decroly), bắt đầu dạy thuộc lòng câu sách, rồi sau đến nhận mặt chữ, rồi viết chữ, ít năm sau đến ngữ luật, rồi ít năm sau lại đến ý tứ sâu xa… thì đó là lối đi từ tổng quát thị giác đến ý nghĩa: rất hợp tâm lý vậy.

Lương Kim Định.

Học trò của triết gia Lương Kim Định liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam

Thưa quý vị, thời gian qua, một số học trò của triết gia Lương Kim Định đang sống ở hải ngoại đã liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam. Những bậc trí thức này nhìn nhận rằng, Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam (nhóm nghiepdoansinhvien@gmail.com) là lực lượng tiên phong trong nước đang tìm về với Việt Lý, phục hoạt lại một học thuyết cổ truyền của dân tộc. Đọc tiếp “Học trò của triết gia Lương Kim Định liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam”

Giải pháp cho sách giáo khoa

Trong status trước tôi có nói đến chuyện 1 hay nhiều sách giáo khoa. Toàn bộ nội dung tập trung khẳng định: nhiều Sách Giáo Khoa là 1 chủ trương đúng, nhưng đừng hiểu đổi mới chỉ có thế; yếu tố nào là quyết định của đổi mới. Status này xin bàn về giải pháp cho sách giáo khoa theo chương trình mới.

1) Tôi cho rằng vẫn cần triển khai biên soạn sách giáo khoa theo hướng mà Nghị quyết 88 của Quốc Hội đã nêu: “Thực hiện xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa; có một số Sách Giáo Khoa cho mỗi môn học… Để chủ động triển khai chương trình Giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục & Đào Tạo tổ chức việc biên soạn một bộ sách giáo khoa”. Cụ thể thực hiện định hướng ấy như sau:

a) Bộ Giáo dục & Đào Tạo cứ việc tổ chức viết bộ sách của Bộ theo cách làm của Bộ, đáp ứng yêu cầu triển khai lộ trình đổi mới 2020 với Lớp 1 và đến 2024 đủ tất cả sách các môn học cho 3 cấp.

b) Vẫn khuyến khích các tổ chức cá nhân làm sách giáo khoa cho các môn học khác nhau. Các sách này không lệ thuộc vào tiến độ, thời gian và không cần phải đầy đủ tất cả các môn học, lớp hoặc cấp học. Nghĩa là có thể viết 1 hay vài cuốn cho 1 hay vài môn, ở 1 hay vài lớp khác nhau; có thể có ngay nhưng 5-10 năm sau biên soạn cũng được.

c) Sách của Bộ hay của các tổ chức cá nhân đều phải thẩm định Quốc gia bình đẳng như nhau. Vì thế cần đặc biệt coi trọng việc thẩm định. Để tránh độc quyền trong phát hành bộ sách của Bộ cần tách bạch chuyện biên soạn và chuyện in ấn, phát hành.

2) Việc triển khai nhiều bộ sách giáo khoa những năm đầu sẽ rất phức tạp trong quản lí và tổ chức dạy học. Theo nguyên tắc này, trong 1 địa phương, các trường có thể dùng nhiều bộ/ cuốn sách khác nhau; giáo viên có thể dùng cùng lúc nhiều sách khác nhau; học sinh có thể tham khảo nhiều sách khác nhau của 1 môn… Vì thế việc đánh giá sẽ không đơn giản, gồm cả đánh giá việc dạy của giáo viên, việc quản lí chuyên môn của nhà trường và đặc biệt là việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Như thế trước mắt cần tập trung nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên; tăng cường tính chuyên nghiệp của việc thẩm định, đánh giá… Đó là một công việc không hề đơn giản, nếu muốn làm thật, không báo cáo láo, không mắc bệnh thành tích và hình thức chủ nghĩa.

3) Với chương trình theo định hướng phát triển năng lực, sách giáo khoa không quan trọng như trước nữa mà chương trình và yêu cầu cần đạt của chương trình mới là chỗ dựa quan trọng nhất. Dù 1 hay nhiều bộ sách giáo khoa, thì vẫn phải đổi mới cách biên soạn, đặc biệt là cách dạy học và kiểm tra, đánh giá. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã được thiết kế nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu vừa nêu. Nhưng từ định hướng ấy đến thực hiện cụ thể là 1 khoảng cách cực xa. Và nếu không triển khai đúng sẽ phá hỏng tất cả mọi sự cố gắng.

Nước ta rất có kinh nghiệm về việc đề ra đường lối, chủ trương rất hay nhưng làm thì rất nhếch nhác và hiệu quả thường rất thấp.
6-3-2019

Nhà giáo Đỗ Ngọc Thống- chủ nhiệm cải cách sách giáo khoa Ngữ Văn/ Facebook

Bắt tay xây dựng giáo trình Triết Văn nhập môn cho Việt Nam

Trong năm 2019, Nghiệp đooàn giáo chức Việt Nam giúp đỡ Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam trong việc xây dựng ngành Triết Văn. Đây là dự định còn dang dở của đại học Văn khoa Sài Gòn từ năm 1973, do điều kiện đất nước chiến tranh mà chưa thực hiện được.

Nếu bạn đã đọc các tác phẩm và có ý tưởng xây dựng ngành triết văn như chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi để bắt đầu cho khối lượng công việc lớn này. Bắt tay xây dựng giáo trình Triết Văn nhập môn cho Việt Nam là bước làm việc đầu tiên.

Hội đồng điều hành,
Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Xây dựng nền giáo dục không qua điểm số

Trước tình hình mới của một thời đại chạy đua không có điểm dừng, Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức đổi mới nền giáo dục với không một điểm số nào được giáo viên đưa ra. Để đánh giá phân loại học sinh-sinh viên, ngành giáo dục cần đề ra những phương pháp khác. Chẳng hạn, giáo sư triết khoa Lương Kim Định không cần điểm danh sinh viên. Ông viết sách in ngoài quán, sinh viên nào lười đến trường thì mua về đọc cũng có được 70% kiến thức. Còn  30% còn lại không có trong sách và để thâu nhặt chỗ đó, kèm theo những giả thuyết làm việc, thì bắt buộc sinh viên phải đến lớp mới có trong bài giảng của thầy. Đây là một phương pháp tế vi để kiểm tra sự chăm chỉ của sinh viên.

Đối với ngành y dược thì bắt buộc phải có điểm số, do khối lượng công việc cần tỉ mỉ chính xác và tức tốc kịp thời, ngành luật cũng vậy. Còn đối với những ngành như kỹ thuật, chỉ cần có sản phẩm, thì không nhất thiết phải có điểm số để gánh nặng lên sinh viên. Nhất là trong những ngành như văn- sử-triết thì hoàn toàn không cần điểm số. Nói đúng hơn, nhà trường nên cho sẵn sinh viên một điểm số trung bình tối thiểu để các em qua môn. Còn đối với những em chăm chỉ, bài làm có chiều sâu…thì cho hạng ưu, hạng khá, như lời khích lệ và giới thiệu các em đến các nhà tuyển dụng.

Nếu bạn là giáo viên, giảng viên và cơ chế ép bạn phải điểm danh, phải chấm điểm sinh viên thì chúng tôi kêu gọi bạn đừng đánh rớt bất kỳ sinh viên nào, các em không phải hành nghề tội lỗi để có tiền đóng học lại.

Nếu tổ chức học có điểm số thì tức là đang khuyến khích học khoán, học gạo, học cho những kỳ thi. Nếu bạn đồng ý với chúng tôi rằng cần phải xóa bỏ chế đọ điểm số, hãy cùng chúng tôi ký tên dưới đây nhé.

Nếu bạn đã ký tên nhưng chưa có tên trong danh sách, xin mời báo về cho chúng tôi để chúng tôi bổ sung theo địa chỉ điện thư: info@nghiepdoangiaochuc.org

Xin trân trọng cám ơn.

Danh sách ký tên.

1/ Nguyễn Huy Huấn- Hà Tĩnh

2/ Đỗ Thanh Vân-Hà Nội

 

Giới thiệu Giáo trình Việt Nho căn bản- Dẫn nhập vào thuyết An Vi

 

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi là các sinh viên thuộc Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam. Chúng tôi biên soạn ra bộ tài liệu này, được cập nhật không ngừng, hầu cho trường ốc của Việt Nam không sa đà vào óc bác học suông, nhưng dấn thân vào nhân tâm thế đạo. Do thời gian cần kíp, chúng tôi buộc phải biên soạn bộ tài liệu này, mặc dù chưa có sự chỉ định chính thức của triết gia Lương Kim Định- người khai mở thuyết Việt Nho. Sinh thời, triết gia Lương Kim Định viết rằng ai đủ sức thì cứ ra làm, do đó chúng tôi không ngần ngại làm điều này, đó là biên soạn giáo trình Việt Nho căn bản, hầu sắm hành trang vào đời cho sinh viên Việt Nam. Tài liệu này có thể được giảng dạy trong các buổi sinh hoạt công dân đầu khóa, chuẩn bị tâm thế cho các em trước những biến động của cuộc đời.

Giáo trình này được viết dưới sự tài trợ của Qũy văn hiến Lương Kim Định. Bất kỳ ý kiến đóng góp- sửa sai nào của bạn đọc gửi đến chúng tôi và có ích thì đều được tri ân và tưởng thưởng.

Cuốn sách được tải miễn phí tại đây: https://goo.gl/GKjh3n

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ điện thư  số điện thoại đã có ghi sẵn trong đường link kể trên.

Tuy nhiên, trước khi trích dẫn tài liệu này, bạn đọc nên hỏi ý kiến của chúng tôi để được tư vấn sử dụng sao cho đúng cách. Nếu bạn đã trích dẫn rồi thì xin báo về cho chúng tôi để chúng tôi giám sát quá trình trích dẫn.

Đồng thời, nếu bạn là người nghiên cứu thuyết Việt Nho, xin liên lạc với Qũy văn hiến Lương Kim Định để nhận chút hỗ trợ hầu đi xa hơn trong việc nghiên cứu, đóng góp vào việc biên soạn giáo trình này sao cho được rộng rãi và bao dung hơn.

Trưởng nhóm biên soạn,
Sinh viên Lê Tín- Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.