Trả lời bạn đọc: Người Việt không có chữ viết riêng?

Nguyễn Việt Nho – Hoa Kỳ

Bạn AB Bùi viết: “Một dân tộc đến chữ viết cũng chẳng có. Cố tạo ra chữ nôm , nhưng thật nực cười là muốn học được chữ Nôm thì phải biết chữ Hán , chẳng có một trước tác nào về triết học, tư tưởng của riêng mình (AB Bùi, bạn của nhà giáo Hà Huy Toàn và chị Phạm Thị Lan Anh)

* Về Chữ Viết

     Xin trả lời ngắn gọn cùng ông AB Bùi và bạn đọc là lới nói của ông nầy là hoàn toàn sai! Thực ra tộc Việt (Bách Việt) là tộc dân đầu tiên của nhân lại có chữ viết sớm nhất. Đó là chữ tượng hính Âm Dương mô phỏng theo tượng của sinh thực vật đực cái/âm dương trong trời đất. Đó là tượng nòng (0) âm và nọc (1) dương. Nòng () có tượng giống cái “ấy” của giống cái. Nọc 1 dương có tượng giống cái “ấy” của loài giống đực (rõ nét nhất là ở nơi con ngưới).

    Ngay cả trên loài thực vật tượng nòng 0 và nọc 1 cũng thể hiện đầy: Trên lá cây cũng có hai phần chứa đựng 2 tượng hình nầy: Lá cây hình nòng, cuống lá hình nọc; vòng của thân cây có tượng tròn nòng (0) là tượng của nòng âm và thân cây có tượng cứng, tròn, dài mang hình tượng nọc 1 dương …

          Đòn bánh tét và tượng bánh chưng cũng là biểu tượng cho tượng hình  nòng, nọc. Bánh được làm với tượng hình nầy và để lên bàn thờ cúng Ông Bà cũng là nhằm truyền dòng cho hậu duệ ngàn sau để nhớ về chữ Nòng Nọc để biết rằng chính loại chữ nầy đã hình thành Sách Ước huyền thoại tức Kinh Dịch chưa có chua vào phần thoán từ và hào từ. Con cháu mà dâng cúng bánh tét, bánh chưng, bánh dầy … mà cúng với lòng chíth ành thì sẽ thông được thánh ý tổ tiên, nghiệm qua câu truyền dòng của người xưa để lại rằng “Chí thành thông thánh”
          Một loại chữ tượng hình nữa là tượng Càn (__): dương và Khôn (_ _) âm.
          Tổ Tiên Việt tộc đã mô phỏng theo hai loại tượng Nòng Nọc tròn, Càn Khôn hiện diện khắp cùng trong trời đất mà lâp ra môn toán lý số nhị phân (digital/binary) để hình thành Dịch Nòng Nọc hay Dịch Càn Khôn làm nên môn Việt Dịch chưng ra Việt Đạo. Loại chữ nầy Kinh Hùng gọi là “triết tự văn hóa” Âm Dương, phổ cập trên mọi sự như Cung Oán Ngâm Khúc viết:  

“Có Âm Dương, có vợ chồng

Dẫu tử thiên đia cũng vòng phu thê”

(Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiểu)

          Trong Trời Đất đều là như vậy cả đ ều từ âm dương m à ra và nhờ có âm dương mà sinh sinh ,..

Ông Bà Việt tộc xưa đã quan chiêm và mượn tượng âm dương, nòng (), nọc 1 là tượng của Đất Trời để h nh thành Việt Dịch, chưng ra Đạo Việt
          Điều nầy được Kinh Hùng ngày nay còn lưu truyền hai câu kinh trong Kinh Hùng nhắc đến loại chữ viết đầu tiên của loài người Việt,  kinh Hùng gọi loại chữ nầy là chữ “triết tự”, tên gọi đầy đủ là chữ “triết tự văn hóa”:
“Kinh Châu, Dương Việt hai miền
Triết tự văn hóa lưu truyền sử xanh”

(Kinh Hùng)
          Loại chữ “triết tự văn hóa” nầy ngày nay còn thấy trên các trống đồng Ngọc Lũ, Đông Sơn, Quang Xương … đã có từ nhiều ngàn năm trước của Việt tộc. Trên mặt trống ghi đậm dấu của loại chữ âm dương nòng nọc và nhờ vào đó mà giải mã chỉ ra ý nghĩa ý nghĩa của trống muốn chuyển tải.

          Loại chữ nầy không là chữ qui ước được sử dụng trong nhánh văn chương, văn học, triết học …, mà nó là của nhánh Đạo học dùng tượng diễn ý thay vì dùng lời nói và chữ viết như của nhóm văn gia, triết gia.

          Triết tự văn hóa là Đạo tự, bởi giúp ta thấy Đạo thay vì nghe nói bằng lời qui ước “thế gian pháp” để nói về Đạo. (Xin tham khảo cách giải mã trống đồng của Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang và của LM Lương Kim Định).

          Chữ  ta (tiền thân của chữ Hán (theo Đỗ Ngọc Thành), chữ Hán, chữ Nôm … về sau cũng là chữ  tượng hình, nhưng không viết với nét nòng nọc hay Càn Khôn mà viết với bộ chữ, như: bộ Thủy, bộ Hỏa, bộ thảo, bộ mộc, bộ nhân đứng … nhưng người ta cũng ép gọi là chữ Nho.

          Ở đây, có điều ta cần hiểu là: Nho nầy không là Nguyên Nho mà nên ghi nhận chúng là chữ để nói về cái Nguyên Nho của Đạo Nho và về  sau, nói về  cả  những chuyện đời thường chẳng liên quan gì đến Nho như  cái định nghĩa nguyên thủy của Nho là : “Thông Thiên Địa Nhân viết Nho”  

          Tóm lại, nói “Việt Nam không có chữ viết”, là nói không đúng! Câu nói đúng phải là Việt Nam là tộc dân đầu tiên của TG có chữ viết. Loại chữ nầy đã có ít ra từ thời huyền thoại, thời mà Thần Tản Viên được Long Vương tặng cho “gậy thần đốt trúc có hai đầu” cùng với quyển “sách Ước 3 trang, không một chữ”:

“Sách Ước Trinh Nguyên Không Một Chữ

Gậy thần đốt trúc có hai đầu”

Chữ viết cổ trên bãi đá Sapa trên hình người đàn ông có tượng nọc (1) và người đàn bà có tượng nòng (0) rất rõ nét

          Xin được nhắc lại: Sách Ước không diễn ý bằng chữ mà bằng tượng: Tượng đó là tượng nòng và tượng nọc, hay Càn và Khôn, gọi là “trết tự văn hóa” như đã nói trên. (Xin đọc “Tứ Bất Tử” phần viết về Thần Tản Viên đã đăng trên fb của gần đây của Việt Nho Nguyên)

          * Về Triết Và Về Tư Tưởng

          Ông AB Bùi còn nói “người Việt chẳng có một trước tác nào về triết lý, tư tương”, nói thế cũng sai luôn!  Ta cũng có những người xứng đáng gọi là triết gia, tư tưởng gia chứ sao lại nói không có thưa ông?! Ông nghĩ sao về tư tưởng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tư tưởng “khoang dung dĩ giáo, bất báo vô đạo”  của Nguyễn Trãi, tư tưởng của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ …

          Xa hơn nữa là đường lối “tri hành hiệp nhất” thể hiện qua  việc làm của Ông Phù Đổng Thiên Vương khi đánh giặc Ân. Ngài đã đánh bằng gậy sắt, ngựa sắt và tiếp đến là Ngài “nhổ tre lên mà đánh”.

          Việc đánh bằng kiểu nhổ tre lên đánh nầy của Thần phải hiểu là lối “cương nhu dĩ giáo, bất báo vô Đạo”! Thần đánh bằng tre, trúc là Ngài đánh bằng văn hóa của người quân tử phương Nam, nhằm thay đổi cái đầu (change their minds) của đám Bắc phương, bởi tre, trúc là vật biểu biểu trung cho Nho học, Nho sĩ (cả Việt Nho và cả Hán Nho đều lấy tre trúc làm biểu tượng của nho học) . Thế nên ta cần hiểu lối sử dụng huyền văn trong các huyền thoại là: Đánh bằng tre, trúc là đánh bằng văn hóa Đạo gia dẫn ra từ “đốt trúc, gậy thần” đã hình thành Sách Ước:

“Sách Ước trinh nguyên không một chữ

Gậy thần đốt trúc có hai đầu”

(Huyền thoại “Sách Ước Gậy Thần)

          Gần đây ta còn thấy có triết thuyết An Vi của triết gia LM Lương Kim Định rút ra từ Văn Hóa Vô Ngôn Cổ Việt (là nền văn hóa không dùng chữ viết qui ước mà dùng biểu tượng kiến trúc, xây cất nhà cửa, đình làng, qua vật điêu khắc, tranh dân gian, đồ thờ và vật thờ, cơ cấu tổ chức làng xã xa xưa  …)

          Còn đi ều ầy nữa thưa ông AB Bùi! Ông có biết một điều quan trọng nữa là: triết lý, tư tưởng là sản phẩm của tưởng, nghĩ của con người mà con người là bất toàn không? Có biết cái mà nó tưởng nghĩ thì có khi đúng, có khi sai, thì có nên đặt nặng niềm tin vào nó chăng? Và còn, thưa ông! Ông có biết các triết gia lớn đương đại Tây phương chẳng đã nhận ra sự thật của triết Tây là: “đi đến đâu là gieo sắt máu đến đó” vì tính đơn duy: Duy thần, Duy vật, duy tâm, duy lý, Duy thức … đều mang tính phiếm diện chăng? Mà con người cứ bám vào những cái duy đó mà lập bè đảng chia phe chia phái thì làm sao tránh khỏi được chiến tranh, tránh gieo sắt máu?!

          Thưa Ông Bùi và một số vị vọng ngọai! Ta không có thứ triết như các vị mong muốn nhưng ta có Việt Dịch/Việt Đạo được viết bằng “triết tự văn hóa”! Ta có Sách Ước (ước gì được nấy) nó bao trùm lên mọi lãnh vực từ triết, y, lý, số … Ta có Kinh Dịch trinh nguyên mà không gì mà nó không bao trùm lên. Người xưa nói nó như là cái lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”.

          Qua cái thể loại Văn Hóa Cô Việt đã chưng ra Tam Cương “Thiên Địa Nhân” và Ngũ Thường Việt Lý KIM M ỘC TH ỦY H ỎA TH Ổ, GIÚP chỉ ra cái Tương Sinh Tương khắc của Ngũ Hành để chỉ ra Đạo Biến Dịch (The Way Of Variation or Dao Transforms) mà biết được Sự Lý Sự Vật (ngày nay gọi là Vật Lý), ông có biết không?

          Tất cả đều của Ông Cha mình đó mà Tàu đã “cướp sạch, đốt sạch” hoặc đã “sửa sách sử để đoạt quyền trước tác”, sau khi đã thực dân hầu hết Bách Việt trừ VN thuộc giống Lạc Vi ệt còn sót lại! 

          Nghĩ rằng, những ai còn nhận mình là con Rồng Cháu Tiên, còn nhận mình là “đồng bào”cũng cần biết tại sao Khổng Tử cho rằng thế mạnh của phương Nam là bởi có người quân tử ở: “Nam phương chi cường quân tử cư chi” ? Thế mạnh đó là gì ông có biết không?  Tại sao ta khai triển thế mạnh đó mà đi vọng ngoại?      

          Tôi muốn nói với ông rằng: Văn hóa phương Nam không là thứ tư tưởng hay triết lý mà ông mong muốn có, mà đây là Đạo Lý, Đạo Lý Việt. Chữ “Việt” nằm trong cả hai nghĩa: Siêu việt và của dòng Việt, chính nó tạo được Đại Hoà vì nó không mang tính đơn duy mà mang nét gấp song trùng lưỡng hợp (Dual Unit), nó dung hợp và bao trùm lên như khi ta trông vào đồ hình Thái Cực …      

          Đạo Lý nầy là Đạo Lý Nguyên Nho/Việt Nho được Khổng Tử khi về gìa “ước mơ được sống thêm để học Dịch cho bớt sai lầm” đó ông biết không?

          Chính ông Khổng đã nhận rằng môn Dịch mà ông học là của Nam phương: “Nam ph ương chi cường quân tử cư chi” (cái mạnh của phương Nam là nơi có người quân tử ở)! …, ông chỉ thuật lại những thứ đã có trước: “Ngô dĩ thuật nhi bất tác” (tôi chỉ thuật lại mà không có chế tác)      

          Nói đến đây chắc có người sẽ thắc là tại sao có người quân tử ở, lại tạo ra thế mạnh cho phương Nam? _ Thưa người quân tử là mẫu người của Nho Học Nguyên Nho với định nghĩa của Nho là “thông Thiên Địa Nhân viết Nho” (thông rành Nho là thông thiên văn, sành địa lý và hiểu nhân sự). Điều nầy có nghĩa Nho sĩ đích thực là người thông rành bộ Kinh Vô Tự, là quyển “Sách Ước Trinh Nguyên Không Một Chữ” Đây là sách Huyền Thoại mà LLQ đã trao cho Thần Tảng Viên vừa đề cập trên và đã được làm rõ ở phần viết về Thân Thản Viên là một người trong Tứ bất Tử.

          Cũng nên nói thêm một ít để phân biệt hai loại ngưới quân tử quân tử Việt Nho và người quân tử của Hán Nho:

          _ Quân tử Việt là mẫu người của Nguyên Nho/Việt Nho thông rành Tam Cương Thiên Địa Nhân và thông rành Ngũ Thường là năm mối tương quan của Ngũ Hành KIM MỘC THÙY HỎA THỔ  

          _ Quân tử Tàu là thứ dỏm với cái Tam Cương của Khổng Tử phịa ra là:

     @ Quân thần cương: Mối quan hệ vua /tôi

     @ Phụ tử cương: Quan hệ cha/con

     @ Phu phụ cương: Mối quan hệ giữa chồng/vợ

Qua các cái “cương” mang đầy tính phân biệt, kỳ thị: Thứ đực rựa vua, cha, chồng thì trọng vọng, là quân tử, nữ giới kể cả  mẹ  mình cũng đều là tiểu nhân.

          _ Ngũ Thường Hán Nho là 5 điều Khổng Tử phịa đặt để kẻ dưới phải tuyệt đối tuân phục người trên, còn nam nhi quân tử thì được phép quyền biến, miễn trừ!… đó là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

          Dân gian nhắc đến với ý hâm biếm thứ quân tử nầy là quân tử Tàu!

          Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian đọc. Nguyễn Việt Nho

          San Jose, ngày 18 Tháng 8 năm 2020

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com, facebook: Việt Nho Nguyễn.

Tác giả: nghiepdoangiaochuc7

Ước mong cải cách nền giáo dục trung học và đào tạo đại học cho Việt Nam!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s