Vấn đề công bằng xã hội!

Trước đây, nhà văn Hà Văn Thùy và nay, Sv. Tôn Phi của Nghiệp đoàn Sinh viên VN đều có  nhắc đến vấn đề “Tự do và Bình sản “, nhận thấy Vấn đề này là trọng điểm của nền Văn Hóa Vịệt , nên chúng tôi xin được đóng góp một số ý kiến , đây là  cách giải quyết nan đề Công bằng Xã hội.

Công bằng  Xã hội là nan đề lớn nhất của Nhân loại xưa nay, lịch sử của Nhân loại là Lịch sử của những cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt cùng với những đổ vỡ cả hai mặt về Vật chất lẫn Tinh thần.  Đó là những Bất công được gây ra  từ trong Gia đình tới ngoài Xã hội. Sự bất công đều do mỗi con Người Bất Nhân hay một Tập thể độc tài  làm ra, một bên là Cá nhân, bên kia là Tập thể, cả hai đều có liên quan đến Văn Hóa ( nếp sống) Cá nhân hay Tập thể.

Xét ra từ trong gia đình tới ngoài xã hội, mọi nan đề  đều do nạn con Người “ Lấy Mạnh hiếp Yếu “, hay  “Nạn Cá Lớn nuốt cá Bé “, hay nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “, mà gây ra nạn Bất công.

Tây phương  còn có câu:

  Patout the Delicat  ( subtle, delicate: khoan hòa nhu thuận: Văn Hóa Nông nghiệp  ) est toujours vaincu par le Grossier (: vulgar, rude: thô lỗ, bỉ tiện: Văn Hóa Du mục ): Hầu hết khắp nơi,  những người “ khoan hòa nhu thuận  “   đều bị đánh bại bởi những kẻ “ thô lỗ, bỉ tiện “

Cụ Nguyễn  Trãi đã  tóm tắt trong Bình Ngô  đại  cáo;

Lấy Đại Nghĩa để  thắng Tham tàn

ĐemChi Nhânmà thay Cường bạo

Đại Nghĩa Chí Nhânthuộc phekhoan hoà nhu thuận.< Vit Nam >

Tham tàn Cường bạothuộc phe thô lỗ bỉ tiện. < Đại Hán >

Thế mà trên thế giới chỉ có   “ Phe Châu chấu : Khoan Hoà Nhu thuậnViệt Nam  đã  nhiều  lần suốt trường kỳ  Lịch sử  5 ngàn năm đã  “ đá Xe :” Tham tàn Cường bạo Đại Hán”  ngả nghiêng !

“ Nực cười Châu chấu đá Xe

“ Tưởng rằng Chấu đổ, ai dè Xe nghiêng !”

( Ca dao )

Nguồn gốc của Nam đề

Mọi sự rắc rối trong xã hội đều do con Người làm ra ,vậy con Người  là ai, bản tính con Người  ra sao ?. Các nền Văn Hóa cũng như  Tôn giáo đều có những Định nghĩa khác nhau về con Người, vậy thử hỏi những  con người trong Nhân loại có Bản Tính đồng nhiên nơi Tiềm thức cộng thông nhân loại hay không ( collective unconsciousness  ? )

 Khi đi vào Tâm lý miền sâu thì con Người  bắt gặp được Sơ nguyên tượng ( Archetype ) về mối Tình bao la của Người Mẹ đã khắc sâu vào Tâm khảm của người con , chính nguồn Tình bao la đó giúp Nhân loại tìm đến với nhau , tìm cách ăn ở công bằng mà Hòa với nhau , khi đó mới chấm dứt được Bất công,chứ con Ngưòi cứ đem  bạo lực từ nguồn Hận thù ra cư  xử  với  nhau thì chỉ gây ra Bất công gây khổ đau cho nhau mà thôi!

Điều này cho chúng ta thấy sự quan trọng của Mối Tình bao la, vô vị lợi của người Mẹ, khi người con” Nên “ thì Mẹ thương đã đành , nhưng khi ngưòi con “ Hư “, Mẹ  lại càng thương hơn, nhờ tính chất bao dung của Tình yêu mới cảm hóa được lòng người con sai quấy..

Trong Kitô giáo có mối Tình bao la của Đức Mẹ Maria, trong Phật giáo thì có Lòng Từ bi của Quan Thế Âm Bồ tát, may thay  trong nền Văn Hóa Việt lại có Bọc Âu Cơ Tổ Mẫu bao che ấp ủ mọi con dân Việt trong Tình / Nghĩa Đồng bào với lòng Bao dung, nên Dân tộc chúng ta vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt!

Qua hàng ngàn năm Lịch sử,nhờ được ấp ủ trong Tình Nghĩa Đồng bào mà nhân dân Việt Nam đã có đủ Nội lực để  chống trả thành công nhiều cuộc chiến tranh và âm mưu   tàm thực thâm hiểm của kẻ Thù khổng lồ Bắc phương.

Ngày nay là thời đại phát triển của Khoa học, của Lý trí, nên con Người bị lâm vào  đại nạn lạm phát Lý trí và đói khát Tình yêu, , nhất là Tinh thần Duy Lý – nguồn của sự chia ly -.  Nguyên do là con Ngưòi đã đánh mất nguồn Tình kéo theo sự mất dần mối Liên hệ gần gủi với nhau.   Khi con Người có Tình thì họ mới biết lưu tâm và chia sẻ với  người khác,  để thắt chặt mối Tình thân với nhau.

 Khi đói khát Tình Yêu, đáng  lý phải trau dồi Tình yêu cho đời sống trở lại cân bằng, thì  con người  lại chỉ mê mải theo cơn lốc kỷ thuật số cao tốc, khiến cho nạn đói khát Tình Yêu ngày càng  trầm trọng thêm, làm cho  con người cô đơn thêm, xa rời nhau thêm, những mối Liên hệ  Gia đình, thân tộc, ban bè, Quốc gia  ngày một lỏng lẻo thêm!

Những computer, laptop, iPad, iPhone đã giúp cho Lý trí con Người phát triển theo cao tốc bao nhiêu, thì đồng thời cũng làm cho Tình cảm con Ngưòi  teo tóp  đi bấy nhiêu, Khoa học kỹ thuật tuy đã giúp con người nâng cao đời sống vật chất to lớn, đồng thời cũng  tách con ngưòi ra từng xứ cô đơn, khiến con người trở nên Duy Lý, mất quân bình, Duy lý cực đoan đưa con Người tới tình trạng Tham tàn và Cường bạo.

Ngoài cái hại đó, Khoa học cũng đem tới cái Lợi to lớn là giúp cho nhân loại, tuy cách xa ngàn trùng nhưng lại gần nhau trong gang tấc, nên có cơ hội hiểu nhau, thông cảm nhau hơn, miễn là mọi người duy trì được nếp sống Tâm linh và Khoa học được lưỡng nht. 

Khoa học đem lại cho nhân loại cặp bài trùng Lợi / Hại lớn lao, nên nhân loại cần  biết cách sử dụng  sao cho Khoa học và Tâm linh hợp với Dịch lý:  “Âm< Tâm linh > / Dương < Khoa họcHòa” thì  cuộc sống con Ngưòi trong Vũ trụ mới được ổn định, nghĩa là : Tâm linh / Khoa học lưỡng nhất. (Dual unit: Nhất nguyên lưỡng cực : Thái cực “Âm / Dương Hòa “

Con Người phải  thực sự sống làm sao cho Tình cảm <, Tâm linh> và Lý trí < Khoa học >  nơi con người  được cân bằng, thì mới có thể ăn ở tử tế với nhau được.   

Để cho Tình Lý tương tham , Nho đã tìm ra Tỷ lệ Hòa là :  Tình  /  Lý = 3 / 2.

Nho gọi là “ ThamThiên  (số 3 ) lưỡng  Địa ( số 2 )  nhi ỷ số “:  Tỷ lệ Hoà theo Dịch lý.

Thiên /Địa, Tình / Lý, Nhân / Nghĩa, EQ / IQ, Tâm linh / Khoa học  đều là nghịch số, là cặp đối cực của Dịch lý cần được lưỡng nhất ( dual unit: 2    1 ) để tạo ra thế Quân bình động,  hầu được Tiến bộ luôn ở trong trạng thái ổn định.

Sở dĩ Tình (chiếm 3 phần ) phải nhiều hơn Lý ( chiếm 2 phần ), là vì khi  hai bên có sự  mâu thuẩn hay xích mích nhau, nếu có được nhiều Tình hơn thì hai bên có thể tha thứ cho nhau, bao dung nhau mà tìm cách cư xử công bằng mà Hòa với nhau.  Con số 3, 2 không là con số toán học, mà là con số uyển chuyển có thể thay đổi tùy theo  từng người, từng trường hợp , từng hoàn cảnh, miễn sao hai bên dàn xếp với nhau cho ổn thỏa là được, nhưng  Tình phải nhiều hơn Lý để hai bên chấp nhận đối thoại   với nhau .

Tình cảm chính là Bản tính của con Người, khi có Tình cảm với nhau thì hai ngưòi mới yêu thương, quý trọng nhau, khi đó không nỡ nặng lời với nhau, chê bai nhau, lấn át nhau, cướp giết nhau, ta có thể  bảo rằng khi con người  “ Vô Tình “ hay  “ Bất Nhân “ thì không thể sống công bằng với nhau mà chỉ làm chuyện Bất công gây khổ đau cho nhau.

 Vậy Bất Nhân là nguyên nhân gây ra hành động Bất công ( Bất Nghĩa )  làm phương hại đến Vật chất và Tinh thần của người khác .

Đây là nguyên nhân “ Nhân vi (: Artificial )“

Chế độ Nô lệ, đế quốc Thực dân,  Công sản là 3 tai họa lớn  lao mà Âu châu đã cống hiến cho Nhân loại.

Còn một nguyên nhân quan trọng hơn thuộc  “Thiên bẩm (:innateness )“

Con người được sinh ra trên thế giới  đã lên tới hàng 8, 9 tỷ người mà chẳng ai giống ai hoàn toàn, mỗi người mỗi vẻ, nhưng mười phân chưa vẹn mười, vì chẳng ai đã được hoàn thiện:

Về  thể chất, người thì rất khỏe mạnh, người thì có sức khoẻ trung bình, kẻ khác thì lại yếu đuối không thể làm việc.

 Về Tinh thần thì có người thông minh dĩnh ngộ, có người có IQ trung bình, có người lại rất thấp. Đây là lãnh vực Thiên bẩm.

Ngày nay, nhìn vào mức thu nhập do sức lao động trí óc và tay chân của con người, chúng ta thấy sự chệnh lệch quá lớn, nhiều người cho đó là nguồn bất công duy nhất , vì họ mới chỉ nhận ra được sự bất công do Nhân vi mà không nhận ra do yếu tố Thiên bẩm mà ra.

Nhờ Thiên bẩm cao thấp mà có ngưòi làm ra mỗi giờ hàng nhiều ngàn, gia tài họ có đến trăm tỷ dollar, còn người khác thì không làm ra 1 xu, sự giàu có  của họ là nhờ tài thiên bẩm của họ làm ra mà vô số người khác không thể nào có được, ở Hoa Kỳ ông Bill Gate có đến 100 tỷ ,còn người Vô gia cư không làm ra 1 xu, đây có phải là sự bất công do Ông Bill Gate làm ra hay không, ông Bill Gate có áp bức bóc lột sức lạo đông tay chân và trí óc của Dân Hoa Kỳ không, không những không mà ông còn đem hàng chục hằng trăm triệu giúp thế giới chống với bệnh tật và nghèo đói.     Rõ ràng Sự cách biệt giàu nghèo giữa hàng trăm tỷ với 1 xu  không phải Nhân vi mà là do Thiên bẩm, nhưng con Người không thể kiện Ông Trời để đòi lại  sự công bằng  xã hội. Vậy xem ra Trời sinh ra loài người dường như bất công.

Vậy muốn giải quyết vần đề công bằng Xã hội thì chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân:

Nguyên nhân thứ nhất là Nhân vi, đó là cảnh con Người  ( thiếu con Tim: EQ ), nên áp bức bóc lột con Người như trong chế độ      Nô lệ ,chế độ đế quốc Thực dân, Phát xít, Phong kiến chuyên chế , chế độ Độc tài CS .

Nguyên nhân thứ hai là do Thiên bẩm, Thiên bẩm là nguồn động lực năng động của Nhân loại, giúp nhân loại thăng tiến cuộc sống vật chất và Tinh thần.  Những người có Thiên bẩm IQ cao ( Lý ) , nếu thiếu EQ  ( Tình ) để cân bằng thì có thể đi vào con đường bất Nhân gây ra bất Công, mà làm giàu.

Vì con Người và Xã hội là những thực thể hữu hạn trong thế giới hiện tượng, mọi sự đều tương đối,  đều biến đổi bất biến, tuy con người phải luôn hướng về Tuyệt đối nhưng  không thể đem ảo tưởng tuyệt đối vào Xã hội như Thiên đường trần gian mà làm nhà tan, nước nát , nhất là đày ải con người .

Chúng ta hãy đi vào xã  hội Đông phương xưa và xã hội Tây phương ngày nay, cụ thể là Hoa kỳ để xem cách giải quyết vấn đề Bất công Xã hội như thế nào?

VẤN ĐỀ CÔNG BÌNH XÃ HỘI

A.- NHỮNG GÌ CHÚA TRAO BAN

Chúng ta hãy đi vào Thánh Kinh để xem Kitô giáo quan niệm thế nào về Vấn để công bình xã hội?

( Trích ba dụ ngôn trong Tân Ước Mã Thi.( Mát Thêu )

 Thánh kinh hội Quốc tế xuất bản 1994 )

“ Nước Trời giống như trường hợp người Chủ lên đường viễn du, gọi các đầy tớ vào, ủy thác cho họ tài sản của mình. Chủ giao cho mỗi người tuỳ khả năng: Người thứ nhất 50 lạng vàng, người thứ nhì 20 lạng và người thứ ba 10 lạng.

Sau khi chủ lên đường, người 50 lạng lập tức kinh doanh, lời được 50 lảng. Người 20 lạng cũng đầu tư, thu lời 20mlạng, còn người nhận 10 lạng đào đất chốn dấu số vàng của chủ.  Sau một thời gian khá lâu, chủ trở về, tính sổ với các đầy tớ.

Người nhận 50 lạng đem thêm 50 lạng đến trình: “ Thưa Chủ, 50 lạng vàng chủ giao, tôi làm thêm được 50 lạng nữa “. Chủ khen: “  Tốt lắm, con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên sẽ được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta.

Người nhận 20 lạng  cũng bước đến thưa chủ: “  20 lạng vàng chủ giao, tôi làm lời thêm 20 lạng nữa. Chủ khen: “ Con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên đã được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta “.

Người nhận 10 lạng đến phân trần: “ Thưa Chủ, tôi biết chủ khắt khe, hay gặt hái trong chỗ không gieo, thu hoạch ở nơi không trồng. Vì loo sợ nên tôi tím chỗ chôn dấu vàng của chủ, và đây tôi xin giao lại số vàng cho chủ. “       Chủ quở trách: “ Anh thật gian ngoa lười biếng!   Đã biết ta thu hoạch lợi tức, sao anh không gởi số vàng ấy vào ngân hàng để khi ta về lấy cả vốn lẫn lời? “   Rồi chủ ra lệnh: “Đem 10 lạng này cho người có 100 lạng!   Vì ai có, sẽ được thêm đến mức dư dật, còn ai không có, dù còn gì cũng bị lấy đi. Còn tên đấy tớ vô dụng kia, đem quăng nó vào chỗ tối tăm, đầy than khóc và nghiến răng! “

B.- Ý NGHĨA CỦA LẠNG VÀNG

I.- Ý nghĩa của dụ ngôn theo Việt Nho

Trước khi viễn du, người Chủ  gọi đầy tớ đến rồi giao Vốn cho các tôi tớ  “ làm Lời “: Đây là ẩn dụ nói về việc Chúa sáng tạo ra loài người hay cách khác là con người được bẩm thụ từ Thiên Chúa: Người thì được Chúa ban phát 50 lạng, người thì 20 lạng, người thì 10 lạng.

Các lạng đây chỉ về  Thể chất và Tinh thần mỗi người lãnh được từ khi Cha mẹ sinh ra, tức  cũng là từ Chúa trao ban cho.. 

II.- Thiên Chúa tạo ra con người dường như bất công

Khi giao cho đầy tớ – con cái Chúa – , mỗi người một số Lạng khác nhau, người thì 50, kẻ 20, người khác thì 10, nên về Trí tuệ, người thì thông minh, người thì có sự hiểu biết trung bình, người thì u tối, về Thể xác người thì khỏe mạnh, kẻ thì gầy yếu, người là lực sĩ, kẻ lại tật nguyền, vì thế mà những con người trong nhân loại đã có Tư cách và Khả năng khác nhau ( do sự bẩm thụ khác nhau ) được diễn ra dưới muôn hình muôn vẻ.  

Do Thiên bẩm khác nhau, mà có kẻ Thông minh, người kém hiểu biết, kẻ Giàu người Nghèo, kẻ Sang người Hèn, kẻ lành người dữ, người thì làm ra mỗi giờ hàng ngàn, kẻ thì không làm ra một đồng xu, đưa tới cảnh “ Người ăn không hết, kẻ thì lần không ra “ .

Ngoài ra, có  một số người với Thiên bẩm trội hơn, tuy đã có đời sống sung túc, nhưng lại còn dùng ưu thế của mình để áp bức bóc lột người thấp cổ bé miệng để làm giàu thêm, gây nên muôn vàn bất công trong xã hội.  

Vậy nguồn gốc của mọi Bất công làm rối loạn xã hội xưa nay đều do hai nguồn: Thiên bẩm và Nhân vi.

Thế mà xưa nay hầu như người ta chỉ lưu ý tới nạn Bất công do Nhân vi, mà không nhận ra nạn Bất công cũng đến từ gốc Thiên bẩm.

III.- Con Người phải sống như thế nào

trong môi trường Xã hội dường như bất công?

Mỗi người được sinh ra ngoài sự lựa chọn của Cha Mẹ mình và chính mình, có hỏi Trời Trời  cũng chẳng nói, vậy con Người biết làm sao đây ngoài việc tìm cách hành xử thích hợp với môi trường để tồn tại và phát triển.

Ngoài sự bất công nơi loài người như thế thì trong vũ trụ cũng chẳng khác, mặt đất thì chỗ Cao nơi Thấp, nước bao giờ cũng chảy trên Cao xuống Thấp, gió cũng di chuyển từ nơi Áp suất Cao tới Áp suất Thấp, dòng điện cũng vận chuyển từ Điện thế Cao tới Điện thế Thấp, . . . tất cả đều nhắm khỏa lấp bớt sự cách biệt, nhưng nhờ có cách biệt mới  có sự Biến hoá, chứ khi mọi thứ đã san bằng rồi thì Vũ trụ hết Biến hoá, sự sống sẽ bị tiêu diệt.

Vậy sống trong thế giới Hiện tượng, mọi sự đều biến hóa không ngừng, con Người phải nương theo Thời tiết, nương theo định luật Thiên nhiên để tồn tại và phát triển.      Con người được sinh ra với Bẩm sinh khác nhau dường như bất công, lại sống trong mội trường Vũ trụ cũng xem ra cũng bất công, nên con Người không có cách nào hơn là phải sống hoà nhập vào hiện tưọng Thiên nhiên, sao cho đỡ bất công để mọi thứ được giao hoà với nhau nhất là hòa cùng tiết nhịp Tiến hoá của vũ trụ, có như thế thì mới giúp con người được phát triển toàn diện. Là một trong Tam tài,là  “ Nhân linh ư vạn vật “, nên con Người phải tìm cách thăng hoa cuộc sống để được tiến lên trong ba đợt:

Một là con người Chất thể chung với con vật lo về ăn, măc, ở và làm, cốt để giữ đời sống sinh lý hoàn toàn ngoại vi.

Thứ đến con người Văn hoá lo về Lý trí, Tâm tình, Văn học, Nghệ thuật, Thi ca, Nhạc, Họa. . . Đây là đợt riêng biệt cho con người.

Đợt ba con người Tâm linh lo đi đến chỗ “ chí Thành như Thần” . Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn Nội tâm, con mắt không thấy được, nên cũng gọi được là Vô, là Trống, như ta có thể thấy rõ trong Trống Đồng có 3 vòng Thiên, Địa, Nhân này. Người lý tưởng phải gồm được cả ba.   Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. 

Văn hoá trọn vẹn phải lo cho mọi người no đủ, vì đói thì chẳng làm được gì về Văn hóa Văn học cả, nên Văn hoá nào không móc nối con người sinh lý là nền Văn hoá nguy hại, nhất là làm cho con người mất khả năng mở lên đợt ba thì rõ ràng là thiếu nguyên lý Mẹ, mà nguyên lý Mẹ ( Trọng Tình hơn Lý ) rất dễ mất, vì là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.”      

( Thái Bình Minh Triết. Kim Định. Tr.46 – 47 ).

Nếu không có thế giới hiện tượng “ Nước lỏng chảy Xuống, Hơi nước bốc Lên “ như thế, thì con người không có môi trường tiến hoá để vươn lên đời sống siêu việt, thì làm sao con Người được xứng danh là  con cái Thượng Đế.

Khi được sinh ra thì con người mới còn là con người “ Quỷ / Thần chi hội “ hay con người đang thành “, nên Công việc làm Người ( Vi Nhân ) cho đạt tới vị trí Người còn vô cùng khó khăn, nhưng cũng rất cao cả.  Có phải đây là Ý của Chúa muốn mọi con cái của Ngài phải biết sống theo cách “ Vâng Ý Cha dưới Đất cũng như trên Trời “? Ý Cha là con Người phải thực sự  “ yêu mọi Người “ và trước tiên là phải “ mến Chúa hết Lòng và hết Trí  khôn “. Có Vi Nhân được như thế thì con Người mới hành xừ với nhau được tương đối công bằng.

IV.- Đâu là Ý của Thượng Đế

Theo Việt Nho thì Ý của Thượng Đế chính là Thiên lý, mà Thiên lý là Dịch lý tức “ Chân lý ngược chiều” được vận hành trong vũ trụ: Tâm linh và Khoa học là chân lý ngược chiều, như khi thở Vào thì phổi đầy không khí, khi thở Ra thì không khí chẳng còn, trong cuộc sống con người cũng thế, muốn tồn tại ở trần thế  thì ta phải Chấp, phải chiếm hữu, nhưng khi muốn trở về nguồn Tâm linh là nguồn Vô nên phải Phá, bỏ hết mọi sư, có biết sống nhịp nhàng cân bằng giữa cặp đối cực Chấp / Phá ( Receiving / Giving ) như thế thì mới thuận Thiên, Cha ông chúng ta đã bảo: Mọi sự Có mà như Không, Không mà lại Có, con người phải nhận ra sự biến hoá không ngừng trong Vũ trụ để nương theo đó mà tồn tại và phát triển được. 

Môi trường sống và con người đều chứa sự bất công, nhưng nhờ sự mất cân bằng mới có biến hoá, có biến hóa mới tiến bộ, nên con người cũng phải nhịp theo Thiên lý mà làm giảm bớt sự bất công để lập thế quân bình động – Thế Hòa giữa hai đối cực –  đó là sứ mạng của con Người phải sống theo Dịch lý.

Mặt khác con người không thể dựa vào những Lạng được trao ban, mà chiếm ưu thế sống riêng cho mình, phải dựa vào số nhân lãnh mà “ làm Lời “ mà đóng góp chung cho cuộc sống Hòa.  Lời ( receiving ) ít thì phải Cho ( giving )  ít, Lời nhiều thì phải Bù nhiều. Con Người cũng không thể dựa vào số Lạng mà phân biệt cao thấp sang hèn, mà dành phần ăn trên ngồi trốc, Chuá Giê-su đã phán xét rõ ràng.

Những con người thông minh mẫn tuệ, mà không làm gì cho xã hội để khỏa lấp bớt bất công xã hội để giúp mọi người sống hoà với nhau là nghịch Thiên lý.

Đó là công việc Vi Nhân theo nghịch số, đây là công việc vô cùng khó khăn, nhưng với  con Chúa là con người Nhân chủ, biết tự lực tự cường và  sống thuận theo Thiên lý thì đạt Đạo, con người trở nên rất cao cả .

Cha ông chúng ta đã bảo Thiên chúa, Thượng đế là Hoá nhi, mà “ Hoá nhi đa hý lộng” , nên trong cuộc sống con người phải rất uyển chuyển mà hý lộng theo, có khi xem những cái nhỏ còn quan trọng hơn những cái lớn,( Vật khinh hình trọng ) đó là những cái sảy nảy ra cái ung, có khi lại xem  “ cái Không “ quý hơn “ cái  Có “, như bức tranh vô giá, vô giá là nhờ vào cái “ Hồn” chính là cái “ Vô “  của bức tranh. Vẽ tranh không chỉ vẽ cái Xác mà còn “ phải vẽ làm sao cho nổi lên “ được cái Hồn của bức tranh thì mới đạt nghệ thuật. Thời này nhiều người tôn vật chất làm chủ ( vật chủ ), họ đấu tranh, chèn ép, dành dật, cướp giết nhau cho thêm vật chất dư dật tích trử đấy kho chật lẫm, trong cảnh xã hội tràn ngập bất công, làm cho con người khổ đau. chỉ vì họ chỉ còn cái Xác mà đã đánh mất cái Hồn.

Vì không hiểu Thiên ý hay Lý nghịch số, nên triết gia thượng thặng ở Âu châu như Platon chấp nhận chế độ nô lệ, cho rằng nếu không có nô lệ thì lấy ai làm việc, vì giai cấp thượng lưu, giai cấp qúy tộc tự cho mình là những người thượng đẳng có quyền “ ngồi mát ăn bát vàng”. 

Còn Chúa Giê- su thì ngược lại, Ngài cũng lao động, cũng sống đời sống bình thường như mọi người. Ngài bênh vực những người bệnh tật khốn khổ, khó nghèo, tội lỗi để xoa dịu bớt cảnh bất công.  Ngài bảo hàng giáo phẩm phải phục vụ đoàn chiên, phải rửa chân cho đoàn chiên,- những người bị thất thế – , có lẽ không phải một năm chỉ rửa chân tượng trưng một lần, mà thường xuyên.    Đáng lẽ các vị lãnh được nhiều lạng phải lưu tâm đem số Lời của mình vào việc  khỏa lấp bớt bất công xã hội, Những thành phần giàu có, quyền thế cứ thản nhiên tạo ra thêm bất công, nên mới nảy sinh ra chế độ CS. 

Vì thấy bất công xã hội làm khổ con người khôn xiết, nên những người CS đầy nhiệt huyết gấp rút xoá bất công xã hội, để mưu hạnh phúc cho con người. Họ giết một số người để mưu hạnh phúc cho một số người, họ tước bỏ quyền Tư hữu của mọi người để họ ban phát sự sống cho mọi người, họ tước quyền được ăn ( Tư hữu ) và được nói (  quyền Tự do ) của con Người.  Quyền Tư do và Tư hữu là Thiên tính, nên họ đã mặc nhiên thay Thượng Đế để cai quản loài ngườ!!.

Họ chỉ biết bất công “ phn nào “ do loài người làm ra,  ( Nhân vi ) mà không biết đến phần bất công khác là do Thượng đế chủ ý đã tạo ra con Người  ( Thiên bẩm ) trong môi trường bất công để buộc con Người phải tu Thân mà trở nên trọn lành, Con Người không trở nên trọn lành thì không xứng là con cái của Thiên Chúa, họ không thể hành x Công chính với nhau nếu thiếu lòng Bác ái.    Còn CS thì cổ võ Hận thù, hành động đại bất công để giải qưyết những bất công giả tạo.  Là kẻ vô thần, họ đâu có biết Thượng Đế tạo ra con người trong môi trường sống động như thế để con người có cơ hội phát triển hết khả năng của mình mà hoàn thành sứ mạng Hòa làm cho con người cao cả, xứng với địa vị con cái Thượng Đế.   Từ chối không làm chuyện đó thì con người không thoát khỏi lốt ngợm!.

V.- Nan đề Bất công xã hội

Nan đề muôn thuở của con Người và xã hội vẫn là sự bất công trong gia đình và ngoài xã hội: Người ta chỉ biết một số bất công do cách ăn ở của con người tạo ra trái với Dịch lý, còn sự bất công qua số Lạng nhận lãnh từ Thiên Chúa thì không biết đến, nên cách ứng xử của con người với vấn đề bất công xã hội không thể giải quyết ổn thỏa.

Một số trong Giai cấp thượng lưu, giai cấp quý tộc, nhất là đế quốc thực dân, giai cấp địa chủ  tuy nhờ Thiên bẩm mà có đời sống Tinh thần và Vật chất cao hơn, đáng lý họ cũng nương theo luật Thiên nhiên, biết lấy Nhiều bù Ít, lấy Mạnh giúp Yếu, lấy Lành cảm Ác, nhưng một số đã   không lý tới nguồn gốc sự bất công đã có trong xã hội mà còn tạo ra bất công làm khốn khổ con người.

Còn CS thì không biết đến sự bất công từ Thiên bẩm, mà cào bằng tất cả, tước đi Thiên tính của con người đưa tởi cảnh con người bị đày đọa!

Vấn đề là không thấy được nguồn gốc của bất công là do Thiên bẩm và cũng do con Người, nhất là không hiểu rõ Thiên lý tức là Dịch lý nghịch số để có nhng ứng xử thích hợp.    Không thấy được con người muôn màu muôn vẻ về tư cách và khả năng khác nhau thì làm sao mà đòi hỏi được sự công bằng tuyệt đối trong xã hội. Một người làm một giờ được hàng trăm hàng ngàn, còn người khác thì không làm ra một xu, thì công bằng làm sao đây?

Nhưng mặt khác không lo tìm cách giảm thiểu bất công xã hội  thì xã hội cứ tranh đấu cướp bóc nhau, đâm chém nhau mà gây đau khổ cho nhau, thì rốt cuộc dẫn nhau xuống hố.

Những giải pháp cấp tốc theo lối Pháp trị chay ( thiếu Hiến pháp Nhân bản ) , theo lối độc tài sắt máu, lịch sử  cho thấy  đã bị phá sản hoàn toàn  !

Chỉ khi nào mọi người nhận rõ nghịch số của Dịch lý mà hành xử  thuận theo Thiên lý làm cho hai đối cực bớt cách biệt mà Hoà với nhau thì mới ổn thỏa.

Chỉ có những người sống thực sự theo tinh thần  Hòa của Tôn giáo mới giải quyết được nan đề, nhưng khổ thay nhiều khi Tôn giáo chỉ “ Lấy Đạo tạo Đời   “ nên cũng vô bổ.

Căn bản vấn đề là: Con người bất toàn với Tư cách và Khả năng khác nhau, nếu cứ theo đà » mạnh  được yếu thua, kiến ăn cá cá ăn kiến  «  thì cả hai phía người giàu kẻ nghèo sẽ dồn nhau vào chỗ chết, CS là một ví dụ.   Chỉ có con người biết chấp nhận nhau là những con người bất toàn giúp nhau sống tương đối công bằng với nhau  để sống hòa với nhau mới ổn, không thể đem tinh thần cực đoan như CS  ra mà cư xử với nhau!.

Muốn thực hiện cuộc sống công bằng với nhau thì tiên vàn mọi  người phải đều biết tôn trọng nhau, vì đều là con Chúa, con Phật, là tinh hoa của Trời Đất, nên phải yêu thương  nhau, chấp nhận những dị biệt của nhau mà tha thứ cho nhau, và ăn ở theo lối hai chiều : «  có Đi có Lại, phải Người phải Ta « thì mới đi đến chỗ Hoà mà sống yên vui với nhau được.

Nho giáo có  “ Nhân/ Trí, Hùng / Dũng,”  Phật giáo có “ Bi / Trí, Dũng, hay Từ Bi/ Trí tuệ  Hỷ xả “, Kitô giáo có  “ Bác Ái / Công bằng và Tha thứ “.

Mọi người có thực sự sống kết hợp với những giá trị cao cả đó thì mới giải quyết nổi vấn đề. 

Vấn đề chính là mọi người phải tu dưỡng lòng Nhân hay lòng Tư bi hay Bác ái, khi có yếu tố căn bản này thì mọi điều khác như chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau  mà ăn ở tương đối công bằng với nhau đều có thể thực hiện được.

Vì vậy cho nên nan đề của nhân loại vẫn là quên đời sống Tâm linh và cách hành xử hai chiều với nhau trong gia đình và xã hội.

Chỉ khi nào có con người Nhân chủ có đủ Nhân, Trí, Hùng – Dũng để biết cách sống «  Dĩ Hoà vi quý «  thì mọi vấn nạn của con người Bất Nhân và xã hội Bất Công mới giải quyết được. 

Đó mới chỉ là lãnh vực cá nhân.

Nan đề của Nhân loại ngày là coi nhẹ đời sống Tâm linh, nhưng Tâm linh  ( Quy tư: EQ: feeling ) và Khoa học ( Suy tư : IQ: thinking ) là cặp đối cực cần luôn được quân bình: EQ /IQ 1

 Có Tâm linh mà Khoa học kém cỏi thì không thể “ ăn nên làm ra “, có Khoa học mà thiếu Tâm linh tức là đánh mất Lương tâm thì Khoa học sẽ “ hủy diệt Nhân loại”.

VI.- Công  Bằng tương đối

Do số Lạng“ nhiều ít đầu tiên được nhận lãnh từ Thiên Chúa “ mà con người không thể có công bằng tuyệt đối trong thế giới hiện tượng tương đối. Nhưng chỉ trong thế giới hiện tượng tuơng đối mà con người có môi trường để Vi Nhân bẳng cách hoàn thiện những thứ bất toàn. Nhiệm vụ cao cả và khó khăn nhất của nhân loại là khi sống trong thế giới bất toàn phải tổ chức thế nào để cho ai ai cũng có điều kiện sống hợp với nhân phẩm. Đó là nhu yếu thâm sâu của mọi con người: Quyền có Ăn và quyền được Nói.

Chúng ta nên nhớ, Nho định nghĩa : Con Người là “ Thiên Địa chi Đức , con Người là tinh hoa của Trời Đất,Trời ( Thiên )thì vô biên, nên con Người cần phải có Tinh thần  “ Tự do “ để phát trìển, còn Đất ( Địa ) thì hữu hạn, nên mọi con người  cần phải có Vật chất  để nuôi sống tức là phải có “ Bình sản” . Phải có hai nền tảng Tự do và Bình sản thì mỗi con Người mới  phát huy được phẩm giá của mình ( Nhân / Nghĩa Bao dung ) để sống Hoà với nhau .

Nhân loại đã thất bại triền miên trong công cuộc Vi Nhân căn bản này. Ta nên nhớ con người là một trong Tam tài, nên phải hành kiện như “ Thiên hành kiện bấttức: Trời hoạt động không ngừng nghỉ qua các Hiện tượng biến hoá trong thiên nhiên, nên con người cũng phải làm việc không nghỉ ngơi để tạo ra của cải Vật chất và của ăn Tinh thần. Làm ra cái Ăn là một trong nhu yếu nền tảng của Nhân quyền, khi bảo vệ được cái Ăn thì có Nhân quyền, cái Ăn cũng được gọi là quyền Tư hữu.

Trong chế độ Tư bản thì quyền Tư hữu tuyệt đối, nên những người nhận được nhiều lạng lại có quá nhiều Tư hữu, mà người ít lạng thì lại không có cái Ăn, trở thành Vô sản, nên vô Nhân quyền bị tổn thương nên phải lập ra chương trình An sinh xã hôi để  điều hoà hố cách biệt giữa giàu và nghèo

Còn trong chế độ CS thì quyền Tư hữu bị tước sạch để làm Công hữu, tuy có Làm nhiều mà Hưởng ít, con người trở thành Vô sản như súc vật, Nhân quyền bị tước.

Nan đề của nhân loại hiện nay vẫn là quyền Tư hữu. Mỗi cá nhân nhờ hoạt động của  Trí óc và Tay chân mà sản xuất ra của cải gọi là quyền Tư hữu. Sản vật do Trí óc và mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì mình có quyền hưởng mà không ai có thể tước đoạt, chỉ những tài sản nào không do công lao của mình mà chiếm lấy thì mới bất công.

 Giàu Nghèo mà do bóc lột và bị bóc lột mới bất công. Những người giàu dùng mưu gian và quyền thế để bóc lột kẻ nghèo mới bất công, còn người nghèo vì lười biếng mà nghèo thì cũng chẳng do bất công.

Nhưng sống trong xã hội mà kẻ nghèo thì đông mà người giàu thì ít , nếu người giàu không biết san sẻ thì vấn đề CS sẽ nảy sinh .Do  đó mà  cần có Lòng bác ái, Lòng Tư bi cũng như Lòng Nhân ái, chỉ với những người có Tình yêu cao cả như thể  mới biết chia sẻ với người thất thế trong cuộc sống, nhưng vấn đề  Công bằng tương đối trong xã hội lại thuộc về trách nhiệm của nhà cầm quyền.

Trong xã hội mà người nghèo thì đông , người giàu thì ít, công việc Từ thiện, Bố thí mới chỉ là tiểu Ân cần  cho nhất thời, còn việc thực thi công bằng xã hội tương đối mới cứu được nhân phẩm mọi Người trong dài hạn, mọi người phải có cơ hội và phương tiện phát triển Tư cách và khả năng và đồng thời phải có công ăn việc làm mới duy trì được phẩm giá của con Người .

VII.- Công bằng tương đối trong Xã hội Nông nghiệp

và Kỹ nghệ

Thế mà trong chế độ Nông nghiệp thô sô, Cha Ông chúng ta đã biết lấy Công điền Công thổ  để  điều hòa giữa Công và Tư hữu để giúp cho những người bất hạnh có cuộc sống  tương đôi xứng với Nhân phẩm.

Trong chế độ Nông nghiệp xưa tại miền Bắc và miền Trung, Công điền và công thổ trong mỗi làng chiếm hơn một nửa.     Tổ Tiên Việt đã có phép Tỉnh điền, dùng Công hữu ( Công điền  công Thổ) để điều tiết với Tư hữu hầu giảm bớt khoảng cách giữa Giàu Nghèo.

Công hữu này đưọc cấp phát cho những người thất thế, những cô nhi quả phụ, nhng người tật nguyền, mỗi người đều được cấp phát một số sào ruộng để họ “ tự canh tác lấy “  mà sống, không ai có thể dùng miếng ăn để bắt nạt họ. Còn ngưòi tật nguyền thì lấy ruộng đất được cấp phát cho “ Rong canh “ tức là cho người khác  cày cấy để thu tô tức là thu một số thóc, tuy là ít nhưng họ không có bị chết đói.

 Đây là cách giải quyêt vấn đề Công bằng tương đối trong xã thôn ngày xưa.

Trong xã hội Kỹ nghệ Tây phương nhất là Hoa kỳ đã dùng thuế Lũy tiến,tức là lấy Tư hữu đóng góp vào Công hữu để thiết lập những tiện nghi công cộng cho mọi người chung hưởng,nhất là thiết lập Quỹ An sinh xã hội để giúp những người thất thế về trợ cấp xã hội cũng như bảo hiểm y tế giúp họ được sống như là một con người có Nhân phẩm, ngoài ra còn giúp huấn nghệ cho họ sống tự lập được.

Gỉải pháp Hòa: Thiên bẩm / Nhân vi lưỡng nhất

Lấy Nhiều bù Ít, lấy Cao bù Thấp , lấy Mạnh bù Yếu  “ theo Dịch lý “. ( khác với lối của XHCN )

VIII.- DỊCH LÝ “ ÂM / DƯƠNG “  

với “ TỶ LỆ HOÀ= 3 / 2 “

( Tham Thiên < 3 >  / Lưỡng Địa  < 2 > nhi ỷ  số )

Theo Nho thì Dịch được định nghĩa là : Nghịch số chi Lý: Dịch được cấu  tạo bởi các cặp đối  cực ( Nghịch số  ), khi cặp đối cực  lưỡng nhất thì mới đạt trạng thái Quân bình động ( Dynamic equilibrium ) để tiến bộ trong trạng thái ổn định.

1.- Những nghịch lý trong Vũ  trụ

Cơ cu không gian: Các cặp đối cực Trên / Dưới, Trong / Ngoài cần được lưỡng nhất để tạo nên không gian 3 chiều. ( trinity )

Cơ cấu Thời gian: Quá khứ / Tương lại cần được Lưỡng nhất nơi Hiện tại  ( Hiện tại miên trường : ever present ) tạo nên Thời gian 3 nhịp ( trinity ).

                       2.- Những nghịch lý trong mối Tương quan giữa các cặp Đối cực.

Khi các cặp đối cực có được Lưỡng nhất thì mới duy trì được mối Tương quan 2 chiều tức là mối tương quan Hòa.

Nho đã tổng quát các  cặp đối cực lưỡng nhất thành Dịch lý “Âm  / Dương Hòa

Nên nhớ, tuy Tàu có Dich với 64 quẻ, nhưng Dich Tàu thiếu Gốc Âm, chỉ có độc cực Dương :Rồng, mà độc Dương lại bất sinh, nên làm sao mà Tàu có Dich “Âm / Dương Hòa được? Do đó mà chúng ta hiểu được:

Vì độc Dương nên Văn Hóa Tàu trở nên bạo động,gây chiến tranh, cướp bóc và bành trướng, Dịch  64 quẻ của Tàu chỉ để Bốc phệ: Nhâm, Cầm Độn Toán, chứ không liên hệ gì  đến Dịch lý về  Quốc kế  Nhân sinh.

Nho  bảo “Âm / Dương Hòa “ là  “ Vi ngôn đại Nghĩa  “ tức là lời nói vi diệu mang bản chất  “Đại Nghĩa tức là lẽ Công bằng  xã  hội tương đối cho mọi Người“.

Lời nói này sở dĩ vi diệu là vì không thể   “ hiểu rõ ( thingking ) chỉ bằng Lý  “ mà con phải  “ cảm nhận, thể nghiệm  ( feeling,experiencing )  bằng Tình “, vì là “ Tình / Lý lưỡng nhất “  hay “Tình / Lý tương tham “.

Lấy  một ví dụ để gợi ý:   Khi hai Vợ  /Chồng sống chung với nhau  sao cho “ Tình / Lý tương tham hay Lưỡng nhất hay Hài hòa “ nghĩa là hai bên yêu nhau thật lòng  ( Tình ) và ăn ở công bằng với nhau  ( Lý )  thì hai bên đều cảm thấy Hoà vui hạnh phúc , nghĩa là cuộc sống hai bên đã thăng hoa, đã vượt  lên trên Tình / Lý mà cảm thấy lâng lâng hạnh phúc bên nhau, cảm thấy du dương  như nghe Hòa âm của dòng nhạc .

Nếu không hiểu được ( bằng Lý ) và đồng thời cảm nhận được ( bằng Tình ) thì khi nghe nhắc đến câu “Âm Dương Hòa hay  lưỡng nhất “ sẽ khó liễu hiểu.

 3.-Nghịch Lý trong Bản tính con Người

Nho định nghĩa: Nhân giả kỳ : Thiên / Địa chi Đức 

Nhân = Thiên / Địa = Tinh thần /Vật chất =

 Tự do / Bình sản ( lưỡng nhất )

 * Tự do:

Tự do hàng Dọc ( thuộcThiên ) thì vô biên: Đó là Tinh thần  thuộc Tự do Tôn giáo, Tự do Văn Hoá, nền tảng của  Nhân quyền

Tự do hàng Ngang (thuộc Địa ) thì hữu hạn, đó  là  Bình sản thuộc Vật chất, nền tảng của  Dân Quyền.

Để người dân làm nhiệm vụ công dân là làm nghĩa vụ quận sự để giữ nước và đóng thuế để dựng nước thì nhà nước phải cung cấp phương tiện mưu sinh cho công dân, trong nông nghiệplà cấp ruộng đất để những người có cuộc sống khó khăn để họ tự canh tác mà mưu sinh hầu giữ được nhân phẩm, trong các nước công nghiêp thì trợ cấp bằng tiền bạc để nuôi sống và huấn nghệ để họ sống tự lập.

Nhân quyền / Dân quyền cần được lưỡng nhất theo Dịch lý thì  Nội lực Dân tộc  ( Dân sinh / Dân Trí  ) mới phát triển giúp cho Dân giàu Nước mạnh.

*Bình sản:

Bình sản = Công hữu ( C.S )  / Tư hữu  ( T. B ) lưỡng nhất thì mới giúp cho mọi người có điều kiện sống xứng với Nhân phẩm  mà hoà với nhau. Có điều hòa làm sao cho ai ai trong Xã hội có cuộc sống xứng với Nhân phẩm thì mới tương đôi ổn định.

4.- Nghịch lý trong Chế độ Xã hội.

Chế độ Dân chủ có mối Liên hệ 2 chiều qua lại, nên Âm / Dương Hoà .

Chế độ Độc tài có mối Liên hệ một chiều từ trên xuống, nên Âm / Dương bất Hòa.

5. – Nghịch lý trong Sinh hoạt Dân chủ

Khi thành lập Đoàn thể  hay bất cứ Tổ chức nào hay Quốc gia thì phải có nguyên tắc sinh hoạt:

a – Thiểu số phục tùng Đa số: khi hội họp để bàn thảo bất cứ vấn đề  chung thì thiểu số có  phục tùng Đa số thì công việc chung mới tiến hành được .

             b.- Đa số phục tùng Thiểu số:   Đây là vấn đề thông thạo, hiểu biết vấn đề (: Competency:an important skill that is needed to do a job: ), hàng triệu y tá không thể chữa bệnh bằng  một ông Bác sĩ , vì Bác sĩ thộng thạo về bệnh tình hơn Y tá.6.-Dịch lý trong Tam quyền phân lập

Tối cao Pháp viện có nhiệm vụ duy trì công lý nhờ yếu tố competency.

Do đó mà sinh hoạt trong  cả ba ngành: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp đều theo nguyên tắc  Thiểu số phục tùng Đa số , nhưng  trong ngành Lập pháp  cũng như  Hành pháp <  cả  hai đều Đa số> thì Lập pháp và  Hành pháp phải phục tùng phán quyết về luật pháp của Tối cao pháp viện.

Phải kết hợp làm sao cho cặp đối cực :

Thiểu số phục tùng Đa số / Đa  số phục tùng Thiểu số lưỡng nhất: nền tảng của Dân chủ.  

Lập pháp / Hành pháp Lưỡng nhất :  Tối cao pháp viện

7.- Dịch lý trong việc Tuyển Hiền

  Phiếu Dân bầu / Phiếu Cử tri đoàn

Trong chế độ vua quan ngày xưa, khi ông Vua tìm người hiền tài  ( có Tư  cách và  Khả  năng ) ra lo việc nước thì gọi là tuyển Hiền, trong chế độ Dân chủ ngày nay  thì tuyển Hiền bằng cách Ứng cử và Bầu cử từ cấp địa phương tới trung uơng.

Trong việc bầu cử Tổng thống thì gồm có hai loại phiếu bầu: Phiếu Dân bầu  ( popular vote ) và phiếu Cử tri đòan  Cử  tri đoàn là những người có đóng góp nhiều cho Đảng hoặc các quan chức dân cử của bang hoặc lãnh đạo của Đảng đó hoặc là người có quan hệ chính trị hoặc cá nhân với ứng viên tổng thống của đảng mình. Họ thuộc thành phần thiểu số  ( competency )am hiểu  Quốc kế Dân sinh, còn thành phần Dân bầu tuy thuộc đa số nhưng không quan trọng  bằng Cử tri đoàn, cho nên  khi bầu Tổng Thống, gặp  Ứng Cử viên  nào tuy thua phiếu Dân bầu mà thắng phiếu Cử tri đoàn thì đắc cử Tổng thống

Trong cuộc tranh cử  hiện nay, có ứng viên Tổng Thống đòi thải  bỏ phiếu Cử tri đòan, tức là loại bỏ thành phần competency trong Cử tri, Ứng cử viên này đã dẫm lên lốt chân của CS, vì lấy số đông hỗn tạp để loại trừ thành phần thiểu số   hiểu biết !

8.- Dịch lý trong Cơ  cấu  Văn Hoá và Tôn giáo

Nho giáo : Nhân / Nghĩa Lưng nhất : Bao dung  ( Hòa )

Phật giáo: Từ bi /Trí tuệ lưỡng nhất: Hỷ xả (Hòa )

Kitô giáo:Bác ái/ Công bằng Lưỡng nhất : Tha thứ ( Hòa )

Hiến pháp của Hoa Kỳ: Bác ái / Công bằng1 (Dual unit)

Bản chất của Văn Hóa Việt và các Tôn giáo như Phật giáo Kitô giáo là HÒA

 Tôn giáo mà gây chiến tranh với nhau là Tôn giáo  đã  đánh mất Bản chất Hòa.

9.-Dịch lý về sinh hoạt của Đảng phái trong Chính trường.

Trong chế độ Dân chủ Hoa kỳ hiện nay giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ còn có những bất đồng về Thuế má,về ngưòi nhập cư bất hợp pháp, về việc kiểm soát súng ống, về việc phá thai. . .   Sở dĩ có sự bất đồng như  vậy là do sự cảm nhận và suy tư khác nhau về mức độ  Bác ái và Công bằng  nơi Hiến pháp.a.-Việc phá thai

Một  bên thì chủ trương cho phá thai, cho là quyền lựa chọn của phụ nữ ( Pro – choice ), cứ ăn chơi thả giàn, khi người nữ có mang, gây bất tiện cho cuộc sống thì chính quyền giúp điều kiện giết đi cho đỡ rắc rối .    

Một bên Pro – life ( No abortion ) / bên kia Pro – choice ( abortion  (yes)  = No / yes = 0,  hai bên đối kháng nhau, nên gây ra rắc rối cho nhau.

Muốn cho Pro – life / Pro – choice = 1 ( lưỡng nhất theo Dịch lý ) thì hai bên phải điều chỉnh lại mối liên hệ sao không gây  khốn khổ cho nhau, nghĩa là chỉ có  sex,khi đã lập Gia đình.

Nên nhớ con Trai là một Thái Dương với  “ Dương trung hữuÂm căn “, ( the femine principle within the man; Carl Jung ) ngược lại con Gái là một Thái Âm với “ Âm trung hữu Dươngcăn “ ( the masculine principle within the woman ), nên Thái Âm và Thái Dương phải lưỡng nhất để thành Thái cực, do đó ngưòi con Gái và con Trai phải giao phối với nhau cho 2 thể xác và 2 Tâm hồn kết hợp làm một mới được phát triển viên mãn cho quân  bình, nhờ  đó mà mỗi con Người là một tiểu Vũ trụ hay tiểu Thiên Địa.

 Khi hai ngươi Nam Nữ có thực sự yêu nhau thì mới giao hợp.  Giao hợp là một cuộc Tế lễ  linh thiêng, hai bên phải thành khẩn hiến dâng trọn ven Thể xác và Tâm hồn của nhau làm một để bổ túc bản chất Âm Dương cho nhau được cân bằng, khôngchỉ lúc đó mà  cho tới khi đầu bạc răng long, cốt rủ xương mòn, đây là cuộc Tận hiến, tác động theo Dịch lý của Vũ trụ!

( Xem hình Thái Âm / Thái Dương ở dưới )

Thiếu Âm:The feminine principle within the Man.

Thiếu Dương : The masculine principle within the woman.

Phần trắng của hình trên là Thái Dương, chấm Đen ở trong là Thiếu Âm. Phần Đen là Thái Âm, chấm Trắng ở trong là Thiếu Dương.

Hai bên Nữ  / Nam nên hiểu,chỉ có giao hợp khi đã là Vợ Chồng và Nồi nào úp Vung nấy là hợp với Thiên lý.

Khi người Nam  Không đủ điều kiện nuôi con, thì ngưòi Nữ  phải biết là không thể ưng thuận hợp thân được.      

Quyền lợi / Trách nhiệm phải lưỡng nhất mới không gây ra rắc rối.  Không thể lấy lý do gì để tránh trách nhiệm việc mình đã gây ra!     

Tóm lại, Phá thai trong giai đoạn nào cũng là hành động giết Người , giết Người là chống lại Thiên lý cũng như Tinh thần Hiến pháp – Bác ái và Công bằng – ( Hiến pháp của Hoa Kỳ ), việc này không những gây  nguy hại cho người phạm phải mà còn làm sa đọa Tinh thần của Văn Hoá Dân tộc.

Theo Dịch lý thì Người con Trai là second – half  của người con Gái , Gái / Trai giao hợp để lưỡng nhất hầu nên Một, một Gia đình, Gia đình được Nho tôn lên làm  “ Đại Đạo Âm Dương Hòa “.  Theo Việt Đạo thì “ Nồi nào úp vung nấy “để lập gia đình để xây hạnh phúc dài lâu , chứ không để tìm khoái cảm trong chốc lát. Việc Gái Trai hiến thân cho nhau là  một cuộc Tế lễ linh thiêng, vì một mặt để có khoái cảm, mặt chính  là để sinh ra con Người, mỗi người là một Tạo hoá con, việc giao hoan  là công việc của  “ Tạo Hóa con “ tham gia vào cuộc sinh sinh hoá hoá trong Vũ trụ.  

Việc giao hợp ngoài Hôn nhân là nghịch với Dịch lý hay Thiên lý, mà  “ Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong “ , do đó những cuộc giao hợp ngoài Hôn nhân sẽ đem lại khổ đau cho những ai hành động ngược với Dịch lý.

Gia đình là thành phần quan trọng nhất trong Xã hội, việc giao hợp trong Hôn nhân là việc cao trọng, chứ không bẩn thỉu đê hèn như những người thanh giáo quan niêm, Gia đình phải  là Tổ Ấm để  cho Vợ / Chồng Con cái sống vui vầy hạnh phúc bên nhau. phỏng trong cuộc sống con người có vần đề nào quan trọng hơn, Thiên lý này không thể để bị lạm dụng làm cho sai mất ý nghĩa linh thiêng của Hôn nhân. 

Đây là vấn đề vô cùng quan trọng của mọi người, mọi nhà, của người Mẹ, người Cha, nhưng người ta kiêng dè không dám đụng tới ,thay vì làm cho tốt lại được khơi ra để bị lạm dụng cho xấu hơn, do đó nếu không tạo ra được môi trường linh thiêng cao trọng thì không nên đề cập tới!    

b.-Việc “ Nhập cư “ bất “ Hợp pháp “

Cho Nhập cư  ( Lợi ) là nhờ Lòng bác ái ( Qua vic xét rõ có thực sư bị Đàn áp bất công hay không )

Hợp pháp ( Quyền ): Xem có thể Thực hiện  An ninh chung theo Lẽ công bằng hay không?

Khi không thực hiện Quyền, thì Lợi sẽ bị tước vì trái với tinh thần Hiến pháp: Bác ái / Công bằng .

Bác ái và công bằng như hai mặt của đồng Tiền, không thể tách rời , nên khi không có công bằng thì không thực sự là Bác ái, ngược lại khi không có Bác ái thì không thể thực hiện công bằng.  Nhân danh Bác ái mà lờ đi lẽ công bằng thì chỉ là Bác ái thiếu thực chất, điều   này chứng tỏ Văn Hóa có Vấn đề .

Xâm phạm An ninh chung thì không thể được Nhập cư .

 c.-Quyền mang súng để tự vệ

Có súng / Không súng lưỡng nhất

Có súng để chống lại  người bắn mình, hầu bảo vệ  mình.

Không súng không thể bắn người, nên con người không cần bảo vệ, có dùng nắm tay đánh nhau thì cũng làm bị thương hay chết  một hai người.

Có súng / Không súng lưỡng nhất : Hòa

An ninh cá nhân nằm trong đầu người cầm súng, chứ không phải ở nơi cây súng!

Giải pháp nằm trong Tinh thần người cầm súng, chứ không ở nơi Vật chất :  cây súng

Giải pháp 1: Cá nhân không cần có súng, đã có cảnh sát bảo vệ.

Giải pháp 2: Có đủ ý thức dùng súng mới được cấp phép giữ súng.

d.- Việc đóng Thuế

Đóng thuế là  thực hiện quyền Công dân để Dựng Nước và Cứu Nước.

Bình thường thì Giàu hay Nghèo  đều có tỷ lệ đóng thuế như nhau, theo Dịch lý thì tỷ Đóng thuế  giữa Giàu / Nghèo nên theo tỷ lệ Dịch Lý:  3 / 2 = Giàu / Nghèo,  đó là dựa trên Tinh thần Bác ái hay Nhân ái hay Từ bi, nhằm lấy Nhiều bù Ít để cho tình trạng chung được ổn định, chứ không phải nhằm lấy của  nhà giàu san sẻ cho nhà nghèo, vì chủ trương XHCN này không nhận ra sự bất công từ đâu mà ra.

Nghịch Lý trong sinh hoạt Đảng nơi Chính trường

Cặp đối cực: Quần nhi Bất Đảng /  Đảng nhi  bất Quần lưỡng nhất

            Quần nhi bất Đảng: Lo hợp quần theo Tinh thần Hiến pháp mà coi nhẹ việc xây dựng Đảng thì Đảng không thể mạnh đủ để giúp cho sự phục vụ Quốc gia được hiệu quả.

            Đảng nhi bất Quần : Là chỉ lo việc riêng của Đảng mà không quan tâm đủ đến việc hợp quần với các Đảng khác theo Tinh thần Hiến pháp để lo việc chung .

Cả hai đều làm lệch cán cân giữa Đảng và Quyền lợi Dân tộc, do đó mà phải làm sao cho:Đảng / Quần và Quần /Đảng được Lưỡng nhất theo Tỷ lệ  Quần /Đảng =  3 / 2

Qua đó chúng ta thấy,những cuộc vận động quần chúng trong cuộc bầu cử như  “ bao che những người Di cư bất hợp pháp “, “ cho phép phá thai” , “cho phép mang sung dễ dãi”,    , bỏ học phí cho sinh viên, xóa nợ cho sinh viên, medicare cho tất cả, nhất là bỏ Cử tri đoàn, đó  chỉ  là những cuộc vận động mang tính cách mị dân, trái với tinh thần Hiến pháp, lại nữa, đó  chỉ là lời hứa suộng để kiếm phiếu mà không có kế hoạch để  thực hiện được .

Tinh thần đó sẽ Lưỡng nhất khi hai Đảng biết hành xử theo tinh thần “  Quần nhi bất Đảng “, nghĩa là hai  Đảng biết tuân theo Hiến pháp đặt quyền lợi của Nhân dân trên quyền lợi của Đảng mà lo Quốc sự, chứ các đảng cứ lo ngăn chặn nhau, mà coi nhẹ sự cộng tác với nhau mà lo việc chung, đấy là tinh thần Đảng nhi bất Quần!

 “

VIII.- Kết luận

Người Công giáo cho rằng: “ Greet is not good “, còn một số người Tư bản thì lại định nghĩa: “ Greed is good, Capitalist is greed ”,

Còn nhà Phật ở Đông phương thì bảo: “ Tham, Sân, Si gây ra nghiệp chướng là gốc đau thương của nhân loại. 

Nho giáo thì “ Nhân dục vô nhai: lòng tham của con   người  là  không đáy “ là nguyên nhân làm cho “ Đạo Tâm suy vi, Nhân Tâm duy nguy“.   Quả thật lòng Tham của con Người là nguồn rối loạn của xã hội, vì lòng Tham là nguồn cội của bất công trong gia đình và ngoài xã hội.

Ở Tây phương lòng Tham đã sản sinh ra chế độ Nô lệ, Đế quốc Thực dân. Chế độ CS cũng vì quá tham nên nổi lên chống Đế quốc Thực dân để cướp đoạt mà thống trị thế giới. Ở Đông phương  thì là chế độ Phong kiến, Tàu là đại diện chói chang của “ Tham tàn và Cường bạo “, suốt trường kỳ lịch sử 4716 năm, họ không ngớt rắp tâm gây chiến tranh cướp bóc và bành trướng.  

Đối cực Tư bản và Cộng sản tuy biến đối theo thời gian, nhưng vẫn chưa thay đổi được bản chất Lòng Tham. Là người ít ai chế ngự được lòng Tham, ngay trong lòng các vị tu trì. Lòng Tham gây ra mưu gian và dùng bạo lực để cướp bóc chiếm đọat dưới muôn ngàn hình thức: Trong mỗi cá nhân là mầm mống Tham tàn và cường bạo cứ âm ỉ, trong gia đình là “ Chồng Chúa Vợ Tôi hay Vợ Chúa Chồng Tôi”, đối với con cái thì Cha Mẹ cũng cũng dùng uy thế bạo lực mà khống chế. Trong xã hội thì gây nên một đấu trường dưới trăm mưu nghìn kế để tranh dành: Địa vị, Quyền lực, Danh vọng, Tài sản, Tình dục. Những con người yếu đuối thế cô là nạn nhân.   Nhìn chung thế giới ngày càng chồng chất bất công.

Ở Trung Đông và nhiều nơi trên thế giới có rất nhiều cá nhân ôm bom tự sát, cố giết cho được nhiều người để trả thù những gì họ cho là bất công, cũng có quốc gia cố sản xuất bom nguyên tử để trả đũa bất công. ở Đông phương còn có một số nước duy trì chế độ độc tài để bảo vệ sự bất công. Riêng Việt Nam thì sự bất công đã đi đến cùng cực là  “ giết hại đồng bào để bán nước cho trót lọt”. Xem thế lối sống Tham lam gây ra bất công, khi nạn bất công xã hội đi đến cùng cực mà không tìm cách giải quyết tận gốc rễ thì ngày tận thế không xa.

Ngày nay, các nước Tây phương một mặt đang liên kết với nhau để lập lại những sự mất quân bình trong cơ chế quốc gia, mặt khác cổ xuý  phong trào Dân chủ để làm giảm bớt sự bất công ở các nước độc tài. Phong trào này khởi đầu từ phong trào Giải Thực rồi Giải Cộng, nay đang dâng cao tại Trung Đông và Châu Phi, và cũng đã lan qua châu Á.

Mới đây lại có tình trạng Brexit, một số nước co cụm lại theo Dân tuý, mà phớt lờ Toàn cầu hóa,  chẳng qua là “ Trong nước không ấm, ngoài thế giới chẳng êm “, xét kỹ thì cái nguồn gây rối đó chính là “ Nhân Dục vô nhai “ : Cái  Dục ngược với Thiên lý. 

Tất cả chỉ còn là sự hàn gắn bề ngoài, mà vấn đề nằm ngay trong thâm cung của Lòng mỗi người. Vì không có Công bằng tuyệt đối ở trần gian này, nên chỉ có Lòng Bác ái, Lòng Nhân ái, Lòng Từ bi và Lý công  chính hay lẽ “ Phải Người phải Ta “ của mọi người mới mong giải quyết được một cách tương đối

Nhân loại đang mắc hai thứ bệnh: Bệnh Cá nhân và bệnh Xã hội.

Nguồn gốc của Bệnh Cá nhânlòng Tham nằm trong Lòng mỗi người, bệnh Xã hội nằm trong các Cơ chế quốc gia không hợp lý.

Bệnh Cá nhân là nguồn gốc của Bất Nhân và  Bất công phải ưu tiên sửa trước, còn các Cơ chế xã hội bất công phải sửa tiếp theo. 

Không sửa Lòng Tham gây ra bất công mà chỉ sửa các hiện tượng trong các Cơ chế xã hội thì không thể được. Lòng Tham gây ra bất công ở Bên Trong, nếu chữa bệnh Nội thương bằng những hiện tượng Bên Ngoài thì chắc không bao giờ lành bệnh. 

Tâm linh / Khoa học là nguồn gốc của sự sống Tính / Lý hài hòa,( cũng là Bác ái, /Công bằng, Bi /Trí hay Nhân/ Trí ) là thần dược Hòa mà con người không thể bỏ qua, mà phải dùng để chữa bệnh Bất công. Vấn đề chính là ai cũng có Nói mà chẳng ai lưu tâm Làm thật sự, một số người làm chưa đủ mà mọi người phải giúp nhau cùng Làm mới được!

Bệnh Xã hội là bệnh “ Dĩ Cường lăng Nhược: Cá Lớn nuốt cá Bé  “ dưới muôn vàn Hình thức với nhiều Nhân danh, chỉ khi nào cái Riêng của từng Quốc gia tìm được vị trí sống ổn định trong Bàn Cờ Chung của Thế giới thì khi đó Nhân loại mới mong được yên vui .

Nhìn chung, thì Tôn giáo đặt nặng về Tinh thần Bác ái để khuyến khích làm việc Từ thiện hay Bố thí chỉ riệng cho lớp người nghèo khó trong ngắn hạn ( Tiểu Ân )

 Còn Văn Hóa Việt cũng như Cộng đồng Vatican II lại đặt nặng về Vấn đề Công bình xã hội, vì có đem được Công lý vào các Cơ chế xã hội, mới mong lập được Hoà bình chung cho cả xã hội để mọi người có cơ hội sống Hòa với nhau trong dài hạn ( Đại Huệ )  nên khó khăn gấp bội, phải có những người giàu lòng Nhân ái, lòng Bác ái, lòng Từ bi với Kiến thức chu tri mới thực hiện nổi.

Qua trên chúng ta thấy:

Tư bản/ Cộng sản lưỡng nhất = Tự do / Bình sản

= Công hữu / Tư hữu lưỡng nhất

CHẾ ĐỘ NHÂN TRỊ

Để giải quyết nan đề của “ con Người Bất toàn” và “ Xã hội bất công “, cha ông chúng ta đã thiết lập chế độ Nhân trị gồm Lễ trị và Pháp Trị.      

Lễ trị để giúp mỗi cá nhân  có cơ hội và phương tiện phát triển toàn diện con người qua các Tổ chức Tự do Tôn giáo ( mang bản chất Hòa ), Tự do Văn Hóa ( Nhân bản ) , đây là hàng rào cản bên trong mỗi Cá nhân giúp họ tránh phạm pháp. Chính quyền dùng Thuế khóa để tạo ra cơ hội và  phương tiện giúp người dân phát triển Tư cách và khả năng qua kế hoạch   Dân sinh và Dân Trí.

 Pháp trị thuộc phạm vi xã hội, dùng luật pháp công minh ngăn cản những người không tự chế được mà phạm pháp, đây là hàng rào cản bên Ngoài  Xã hội.

Lễ trị   ( hàng rào cản bên trong Cá nhân ) / Pháp trị  ( hàng rào cản bên ngoài xã hội) cần được lưỡng nhất thì xã hội mới được  “trong ấm ngoài êm “..

Đây là con đường dài thật dài, và gánh nặng thật nặng, nếu cứ  từ nan bỏ qua thì  vẫn không thoát  được tình trạng gậy      Ông đập phải Lưng ông: !

Gậy ông là điều Ác ông dùng để hại người khác, thì  chính điều Ác đó quay lại đập vào lưng ông, Nho gọi là : “Ác hữu Ác báo “!

TÓM LẠI

1.- Bản chất của nền Văn Hóa

Nền Văn Hoá Việt Nam chỉ có 1 chữ HÒA, nói rộng hơn là 3  chữ : “CHÍ TRUNG HOÀ, ( 1 ) Hoà không phải là một thứ  ba phải hay khiếp nhược, mà con Ngưòi phi Vi Nhân  làm sao cho được phát tiển toàn diện, hầu được Hùng Dũng, Hùng là sức manh của Thể chất, Dũng là sức mạnh của Tinh thần, do đó mà có lời khuyên:

“ Huyết khí chi dũng bất khả hữu, Nghĩa khí chi dũng bất khảvô “ Cái dũng của Khí huyết tức là sức mạnh của Vật dục thì   không nên có, còn cái Dũng của Tinh thần để sống cho Công bằng thì không thể không.

Vì “ Theo Mới nới Cũ  “ một cách sai lạc, nên một số bị Lạc Hồn  “ Nhân Nghĩa Bao dung “  của Dân tộc  mà Dân tộc chúng ta bị rã đám như ngày nay.

Chúng ta biết Hòa là khắc tinh của Bất Hòa. Hoà là Bản chất của nền Văn Hóa Thái Hòa Việt, Hoà chính là nền tảng của Nội lực Dân tộc.

Còn Bất Hòa  là Bản chất của nền Văn Hoá Du mục Trung Hoa suốt 4716 năm kể từ Thuỷ Tổ Hiên Viên Hoàng đế của Tàu,bao giờ họ cũng rắp tâm thôn tính, tiêu diệt Dân tộc Việt Nam,do đó mà  Văn Hoá Nông nghiệp Việt Nam chính là khắc tinh của nền Văn Hóa Du mục bá đạo Tàu.

Thiết tưởng không có phương cách nào hữu hiệu hơn là chấn hưng nền Văn Hoá Thái Hòa  Việt đặng nâng cao Nội lực Dân tộc để Cứu nước và Dựng nước.

Khi Nội lực Dân tộc mà suy yếu thì dầu có Quốc kế  Dân sinh hay mấy cũng vô hiệu. Dân tộc chúng ta đang bị bệnh Nội thương Bất Hòa trầm trọng, không chấn hưng Văn Hoá Thái Hoà thì vô phương cứu chữa.

Chúng tôi xin gởi thêm cuốn “ Nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam “để tuỳ nghi.

( Xin xem trên trang vietnamvanhien.net.index )

Các nhà cầm quyền Trung Hoa là  mối Họa ngàn đời của Dân tộc Việt Nam, họ luôn tìm mọi cách tiêu diệt Văn Hóa Việt để tiêu diệt Nội lực Dân tộc hầu không cho chúng ta vươn lên vực dậy được.  

Xin  mọi đồng bào Việt Nam đừng bao giờ quên cái Tai Họa ngàn đời này

Đây là cuộc đấu tranh tận nơi Gốc Văn Hóa của hai Dân tộc, một mặt nhằm nâng cao Ưu điểm của Dân tộc ta đ chấn hưng Nội lực Dân tộc, đồng thời đánh vào Yếu điểm của nền Văn Hóa bá đạo của kẻ thù.  Những nan đ  Quốc nạn và  Quốc nhục nằm ngay ở  Gốc: Bản chất Văn Hóa, còn những rối loạn trong các Cơ chế Xã hội chỉ là  phần Ngọn thuộc Hiện tượng, vậy muốn chữa dứt bệnh thì phải chữa ngay ở  Gốc.        .

Điều cuối mà mỗi chúng ta cần lưu tâm về nguồn gốc và bản chất của Văn Hóa Dân tộc.   Văn Hoá của Dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Thái cực “Âm / Dương Hòa: Nhất Nguyên lưỡng Cực “, tức là những cặp Tiểu đối cực kết thành lưỡng nhất, cụ thể là :

Trên / Dưới ( Đối cực lưỡng nhất:dual unit ) =(1:Hòa )

Trong / Ngoài  = 1

Gần / Xa = 1

Nhỏ / To = 1

Dễ / Khó = 1

Tầm thường / Phi thường = 1

Tinh vi / Vĩ Đại = 1

Vũ / Trụ =1

Không gian / Thời gian = 1: Time – Space – Continuum

Quy Tâm / Ly Tâm = 1

Tâm / Vật = 1

Quy tư / Suy tư =  1. …

Ý thức / Tiềm thức =  1

EQ / IQ = Tình / Lý =1

Gốc / Ngọn = 1

            ( Tích phân )Integral  /  ( Vi phân ) Differential = 1

            Acid / Base = 1

            Ly tâm / Quy tâm = 1

            +∞ / -∞ = 1 . . . ( Hòa )

Đó là những Tiểu Thái cực kết nên nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam.

2.- Lý do khiến Dân Việt Nam xa  rời Đạo lý Dân tộc

Do nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “ của Tàu tiếp đến sự độ hộ của Pháp khiến cho cuộc sống Dân tộc ta trở nên  vô cùng khó Khăn, hàng ngày chỉ lo cho được miếng ăn qua ngày và chống giặc xâm lược liên miên đã làm cho cả Dân tộc kiệt sức, nên cái Khó bó cái Khôn, vì sự sinh tồn đến nỗi những người thân cũng lấn át nhau, xâu xé nhau,  khiến cho Tình Nghĩa Đồng bào ngày càng bị sứt mẻ, tới nay vì ngượng ngùng quá chỉ gọi nhau được bằng Đồng hương mà thôi.

Bản  chất nền Văn Hoá Việt là “ Dĩ Hòa vi quý”, hòa theo Tiêu chuẩn Nhân Nghĩa Bao dung, nhưng đa số đã bỏ qua mà theo lối sống “ Mâu thuẩn thống nhất  “ của CS cứ tranh dành nhau để Hơn Thua ,hễ có người phát biểu không hợp với ý mình thì tìm cách viết lách, phát ngôn đả kích nhau để chứng tỏ mình đúng , mình giỏi, mình hơn , chứ  không biết tới cách giúp nhau  tìm ra lẽ phải ( Công bằng ) để sống hoà vui với nhau, và cứ theo thói quen mà gây ra xích mích này chồng lên xích mích khác, gây hờn chuốc oán với nhau  làm cho nhìn nhau không thấy hình ảnh Đồng bào đâu nữa,  kết cục hai bên đều thua, dành phần thắng cho CS. Vậy hai bên có còn khôn nữa khộng ?

Điều quan trọng khác, khi sống trong khó khăn, thực tế nào cũng phụ phàng, nên mơ tới lý tưởng cao xa , như thiên đưòng trần gian, sự cứu rỗi ở đời sau,mà quên  không  làm tốt cuộc sống “ Nơi đây và Bây giờ “ từ nền tảng thì làm sao có được đời  sau?!

Mặt khác, Văn hoá Cha ông chúng ta là nền Văn Hóa phổ cập cho mọi người dân, có nền tảng từ cái Thấp nhất, Đơn giản nhất, Tầm thường nhất,. . . nhưng mức độ cao thấp khác nhau mà ai ai cũng có thể tham gia để thăng hoa cuộc sống  theo bước tiệm tiến từ thấp lên cao.    Vấn đề quan trọng nhất của mọi người là  ở  cái Ăn, nơi Ở, là Nghề nghiệp, là  cuộc Sống Ái ân, để từ thực tế thiết thân đó, tìm cách trau dồi Nhân cách để Ăn ở thuận hoà với nhau hầu giúp cho sự Đoàn kết Dân tộc đưọc vững bền , khi đó thì mới có Nội lực để giúp Dân tộc thoát ra mọi cảnh khó khăn.

Qua hàng ngàn năm bị Tàu tiêu diệt cho hết thành phần tinh hoa, phá tan Thượng và Hạ tằng cơ sở, Tây đem theo Văn hóa cá nhân chủ nghĩa lãng mãn, ru Hồn  hồn trí thức lên ngọn cây, ( Là thi sĩ là ru với gió, mơ theo trăng mà vơ vẩn cùng mây. .  Xuân  Diệu )  xem thường Văn hoá  cha ông, do bị Lạc Hồn “ Nhân /Nghĩa Bao dung “ của Dân tộc, nghe nói đến Văn Hoá Dân tộc thì dè bỉu cho là quê mùa lạc hậu,  nên chạy theo Văn minh, hăm hở đi theo Duy Lý ( bỏ Tình )  gây cảnh phân hóa chia lý,  theo Duy Lý cực đoan như CS để rước Hận Thù của Mác Mao, Xít, H  về mà hãm hại nhau, Hơn Thua đủ với nhau để hại người, làm tan Nhà nát Nước,hầu thỏa mãn cái “ Lòng Tham không đáy “, CSVN nhân danh công bằng xã hội để cướp của giết người.

Ngày nay người ta bảo CS tham nhũng và đảng CS đang nhân danh  Diệt tham nhũng để tồn tại, thật ra đng CSVN đâu có tham nhũng mà chỉ nhân danh công lý mà giết người cướp của toàn dân theo 3 đợt :

Đợt thứ nhất là cướp của Chìm của Nổi  của Địa chủ.

Đợt thứ hai là cướp của  Công Nông theo cái gọi là  “Quy hoạch mặt bằng “.

 Đợt thứ ba là những thành phần  đầu não của CSVN đang cướp  “ của ăn Cướp “ của nhau .

“Một lần tha, ba lần chém: CSVN đã hết thời!

Tình trạng này Cha ông chúng ta đã cảnh báo từ lâu: “ Khi cùng chung nhiệm vụ, hè nhau cùng đi ăn cướp  thì rất thương nhau, nhưng khi cùng chung quyền  lợi ăn cướp thì lại giết nhau” !

 Vậy Quốc nạn và Quốc nhục từ đâu mà ra , lỗi đó tại ai?

Thưa tại kẻ thù truyền kiếp mà cũng tại chúng ta đang ngũ mê  trong giấc Mê vong Nhân, vong Thân và vong Quốc.

Vì vậy muốn sống  ( Vi Nhân ) hợp với Dịch lý thì nên quan tâm đến Cơ cấu của Văn Hóa .

Trong cuộc sốngnày muốn tìm cái kia ( Ngọn: nơi Xa) thì có thể  tìm nơi cái này (Gốc: chốnGần ),  hãy đi theo lối Ăn chắc mặc bền, chậm mà chắc, chứ cứ theo lối ăn xổi ở thì không bao giờ  thoát nạn.   Xin tha lỗi cho những lời khó nghe !

Tác giả Việt Nhân gửi cho Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

THAM KHẢO

( 1 ) . “ Trung giả Thiên hạ chi đại bản, Hoà giả Thiên hạ chi đạt Đạo,  Thiên Địa vị yên , Vạn vt dục yên, chí Trung Hòa “. T. D.

Concept of Archtypes at Carl Jung The archetypes concept has been approached by Jung in his entire work after he left Sigmund Freud. But in his book on the confrontation between the ego and the unconscious*, when he describes the process of assimilation of the unconscious, he writes about archetypes such as: Persona, Shadow, Anima / Animus and the Self. But what is the archetype according to Jung? An innate tendency which molds and transform the individual ego/consciousness. It is rather a natural tendency to shape things than a collection of inherited contents such as images, ideas, concepts; it is a matrix which influences human thinking and believes on the ethical, moral, religious and cultural levels. Jung talks about the archetype (also called “primordial image”) as of the biologists’ patterns of behavior (inborn behavior patterns). In short, archetypes are inborn tendencies which shape the human behavior. “The archetype concept – Jung writes – derives from the often repeated observation that myths and universal literature stories contain well defined themes which appear every time and everywhere. We often meet these themes in the fantasies, dreams, delirious ideas and illusions of persons living nowadays”. These themes are representatives of archetypes; they are based on archetypes. They impress, influence and fascinate us (our ego). This is why we call their tremendous effect numinous – that is, able to arise deep and intense emotions. Archetypes do not have a well defined shape “but from the moment they become conscious, namely nurtured with the stuff of conscious experience.” Basically an archetype is empty, purely formal, nothing else but a pre-shaping possibility or an innate tendency of shaping things. We can say that archetypes resemble the instincts in that that they cannot be recognized as such until they manifest in intention or action. Archetypes are both negative and positive, that is they have two sides. One may figure out the archetype dualism by comparison with the symbolism of the well-known yin-yang principle. Though Yin and Yang are parts of the same unity – the T’ai chi – they have separate and opposite meanings: decline and progress, below and high, night and day and so forth. Finally, the archetype is psychoid (psychic-like); it shares both psychic and material aspects and acts as well on a psychic and/or material plane. (See also the synchronicity principle). Read about: Persona – Animus – Anima Shadow – Self – Wise Old Man (coming soon) Read also: About the Collective Unconscious

Steps in the individuation process – paper about archetypes as they occur in the individuation process (see also individuation). Further resources: * The book is included in Two Essays in Analytical Psychology. You may order it from Amazon.com: https://amzn.to/31A1vKo. Archetypes and the Collective Unconscious provides valuable information about the archetype concept. You may order this book from Amazon.com: https://amzn.to/2BjT9t9. Archetypes in Dreams: We illustrate the occurrence of archetypes in dreams and explain their meaning in our Jung and Dreams email course. Click here to learn more.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s