Nhìn xa, trông rộng …

Trong nền giáo dục hiện tại của nước nhà dưới triều đại độc tài toàn trị của những người cộng sản cuồng tín đi theo Mác Lê Mao chủ nghĩa, đã thể hiện rất nhiều bất cập. Đó là không có sự học hỏi. Bởi vì không chấp nhận tư duy đối lập có nghĩa là không cho phép được hỏi những gì không phù hợp, mà chỉ biết học vẹt có nghĩa là học theo kiểu của con vẹt. Học mà không có nhận thức. Do đó mà nền giáo dục mới bị thui chột và xuống cấp. Hôm nay, tôi muốn chuyển tải một bài học rất đơn giản qua câu chuyện đối thoại giữa một nhà sư với một anh chàng thư sinh.

Hình minh họa (sưu tầm)

Từ lúc qua đò Gián, đi dọc theo con đê rồi quẹo vào đường cái quan, hướng theo núi Gôi mà đi về phía Nam Định, có lẽ đã khá lâu vì chàng thư sinh cảm thấy mệt mỏi; hơn nữa mặt trời đã ngả về dãy núi đá vôi vùng Trường Yên sau lưng chàng.
Khi thấy cổng chùa, mắt chàng sáng lên vì đây tuy chưa phải là trường thi hương Nam Định, nhưng là nơi chàng đến nghỉ đêm nay.


Sau khi chào hỏi và trình thư giới thiệu của người quen, thư sinh được nhà sư mời vào nghỉ trong một căn phòng nhỏ, bên cạnh phòng của nhà sư. Phòng này quá đơn sơ, chứng tỏ chùa thuộc loại nghèo. Chùa vắng vẻ, chỉ có hai thày trò, một nhà sư đứng tuổi và một chú tiểu.


Tối đến, chú tiểu bưng khay cơm vào mời thư sinh, rõ ràng là cơm nhà chùa xứ quê; ngoài liễn cơm đỏ, còn một bát canh mướp mùng tơi, cạnh một chén cà và một bìa đậu phụ nướng. Thế mà thư sinh thấy ngon tuyệt.


Một lúc sau, chú tiểu vào dọn khay cơm và lễ phép mời chàng sang uống trà với nhà sư. Sau vài câu chuyện xã giao, thư sinh lân la hỏi về cuộc đời tu hành của nhà sư. Ông cho biết ông đi tu từ thuở nhỏ, theo thày học Phật bằng chữ Hán – vì thế được học thêm cả Nho và Lão – thuộc môn phái Trúc Lâm Yên Tử mà sơ tổ là Hương Vân Đại Đầu Đà tức là vua Trần Nhân Tông. Dòng thiền này hoàn toàn Việt Nam, do người Việt Nam sáng lập tại một ngôi chùa trên núi Yên Tử, truyền bá tại Việt Nam.

– Bạch thầy, nếu có người xin thầy cho nghe Phật pháp trong một lúc thôi thì thầy sẽ nói những gì ?

– Đức Phật thuyết pháp trong 45 năm, chỉ thuyết mà không viết. Sau khi ngài nhập diệt, có mấy cuộc kết tập để ôn lại những những lời giảng dạy của ngài. Lần thứ ba, người ta chép lại thành ba loại : Kinh, Luật, Luận, gọi chung là Tam Tạng. Thiên kinh vạn quyển, thế mà thí chủ bảo tôi nói trong một lúc thì nói sao nổi !

– Dù sao cũng xin thầy ban cho vài lời.

– Vậy thì tôi xin nói: Trên thế gian này, tất cả các hiện tượng mà người ta nhận được bằng các giác quan, đều là vô thường, nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, chẳng có gì là vĩnh cửu cả.
Mọi sự, mọi thứ – nhà Phật gọi là vạn pháp – đều tuân theo luật “thành, trụ, dị, diệt” hay “thành, trụ, hoại, không”, thay đổi có khác nhau chăng chỉ là nhanh hay chậm. Kiếp của phù du thì mau, kiếp của trái núi hẳn là lâu lắm. Dù sao, trong mỗi sát-na, thì vẫn có thay đổi, biến dịch. Đó là nói về hiện tượng, nhưng nhà Phật lại xác nhận rằng hết thảy mọi hiện tượng đều có chung một bản thể bất di bất dịch, thường hằng, vĩnh viễn. Bản thể này, các giác quan thông thường không thể “nhận thấy được”. Kinh sách có dùng một thí dụ thật hay, hay đến nỗi khó có thể tìm một thí dụ khác để thay thế được : Phật học ví các hiện tượng như các đợt sóng trên mặt đại dương ; muôn vàn sóng, mỗi mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một thứ, đó là nước. Sóng dụ cho hiện tượng, nước dụ cho bản thể.

– Chẳng hay điều ấy có ích chi cho xã hội ?

– Biết vạn pháp là vô thường thì chớ có bám víu vào làm chi. Tiền tài, danh vọng … đâu có bền. Nên tìm một cái gì vững bền hơn. Nếu cứ ham cái này, thích cái kia, đến độ ham quá, thích quá, lòng như lửa đốt thì dám làm những điều ác để thỏa lòng dục. Tham dục là gốc của khổ đau. Người con Phật được dạy “thiểu dục tri túc”, kẻ xuất gia được luyện “diệt dục”. Bản thân bớt tham, tránh điều ác, làm điều lành, như vậy, xã hội chẳng tốt hơn hay sao ?

– Tiểu sinh thấy vấn đề “bản thể” thật khó “vào” , vì có cách nào mà “thấy” đâu !

– Đó là khía cạnh tôn giáo của vấn đề. Xác nhận một điều mà không “chứng minh” điều ấy, quả thật là khó chấp nhận. Tôn giáo có giáo điều, không chứng minh ; đạo Phật có giáo điều của đạo Phật. Đó là “vạn pháp có chung một bản thể”. Nói cách khác, dùng cho Phật tử : “ai ai cũng có Phật tánh”. Phật tánh là gì ? Bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh … Không một lời nào để diễn tả “nó” được, phải “cảm”, phải “ngộ”, phải “giác” Lại hỏi “làm sao mà giác?”. Có nhiều cách, nhiều pháp môn, tùy người ta lựa chọn theo căn cơ của mình.Trong khi thầy đang đi tìm giác, thầy có nghĩ rằng xã hội đang cần thầy không ?Thí chủ dùng chữ nhẹ nhàng, người khác nói trắng ra rằng tôi là kẻ ăn bám xã hội, “trốn việc quan đi ở chùa”. Nhưng thí chủ ạ, tôi và chú tiểu hàng ngày làm việc quần quật, cuốc
xới mấy sào vườn để độ nhật, không hề ăn bám làng xóm, đồng bào. Một thiền sư đã dạy: “Một ngày không làm là một ngày không ăn”. Tôi không lên rừng, tôi không lên núi, tôi ở đây sống giữa bà con và mang lại cho bà con những giúp đỡ về tinh thần, những dìu dắt về tâm linh mỗi khi bà con cần đến.Bạch thầy, nếu tiểu sinh không lầm, thầy đã coi mọi thứ như huyễn rồi, thế thì còn lo việc hàng ngày cho mình và cho người làm gì, mệt cả thân lẫn trí ?Quả thật, giấc mộng cả đấy. Trong giấc mộng, người nằm mộng thấy mình nói thật, thấy mình nghĩ thật, thấy mình làm thật, tỉnh dậy nhiều khi toát mồ hôi. Nay mọi pháp đã là huyễn, thì xử sự như huyễn, tu như huyễn. Nhưng nói như thế làm gì mà hóa ra gàn! Đây này, có hai sự thật, sự thật thế gian và sự thật xuất thế gian, nói khác đi là: sự thật của thế
giới tương đối và sự thật tuyệt đối. Theo tuyệt đối thì thế này, theo tương đối thì thế kia. Kẻ tu hành tùy cơ xử sự mà không để mất mục tiêu của mình. Chắc hẳn thí chủ đã nghe nói về chuyện một một vị bồ-tát kia, thấy mẹ con con hổ đói quá, bèn nhảy xuống vực bố thí thân mình cho hổ ăn. Vô lý quá, điên quá phải không? Xuất thế gian là như thế, nhưng phải đi đến một trình độ nào đó, đạt đến một mức tuyệt đối nào đó, không phải chỉ mặc áo cà-sa là được đâu! Thế gian có những quy luật của thế gian, có ăn mặc, có giận hờn, buồn tủi, vui mừng… Kẻ tu hành tự kiểm soát, tự kiềm chế, điều thân, điều tâm mong ngộ rồi nhập vào bản thể – cái bản thể mà không ngôn từ nào diễn tả cho nổi, cái bản thể mà chúng tôi gọi là pháp thân.

– Bạch thầy, thế rồi việc đời sẽ ra sao ?

– Việc đời vẫn theo quy luật của vũ trụ, vẫn theo luật duyên khởi, luật nhân quả nghiệp báo, luật thành trụ hoại không. Nhưng kẻ thành đạo không hưởng cái vui giải thoát một mình đâu, vì bồ-tát đạo dạy rằng: Chúng sinh còn thì còn phải giúp chúng sinh. Cho nên có câu xắn tay áo đi vào chợ trong cửa thiền.

– Quả là hay ! Xuất thế gian mà chẳng ly thế gian. Tiểu sinh xin phép lấy việc thế gian gần đây để trình thầy: quân Lang-sa đánh phá Thăng Long, quan Tổng đốc cùng con trai, con rể quyết giữ thành, đã hy sinh cả nhà. Có một quan chưởng binh và một trăm chiến sĩ dưới quyền đã chiến đấu anh dũng và cùng bỏ mình ở ô Đông Hà. Nay đồng bào gọi ô Đông Hà là ô Quan Chưởng. Thầy có nghe thấy việc này không ?

– Mọi người nghe thấy thì tôi cũng nghe thấy. Thí chủ cho rằng tôi đã điếc hai tai chăng? Tôi đi tu, đúng vậy ; song tôi là người Việt Nam cho nên cái đau của người Việt Nam là cái đau của tôi. Có khác chăng là khác ở cách bộc lộ cái đau ấy, cách phản ứng với cái đau ấy mà
thôi.

– Bạch thầy, tiểu sinh nghe cái đau ấy là cái nghiệp, cần phải trả hết cái nghiệp ấy đi, có phải
như thế không ?

– Đúng thế, gây nhân, chịu quả, hứng nghiệp, là một quy luật bất khả dịch. Đạo Phật có dạy như vậy, nhưng không phải chỉ dạy có vậy. Cải nghiệp được mà, nhà nho nói “đức năng thắng số” mà. Gây nhân lành để tạo ra cái lá chắn đỡ mũi tên của nghiệp ác được chứ! Khía
cạnh này, thí chủ đã nghe thấy chưa?

– Đa tạ thầy đã chỉ giáo ; tiểu sinh nghe nói thoát tục nên mới mạo muội đem cái đau của dân
tộc ra trình với thầy để nghe thầy chỉ giáo, chứ không hề có ý láo xược nghĩ đến câu “thương nữ bất tri vong quốc hận” ; xin thầy hiểu cho. Thầy đã cho hầu chuyện, tuy khuya rồi, xin thầy ban cho vài điều về đất nước.

– Thí chủ quả là khéo, muốn thử ý tôi. Không sao đâu. Đối với tôi, cái ngã nó khá nhỏ, tôi không để tâm dù cho thí chủ nghĩ có rằng tôi “mũ ni che tai”. Thí chủ ạ, tiếng vẫn lọt qua mũ ni chứ!

– Bạch thầy, tiểu sinh còn ít tuổi, nghĩ ngợi chưa chín chắn. Mong thầy dạy cho vài điều về đất nước.

– Vâng, thái rồi bĩ, bĩ rồi thái. Đang bĩ thì lo xây dựng cái thái. Nhớ lại ngày đại phá Mông Cổ, đại phá Minh, Thanh, nhớ lại ngày đọc Hịch Tướng Sĩ, đọc Bình Ngô Đại Cáo… , đó là sử. Coi việc trước mắt, thấy chướng tai gai mắt, luân thường đảo lộn, thấy đau thương nhục nhã. Đó là hiện tại. Rồi tới tương lai. Nhưng tương lai ra sao? Phải có những người quân tử – gọi vậy cho tiện, khỏi phải tìm chữ khác – nhìn xa hơn người thường. Vì thế mới có câu “nhìn xa trông rộng”. Thấy đường đi nước bước của hiện tại, học các bài học của quá khứ, rồi tìm ra, nhận thấy, nhận rõ bước sắp tới, và cả một đường dài vị lai, thế mới là lãnh đạo.

– Tiểu sinh thành thực xin thầy hé cho thấy con đường vị lai.

– Không dám. Không phải ai cũng nhìn được xa. Nếu tôi nhìn được xa, hẳn là tôi đã không ngồi tu ở chùa này. Ngài Trần Khánh Dư quảy “gánh càn khôn” xuống ngàn, ngài Trần Nguyên Hãn gánh dầu đi bán, tìm bạn đồng hành – và tìm thấy – để cùng vào Lam Sơn gặp minh chủ . Các vị đó và nhiều vị khác nữa là những người khổng lồ, đã nhìn được xa hơn mà còn có cả viễn kính để nhìn xa nữa, chỉ đường cho dân tộc tiến lên. Kẻ hèn này không theo được đâu.

– Chẳng lẽ khoanh tay ?

– Không, không. Dân tộc không thể mất được nếu như văn hóa còn. Văn hóa kể từ cái răng, cái tóc, miếng ăn, đồ mặc … cho đến đời sống tâm linh. Theo tôi, mặt tâm linh vô hình mà lại hữu hiệu. Nếu không đánh mất đời sống tâm linh thì không thể mất dân tộc được. Thí chủ ạ, nếu mỗi người tìm giữ tâm linh ấy theo cách của mình thì có lẽ hay lắm. Nhà Nho mà không “hủ Nho”, nhà Thích mà không “hủ Thích”, gắng nhắm trúng cái gì bền vững nhất đối với tâm linh của dân tộc ta, thì mới là hay, là chánh, là tiến. Tôi biết nhà nho đôi khi làm thơ châm biếm chúng tôi, chúng tôi chỉ cười, chẳng lẽ chúng tôi làm thơ nói lại? Trong Phật giáo, người ta có nói đến một thời kỳ gọi là “mạt pháp”, nay chắc là thời đó, nhưng “y pháp, bất y nhân”.

– Đa tạ, đa tạ. Thầy có làm thơ, xin thầy cho nghe mấy bài.

– Không dám. Người Việt Nam nào mà chẳng làm thơ. Tiếng mình đã là thơ rồi mà. Có thiếu chăng là thiếu cái nội dung của thơ, cái hồn của thơ. Đi tu như chúng tôi, cần nhất là cái hạnh “từ bi”, nôm na là “cho vui, cứu khổ”. Cuộc đời là bể khổ nên phải học cứu khổ, mà muốn cứu khổ thì phải quên “ngã”, đồng thời biết rung động. Trước khi đến bậc bồ-tát hoàn toàn giác ngộ, chuyên tâm cứu khổ cho vui, người tu hành phải qua thời biết rung động. Từ rung động này mà hay thành nhà thơ. Nhưng phải nghe cho rõ: tôi nói “hay thành nhà thơ” chứ tôi không nói “thành nhà thơ hay”. Thí chủ muốn đọc thơ của Thích tử thì tôi xin giới thiệu thơ của Tam tổ Huyền Quang, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử.

Đêm đã khuya, thư sinh từ biệt nhà sư, về phòng nghỉ. Tuy mỏi mệt, thư sinh vẫn trằn trọc không ngủ được. Nhà sư này nói “không biết nhìn xa”, nhưng ít nhất cũng đã nhìn được gần, nhìn ra con đường đi cho bản thân, nhìn ra bổn phận đối với xóm làng và biết đau cái đau của dân tộc. Đức Thích-Ca đã nhìn được xa hơn, tìm ra đường thoát khổ cho hết thảy chúng sinh. Còn con đường của đất nước này, ai nhìn ra, ai đã nhìn ra, ai sẽ nhìn ra? Đầu thế kỷ XV, có nhà chiến lược kiêm thi sĩ đã viết nên Bình Ngô sách; thế kỷ này, có ai đây?


Sáng hôm sau, từ biệt nhà sư, chàng thư sinh lại lên đường nhưng không đi về hướng Nam Định để tìm nhà trọ, thuê lều chõng sửa soạn đi thi Hương, mà lại quay về làng. Sau đó, không ai biết chàng đi đâu. Có người nói rằng chàng đi tìm những vị biết nhìn xa.

Ngày 5 tháng 9 năm 2020
Tác giả Tôn Nữ Thóc Nâu – gửi đến Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt nam từ Califonia – USA
 

Trả lời bạn đọc 61: “Nhất vợ, nhì trời” là gì? Tại sao gọi là “Tàu Chệch”?

Thiên Đạo: “Nhất vợ nhì trời”

Địa trên Thiên dười Thái thời: Bình yên (*)

Tu là sửa, sửa hướng Tiên (**)

Duy Dương Tàu Chệch xích xiền người dân (***)!

Tác giả Việt Nho và Phu nhân

(*): “Nhất vợ nhì trời” tức đặt Âm Khôn (vợ) trên Dương Càn (trời) là đặt Địa trên Thiên là Địa Thiên Thái (Việt Dịch Vô Ngôn cần bỏ lời lấy tượng).

(**): Tu tiên là tu tâm, tư nhân, Huyền thoại “Chia Con 100 Trứng của cặp Tiên Rồng” bảo đường tu nầy là “theo Mẹ lên núi” hay “Nhân gỉa nhạo Sơn”.

(***): Câu nầy chỉ ra rằng Tàu Chệch (người Tàu qua triết thuyết của Khổng Tử đã đi chệch hướng ban đầu của Nguyên Nho/Việt Nho), thay vì chọn Tam Cương là Thiên Địa Nhân, Tàu lại chọn cái Tam Cương sai chệch là “Quân thần cương, phụ mẫu cương và phu phụ cương”. Tàu đã cải sửa con 2/3 Thủy Phong Tỉnh 010/110 để chọn chọn tham lưỡng 3/2 Phong Thủy Hoán 011/010; thay vì “nhất vợ nhì trời” (đặt số chẵn Âm (2) trên số lẻ (3) Dương, Tàu cải sửa đặt lại Dương số 3 trên Âm số 2, là Phong Thủy Hoán 011/010, khiến cho xã hội Tàu và những nước chọn hướng văn hóa của Tàu xã hội đều bị loạn, dân chúng đều bị nghèo đói, luôn thường Đạo Lý chẳng còn.

Tác giả Việt Nho – từ USA gửi cho Nghiệp đoàn giáo chức VN

Vấn đề công bằng xã hội!

Trước đây, nhà văn Hà Văn Thùy và nay, Sv. Tôn Phi của Nghiệp đoàn Sinh viên VN đều có  nhắc đến vấn đề “Tự do và Bình sản “, nhận thấy Vấn đề này là trọng điểm của nền Văn Hóa Vịệt , nên chúng tôi xin được đóng góp một số ý kiến , đây là  cách giải quyết nan đề Công bằng Xã hội.

Công bằng  Xã hội là nan đề lớn nhất của Nhân loại xưa nay, lịch sử của Nhân loại là Lịch sử của những cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt cùng với những đổ vỡ cả hai mặt về Vật chất lẫn Tinh thần.  Đó là những Bất công được gây ra  từ trong Gia đình tới ngoài Xã hội. Sự bất công đều do mỗi con Người Bất Nhân hay một Tập thể độc tài  làm ra, một bên là Cá nhân, bên kia là Tập thể, cả hai đều có liên quan đến Văn Hóa ( nếp sống) Cá nhân hay Tập thể.

Xét ra từ trong gia đình tới ngoài xã hội, mọi nan đề  đều do nạn con Người “ Lấy Mạnh hiếp Yếu “, hay  “Nạn Cá Lớn nuốt cá Bé “, hay nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “, mà gây ra nạn Bất công.

Tây phương  còn có câu:

  Patout the Delicat  ( subtle, delicate: khoan hòa nhu thuận: Văn Hóa Nông nghiệp  ) est toujours vaincu par le Grossier (: vulgar, rude: thô lỗ, bỉ tiện: Văn Hóa Du mục ): Hầu hết khắp nơi,  những người “ khoan hòa nhu thuận  “   đều bị đánh bại bởi những kẻ “ thô lỗ, bỉ tiện “

Cụ Nguyễn  Trãi đã  tóm tắt trong Bình Ngô  đại  cáo;

Lấy Đại Nghĩa để  thắng Tham tàn

ĐemChi Nhânmà thay Cường bạo

Đại Nghĩa Chí Nhânthuộc phekhoan hoà nhu thuận.< Vit Nam >

Tham tàn Cường bạothuộc phe thô lỗ bỉ tiện. < Đại Hán >

Thế mà trên thế giới chỉ có   “ Phe Châu chấu : Khoan Hoà Nhu thuậnViệt Nam  đã  nhiều  lần suốt trường kỳ  Lịch sử  5 ngàn năm đã  “ đá Xe :” Tham tàn Cường bạo Đại Hán”  ngả nghiêng !

“ Nực cười Châu chấu đá Xe

“ Tưởng rằng Chấu đổ, ai dè Xe nghiêng !”

( Ca dao )

Nguồn gốc của Nam đề

Mọi sự rắc rối trong xã hội đều do con Người làm ra ,vậy con Người  là ai, bản tính con Người  ra sao ?. Các nền Văn Hóa cũng như  Tôn giáo đều có những Định nghĩa khác nhau về con Người, vậy thử hỏi những  con người trong Nhân loại có Bản Tính đồng nhiên nơi Tiềm thức cộng thông nhân loại hay không ( collective unconsciousness  ? )

 Khi đi vào Tâm lý miền sâu thì con Người  bắt gặp được Sơ nguyên tượng ( Archetype ) về mối Tình bao la của Người Mẹ đã khắc sâu vào Tâm khảm của người con , chính nguồn Tình bao la đó giúp Nhân loại tìm đến với nhau , tìm cách ăn ở công bằng mà Hòa với nhau , khi đó mới chấm dứt được Bất công,chứ con Ngưòi cứ đem  bạo lực từ nguồn Hận thù ra cư  xử  với  nhau thì chỉ gây ra Bất công gây khổ đau cho nhau mà thôi!

Điều này cho chúng ta thấy sự quan trọng của Mối Tình bao la, vô vị lợi của người Mẹ, khi người con” Nên “ thì Mẹ thương đã đành , nhưng khi ngưòi con “ Hư “, Mẹ  lại càng thương hơn, nhờ tính chất bao dung của Tình yêu mới cảm hóa được lòng người con sai quấy..

Trong Kitô giáo có mối Tình bao la của Đức Mẹ Maria, trong Phật giáo thì có Lòng Từ bi của Quan Thế Âm Bồ tát, may thay  trong nền Văn Hóa Việt lại có Bọc Âu Cơ Tổ Mẫu bao che ấp ủ mọi con dân Việt trong Tình / Nghĩa Đồng bào với lòng Bao dung, nên Dân tộc chúng ta vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt!

Qua hàng ngàn năm Lịch sử,nhờ được ấp ủ trong Tình Nghĩa Đồng bào mà nhân dân Việt Nam đã có đủ Nội lực để  chống trả thành công nhiều cuộc chiến tranh và âm mưu   tàm thực thâm hiểm của kẻ Thù khổng lồ Bắc phương.

Ngày nay là thời đại phát triển của Khoa học, của Lý trí, nên con Người bị lâm vào  đại nạn lạm phát Lý trí và đói khát Tình yêu, , nhất là Tinh thần Duy Lý – nguồn của sự chia ly -.  Nguyên do là con Ngưòi đã đánh mất nguồn Tình kéo theo sự mất dần mối Liên hệ gần gủi với nhau.   Khi con Người có Tình thì họ mới biết lưu tâm và chia sẻ với  người khác,  để thắt chặt mối Tình thân với nhau.

 Khi đói khát Tình Yêu, đáng  lý phải trau dồi Tình yêu cho đời sống trở lại cân bằng, thì  con người  lại chỉ mê mải theo cơn lốc kỷ thuật số cao tốc, khiến cho nạn đói khát Tình Yêu ngày càng  trầm trọng thêm, làm cho  con người cô đơn thêm, xa rời nhau thêm, những mối Liên hệ  Gia đình, thân tộc, ban bè, Quốc gia  ngày một lỏng lẻo thêm!

Những computer, laptop, iPad, iPhone đã giúp cho Lý trí con Người phát triển theo cao tốc bao nhiêu, thì đồng thời cũng làm cho Tình cảm con Ngưòi  teo tóp  đi bấy nhiêu, Khoa học kỹ thuật tuy đã giúp con người nâng cao đời sống vật chất to lớn, đồng thời cũng  tách con ngưòi ra từng xứ cô đơn, khiến con người trở nên Duy Lý, mất quân bình, Duy lý cực đoan đưa con Người tới tình trạng Tham tàn và Cường bạo.

Ngoài cái hại đó, Khoa học cũng đem tới cái Lợi to lớn là giúp cho nhân loại, tuy cách xa ngàn trùng nhưng lại gần nhau trong gang tấc, nên có cơ hội hiểu nhau, thông cảm nhau hơn, miễn là mọi người duy trì được nếp sống Tâm linh và Khoa học được lưỡng nht. 

Khoa học đem lại cho nhân loại cặp bài trùng Lợi / Hại lớn lao, nên nhân loại cần  biết cách sử dụng  sao cho Khoa học và Tâm linh hợp với Dịch lý:  “Âm< Tâm linh > / Dương < Khoa họcHòa” thì  cuộc sống con Ngưòi trong Vũ trụ mới được ổn định, nghĩa là : Tâm linh / Khoa học lưỡng nhất. (Dual unit: Nhất nguyên lưỡng cực : Thái cực “Âm / Dương Hòa “

Con Người phải  thực sự sống làm sao cho Tình cảm <, Tâm linh> và Lý trí < Khoa học >  nơi con người  được cân bằng, thì mới có thể ăn ở tử tế với nhau được.   

Để cho Tình Lý tương tham , Nho đã tìm ra Tỷ lệ Hòa là :  Tình  /  Lý = 3 / 2.

Nho gọi là “ ThamThiên  (số 3 ) lưỡng  Địa ( số 2 )  nhi ỷ số “:  Tỷ lệ Hoà theo Dịch lý.

Thiên /Địa, Tình / Lý, Nhân / Nghĩa, EQ / IQ, Tâm linh / Khoa học  đều là nghịch số, là cặp đối cực của Dịch lý cần được lưỡng nhất ( dual unit: 2    1 ) để tạo ra thế Quân bình động,  hầu được Tiến bộ luôn ở trong trạng thái ổn định.

Sở dĩ Tình (chiếm 3 phần ) phải nhiều hơn Lý ( chiếm 2 phần ), là vì khi  hai bên có sự  mâu thuẩn hay xích mích nhau, nếu có được nhiều Tình hơn thì hai bên có thể tha thứ cho nhau, bao dung nhau mà tìm cách cư xử công bằng mà Hòa với nhau.  Con số 3, 2 không là con số toán học, mà là con số uyển chuyển có thể thay đổi tùy theo  từng người, từng trường hợp , từng hoàn cảnh, miễn sao hai bên dàn xếp với nhau cho ổn thỏa là được, nhưng  Tình phải nhiều hơn Lý để hai bên chấp nhận đối thoại   với nhau .

Tình cảm chính là Bản tính của con Người, khi có Tình cảm với nhau thì hai ngưòi mới yêu thương, quý trọng nhau, khi đó không nỡ nặng lời với nhau, chê bai nhau, lấn át nhau, cướp giết nhau, ta có thể  bảo rằng khi con người  “ Vô Tình “ hay  “ Bất Nhân “ thì không thể sống công bằng với nhau mà chỉ làm chuyện Bất công gây khổ đau cho nhau.

 Vậy Bất Nhân là nguyên nhân gây ra hành động Bất công ( Bất Nghĩa )  làm phương hại đến Vật chất và Tinh thần của người khác .

Đây là nguyên nhân “ Nhân vi (: Artificial )“

Chế độ Nô lệ, đế quốc Thực dân,  Công sản là 3 tai họa lớn  lao mà Âu châu đã cống hiến cho Nhân loại.

Còn một nguyên nhân quan trọng hơn thuộc  “Thiên bẩm (:innateness )“

Con người được sinh ra trên thế giới  đã lên tới hàng 8, 9 tỷ người mà chẳng ai giống ai hoàn toàn, mỗi người mỗi vẻ, nhưng mười phân chưa vẹn mười, vì chẳng ai đã được hoàn thiện:

Về  thể chất, người thì rất khỏe mạnh, người thì có sức khoẻ trung bình, kẻ khác thì lại yếu đuối không thể làm việc.

 Về Tinh thần thì có người thông minh dĩnh ngộ, có người có IQ trung bình, có người lại rất thấp. Đây là lãnh vực Thiên bẩm.

Ngày nay, nhìn vào mức thu nhập do sức lao động trí óc và tay chân của con người, chúng ta thấy sự chệnh lệch quá lớn, nhiều người cho đó là nguồn bất công duy nhất , vì họ mới chỉ nhận ra được sự bất công do Nhân vi mà không nhận ra do yếu tố Thiên bẩm mà ra.

Nhờ Thiên bẩm cao thấp mà có ngưòi làm ra mỗi giờ hàng nhiều ngàn, gia tài họ có đến trăm tỷ dollar, còn người khác thì không làm ra 1 xu, sự giàu có  của họ là nhờ tài thiên bẩm của họ làm ra mà vô số người khác không thể nào có được, ở Hoa Kỳ ông Bill Gate có đến 100 tỷ ,còn người Vô gia cư không làm ra 1 xu, đây có phải là sự bất công do Ông Bill Gate làm ra hay không, ông Bill Gate có áp bức bóc lột sức lạo đông tay chân và trí óc của Dân Hoa Kỳ không, không những không mà ông còn đem hàng chục hằng trăm triệu giúp thế giới chống với bệnh tật và nghèo đói.     Rõ ràng Sự cách biệt giàu nghèo giữa hàng trăm tỷ với 1 xu  không phải Nhân vi mà là do Thiên bẩm, nhưng con Người không thể kiện Ông Trời để đòi lại  sự công bằng  xã hội. Vậy xem ra Trời sinh ra loài người dường như bất công.

Vậy muốn giải quyết vần đề công bằng Xã hội thì chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân:

Nguyên nhân thứ nhất là Nhân vi, đó là cảnh con Người  ( thiếu con Tim: EQ ), nên áp bức bóc lột con Người như trong chế độ      Nô lệ ,chế độ đế quốc Thực dân, Phát xít, Phong kiến chuyên chế , chế độ Độc tài CS .

Nguyên nhân thứ hai là do Thiên bẩm, Thiên bẩm là nguồn động lực năng động của Nhân loại, giúp nhân loại thăng tiến cuộc sống vật chất và Tinh thần.  Những người có Thiên bẩm IQ cao ( Lý ) , nếu thiếu EQ  ( Tình ) để cân bằng thì có thể đi vào con đường bất Nhân gây ra bất Công, mà làm giàu.

Vì con Người và Xã hội là những thực thể hữu hạn trong thế giới hiện tượng, mọi sự đều tương đối,  đều biến đổi bất biến, tuy con người phải luôn hướng về Tuyệt đối nhưng  không thể đem ảo tưởng tuyệt đối vào Xã hội như Thiên đường trần gian mà làm nhà tan, nước nát , nhất là đày ải con người .

Chúng ta hãy đi vào xã  hội Đông phương xưa và xã hội Tây phương ngày nay, cụ thể là Hoa kỳ để xem cách giải quyết vấn đề Bất công Xã hội như thế nào?

VẤN ĐỀ CÔNG BÌNH XÃ HỘI

A.- NHỮNG GÌ CHÚA TRAO BAN

Chúng ta hãy đi vào Thánh Kinh để xem Kitô giáo quan niệm thế nào về Vấn để công bình xã hội?

( Trích ba dụ ngôn trong Tân Ước Mã Thi.( Mát Thêu )

 Thánh kinh hội Quốc tế xuất bản 1994 )

“ Nước Trời giống như trường hợp người Chủ lên đường viễn du, gọi các đầy tớ vào, ủy thác cho họ tài sản của mình. Chủ giao cho mỗi người tuỳ khả năng: Người thứ nhất 50 lạng vàng, người thứ nhì 20 lạng và người thứ ba 10 lạng.

Sau khi chủ lên đường, người 50 lạng lập tức kinh doanh, lời được 50 lảng. Người 20 lạng cũng đầu tư, thu lời 20mlạng, còn người nhận 10 lạng đào đất chốn dấu số vàng của chủ.  Sau một thời gian khá lâu, chủ trở về, tính sổ với các đầy tớ.

Người nhận 50 lạng đem thêm 50 lạng đến trình: “ Thưa Chủ, 50 lạng vàng chủ giao, tôi làm thêm được 50 lạng nữa “. Chủ khen: “  Tốt lắm, con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên sẽ được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta.

Người nhận 20 lạng  cũng bước đến thưa chủ: “  20 lạng vàng chủ giao, tôi làm lời thêm 20 lạng nữa. Chủ khen: “ Con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên đã được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta “.

Người nhận 10 lạng đến phân trần: “ Thưa Chủ, tôi biết chủ khắt khe, hay gặt hái trong chỗ không gieo, thu hoạch ở nơi không trồng. Vì loo sợ nên tôi tím chỗ chôn dấu vàng của chủ, và đây tôi xin giao lại số vàng cho chủ. “       Chủ quở trách: “ Anh thật gian ngoa lười biếng!   Đã biết ta thu hoạch lợi tức, sao anh không gởi số vàng ấy vào ngân hàng để khi ta về lấy cả vốn lẫn lời? “   Rồi chủ ra lệnh: “Đem 10 lạng này cho người có 100 lạng!   Vì ai có, sẽ được thêm đến mức dư dật, còn ai không có, dù còn gì cũng bị lấy đi. Còn tên đấy tớ vô dụng kia, đem quăng nó vào chỗ tối tăm, đầy than khóc và nghiến răng! “

B.- Ý NGHĨA CỦA LẠNG VÀNG

I.- Ý nghĩa của dụ ngôn theo Việt Nho

Trước khi viễn du, người Chủ  gọi đầy tớ đến rồi giao Vốn cho các tôi tớ  “ làm Lời “: Đây là ẩn dụ nói về việc Chúa sáng tạo ra loài người hay cách khác là con người được bẩm thụ từ Thiên Chúa: Người thì được Chúa ban phát 50 lạng, người thì 20 lạng, người thì 10 lạng.

Các lạng đây chỉ về  Thể chất và Tinh thần mỗi người lãnh được từ khi Cha mẹ sinh ra, tức  cũng là từ Chúa trao ban cho.. 

II.- Thiên Chúa tạo ra con người dường như bất công

Khi giao cho đầy tớ – con cái Chúa – , mỗi người một số Lạng khác nhau, người thì 50, kẻ 20, người khác thì 10, nên về Trí tuệ, người thì thông minh, người thì có sự hiểu biết trung bình, người thì u tối, về Thể xác người thì khỏe mạnh, kẻ thì gầy yếu, người là lực sĩ, kẻ lại tật nguyền, vì thế mà những con người trong nhân loại đã có Tư cách và Khả năng khác nhau ( do sự bẩm thụ khác nhau ) được diễn ra dưới muôn hình muôn vẻ.  

Do Thiên bẩm khác nhau, mà có kẻ Thông minh, người kém hiểu biết, kẻ Giàu người Nghèo, kẻ Sang người Hèn, kẻ lành người dữ, người thì làm ra mỗi giờ hàng ngàn, kẻ thì không làm ra một đồng xu, đưa tới cảnh “ Người ăn không hết, kẻ thì lần không ra “ .

Ngoài ra, có  một số người với Thiên bẩm trội hơn, tuy đã có đời sống sung túc, nhưng lại còn dùng ưu thế của mình để áp bức bóc lột người thấp cổ bé miệng để làm giàu thêm, gây nên muôn vàn bất công trong xã hội.  

Vậy nguồn gốc của mọi Bất công làm rối loạn xã hội xưa nay đều do hai nguồn: Thiên bẩm và Nhân vi.

Thế mà xưa nay hầu như người ta chỉ lưu ý tới nạn Bất công do Nhân vi, mà không nhận ra nạn Bất công cũng đến từ gốc Thiên bẩm.

III.- Con Người phải sống như thế nào

trong môi trường Xã hội dường như bất công?

Mỗi người được sinh ra ngoài sự lựa chọn của Cha Mẹ mình và chính mình, có hỏi Trời Trời  cũng chẳng nói, vậy con Người biết làm sao đây ngoài việc tìm cách hành xử thích hợp với môi trường để tồn tại và phát triển.

Ngoài sự bất công nơi loài người như thế thì trong vũ trụ cũng chẳng khác, mặt đất thì chỗ Cao nơi Thấp, nước bao giờ cũng chảy trên Cao xuống Thấp, gió cũng di chuyển từ nơi Áp suất Cao tới Áp suất Thấp, dòng điện cũng vận chuyển từ Điện thế Cao tới Điện thế Thấp, . . . tất cả đều nhắm khỏa lấp bớt sự cách biệt, nhưng nhờ có cách biệt mới  có sự Biến hoá, chứ khi mọi thứ đã san bằng rồi thì Vũ trụ hết Biến hoá, sự sống sẽ bị tiêu diệt.

Vậy sống trong thế giới Hiện tượng, mọi sự đều biến hóa không ngừng, con Người phải nương theo Thời tiết, nương theo định luật Thiên nhiên để tồn tại và phát triển.      Con người được sinh ra với Bẩm sinh khác nhau dường như bất công, lại sống trong mội trường Vũ trụ cũng xem ra cũng bất công, nên con Người không có cách nào hơn là phải sống hoà nhập vào hiện tưọng Thiên nhiên, sao cho đỡ bất công để mọi thứ được giao hoà với nhau nhất là hòa cùng tiết nhịp Tiến hoá của vũ trụ, có như thế thì mới giúp con người được phát triển toàn diện. Là một trong Tam tài,là  “ Nhân linh ư vạn vật “, nên con Người phải tìm cách thăng hoa cuộc sống để được tiến lên trong ba đợt:

Một là con người Chất thể chung với con vật lo về ăn, măc, ở và làm, cốt để giữ đời sống sinh lý hoàn toàn ngoại vi.

Thứ đến con người Văn hoá lo về Lý trí, Tâm tình, Văn học, Nghệ thuật, Thi ca, Nhạc, Họa. . . Đây là đợt riêng biệt cho con người.

Đợt ba con người Tâm linh lo đi đến chỗ “ chí Thành như Thần” . Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn Nội tâm, con mắt không thấy được, nên cũng gọi được là Vô, là Trống, như ta có thể thấy rõ trong Trống Đồng có 3 vòng Thiên, Địa, Nhân này. Người lý tưởng phải gồm được cả ba.   Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. 

Văn hoá trọn vẹn phải lo cho mọi người no đủ, vì đói thì chẳng làm được gì về Văn hóa Văn học cả, nên Văn hoá nào không móc nối con người sinh lý là nền Văn hoá nguy hại, nhất là làm cho con người mất khả năng mở lên đợt ba thì rõ ràng là thiếu nguyên lý Mẹ, mà nguyên lý Mẹ ( Trọng Tình hơn Lý ) rất dễ mất, vì là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.”      

( Thái Bình Minh Triết. Kim Định. Tr.46 – 47 ).

Nếu không có thế giới hiện tượng “ Nước lỏng chảy Xuống, Hơi nước bốc Lên “ như thế, thì con người không có môi trường tiến hoá để vươn lên đời sống siêu việt, thì làm sao con Người được xứng danh là  con cái Thượng Đế.

Khi được sinh ra thì con người mới còn là con người “ Quỷ / Thần chi hội “ hay con người đang thành “, nên Công việc làm Người ( Vi Nhân ) cho đạt tới vị trí Người còn vô cùng khó khăn, nhưng cũng rất cao cả.  Có phải đây là Ý của Chúa muốn mọi con cái của Ngài phải biết sống theo cách “ Vâng Ý Cha dưới Đất cũng như trên Trời “? Ý Cha là con Người phải thực sự  “ yêu mọi Người “ và trước tiên là phải “ mến Chúa hết Lòng và hết Trí  khôn “. Có Vi Nhân được như thế thì con Người mới hành xừ với nhau được tương đối công bằng.

IV.- Đâu là Ý của Thượng Đế

Theo Việt Nho thì Ý của Thượng Đế chính là Thiên lý, mà Thiên lý là Dịch lý tức “ Chân lý ngược chiều” được vận hành trong vũ trụ: Tâm linh và Khoa học là chân lý ngược chiều, như khi thở Vào thì phổi đầy không khí, khi thở Ra thì không khí chẳng còn, trong cuộc sống con người cũng thế, muốn tồn tại ở trần thế  thì ta phải Chấp, phải chiếm hữu, nhưng khi muốn trở về nguồn Tâm linh là nguồn Vô nên phải Phá, bỏ hết mọi sư, có biết sống nhịp nhàng cân bằng giữa cặp đối cực Chấp / Phá ( Receiving / Giving ) như thế thì mới thuận Thiên, Cha ông chúng ta đã bảo: Mọi sự Có mà như Không, Không mà lại Có, con người phải nhận ra sự biến hoá không ngừng trong Vũ trụ để nương theo đó mà tồn tại và phát triển được. 

Môi trường sống và con người đều chứa sự bất công, nhưng nhờ sự mất cân bằng mới có biến hoá, có biến hóa mới tiến bộ, nên con người cũng phải nhịp theo Thiên lý mà làm giảm bớt sự bất công để lập thế quân bình động – Thế Hòa giữa hai đối cực –  đó là sứ mạng của con Người phải sống theo Dịch lý.

Mặt khác con người không thể dựa vào những Lạng được trao ban, mà chiếm ưu thế sống riêng cho mình, phải dựa vào số nhân lãnh mà “ làm Lời “ mà đóng góp chung cho cuộc sống Hòa.  Lời ( receiving ) ít thì phải Cho ( giving )  ít, Lời nhiều thì phải Bù nhiều. Con Người cũng không thể dựa vào số Lạng mà phân biệt cao thấp sang hèn, mà dành phần ăn trên ngồi trốc, Chuá Giê-su đã phán xét rõ ràng.

Những con người thông minh mẫn tuệ, mà không làm gì cho xã hội để khỏa lấp bớt bất công xã hội để giúp mọi người sống hoà với nhau là nghịch Thiên lý.

Đó là công việc Vi Nhân theo nghịch số, đây là công việc vô cùng khó khăn, nhưng với  con Chúa là con người Nhân chủ, biết tự lực tự cường và  sống thuận theo Thiên lý thì đạt Đạo, con người trở nên rất cao cả .

Cha ông chúng ta đã bảo Thiên chúa, Thượng đế là Hoá nhi, mà “ Hoá nhi đa hý lộng” , nên trong cuộc sống con người phải rất uyển chuyển mà hý lộng theo, có khi xem những cái nhỏ còn quan trọng hơn những cái lớn,( Vật khinh hình trọng ) đó là những cái sảy nảy ra cái ung, có khi lại xem  “ cái Không “ quý hơn “ cái  Có “, như bức tranh vô giá, vô giá là nhờ vào cái “ Hồn” chính là cái “ Vô “  của bức tranh. Vẽ tranh không chỉ vẽ cái Xác mà còn “ phải vẽ làm sao cho nổi lên “ được cái Hồn của bức tranh thì mới đạt nghệ thuật. Thời này nhiều người tôn vật chất làm chủ ( vật chủ ), họ đấu tranh, chèn ép, dành dật, cướp giết nhau cho thêm vật chất dư dật tích trử đấy kho chật lẫm, trong cảnh xã hội tràn ngập bất công, làm cho con người khổ đau. chỉ vì họ chỉ còn cái Xác mà đã đánh mất cái Hồn.

Vì không hiểu Thiên ý hay Lý nghịch số, nên triết gia thượng thặng ở Âu châu như Platon chấp nhận chế độ nô lệ, cho rằng nếu không có nô lệ thì lấy ai làm việc, vì giai cấp thượng lưu, giai cấp qúy tộc tự cho mình là những người thượng đẳng có quyền “ ngồi mát ăn bát vàng”. 

Còn Chúa Giê- su thì ngược lại, Ngài cũng lao động, cũng sống đời sống bình thường như mọi người. Ngài bênh vực những người bệnh tật khốn khổ, khó nghèo, tội lỗi để xoa dịu bớt cảnh bất công.  Ngài bảo hàng giáo phẩm phải phục vụ đoàn chiên, phải rửa chân cho đoàn chiên,- những người bị thất thế – , có lẽ không phải một năm chỉ rửa chân tượng trưng một lần, mà thường xuyên.    Đáng lẽ các vị lãnh được nhiều lạng phải lưu tâm đem số Lời của mình vào việc  khỏa lấp bớt bất công xã hội, Những thành phần giàu có, quyền thế cứ thản nhiên tạo ra thêm bất công, nên mới nảy sinh ra chế độ CS. 

Vì thấy bất công xã hội làm khổ con người khôn xiết, nên những người CS đầy nhiệt huyết gấp rút xoá bất công xã hội, để mưu hạnh phúc cho con người. Họ giết một số người để mưu hạnh phúc cho một số người, họ tước bỏ quyền Tư hữu của mọi người để họ ban phát sự sống cho mọi người, họ tước quyền được ăn ( Tư hữu ) và được nói (  quyền Tự do ) của con Người.  Quyền Tư do và Tư hữu là Thiên tính, nên họ đã mặc nhiên thay Thượng Đế để cai quản loài ngườ!!.

Họ chỉ biết bất công “ phn nào “ do loài người làm ra,  ( Nhân vi ) mà không biết đến phần bất công khác là do Thượng đế chủ ý đã tạo ra con Người  ( Thiên bẩm ) trong môi trường bất công để buộc con Người phải tu Thân mà trở nên trọn lành, Con Người không trở nên trọn lành thì không xứng là con cái của Thiên Chúa, họ không thể hành x Công chính với nhau nếu thiếu lòng Bác ái.    Còn CS thì cổ võ Hận thù, hành động đại bất công để giải qưyết những bất công giả tạo.  Là kẻ vô thần, họ đâu có biết Thượng Đế tạo ra con người trong môi trường sống động như thế để con người có cơ hội phát triển hết khả năng của mình mà hoàn thành sứ mạng Hòa làm cho con người cao cả, xứng với địa vị con cái Thượng Đế.   Từ chối không làm chuyện đó thì con người không thoát khỏi lốt ngợm!.

V.- Nan đề Bất công xã hội

Nan đề muôn thuở của con Người và xã hội vẫn là sự bất công trong gia đình và ngoài xã hội: Người ta chỉ biết một số bất công do cách ăn ở của con người tạo ra trái với Dịch lý, còn sự bất công qua số Lạng nhận lãnh từ Thiên Chúa thì không biết đến, nên cách ứng xử của con người với vấn đề bất công xã hội không thể giải quyết ổn thỏa.

Một số trong Giai cấp thượng lưu, giai cấp quý tộc, nhất là đế quốc thực dân, giai cấp địa chủ  tuy nhờ Thiên bẩm mà có đời sống Tinh thần và Vật chất cao hơn, đáng lý họ cũng nương theo luật Thiên nhiên, biết lấy Nhiều bù Ít, lấy Mạnh giúp Yếu, lấy Lành cảm Ác, nhưng một số đã   không lý tới nguồn gốc sự bất công đã có trong xã hội mà còn tạo ra bất công làm khốn khổ con người.

Còn CS thì không biết đến sự bất công từ Thiên bẩm, mà cào bằng tất cả, tước đi Thiên tính của con người đưa tởi cảnh con người bị đày đọa!

Vấn đề là không thấy được nguồn gốc của bất công là do Thiên bẩm và cũng do con Người, nhất là không hiểu rõ Thiên lý tức là Dịch lý nghịch số để có nhng ứng xử thích hợp.    Không thấy được con người muôn màu muôn vẻ về tư cách và khả năng khác nhau thì làm sao mà đòi hỏi được sự công bằng tuyệt đối trong xã hội. Một người làm một giờ được hàng trăm hàng ngàn, còn người khác thì không làm ra một xu, thì công bằng làm sao đây?

Nhưng mặt khác không lo tìm cách giảm thiểu bất công xã hội  thì xã hội cứ tranh đấu cướp bóc nhau, đâm chém nhau mà gây đau khổ cho nhau, thì rốt cuộc dẫn nhau xuống hố.

Những giải pháp cấp tốc theo lối Pháp trị chay ( thiếu Hiến pháp Nhân bản ) , theo lối độc tài sắt máu, lịch sử  cho thấy  đã bị phá sản hoàn toàn  !

Chỉ khi nào mọi người nhận rõ nghịch số của Dịch lý mà hành xử  thuận theo Thiên lý làm cho hai đối cực bớt cách biệt mà Hoà với nhau thì mới ổn thỏa.

Chỉ có những người sống thực sự theo tinh thần  Hòa của Tôn giáo mới giải quyết được nan đề, nhưng khổ thay nhiều khi Tôn giáo chỉ “ Lấy Đạo tạo Đời   “ nên cũng vô bổ.

Căn bản vấn đề là: Con người bất toàn với Tư cách và Khả năng khác nhau, nếu cứ theo đà » mạnh  được yếu thua, kiến ăn cá cá ăn kiến  «  thì cả hai phía người giàu kẻ nghèo sẽ dồn nhau vào chỗ chết, CS là một ví dụ.   Chỉ có con người biết chấp nhận nhau là những con người bất toàn giúp nhau sống tương đối công bằng với nhau  để sống hòa với nhau mới ổn, không thể đem tinh thần cực đoan như CS  ra mà cư xử với nhau!.

Muốn thực hiện cuộc sống công bằng với nhau thì tiên vàn mọi  người phải đều biết tôn trọng nhau, vì đều là con Chúa, con Phật, là tinh hoa của Trời Đất, nên phải yêu thương  nhau, chấp nhận những dị biệt của nhau mà tha thứ cho nhau, và ăn ở theo lối hai chiều : «  có Đi có Lại, phải Người phải Ta « thì mới đi đến chỗ Hoà mà sống yên vui với nhau được.

Nho giáo có  “ Nhân/ Trí, Hùng / Dũng,”  Phật giáo có “ Bi / Trí, Dũng, hay Từ Bi/ Trí tuệ  Hỷ xả “, Kitô giáo có  “ Bác Ái / Công bằng và Tha thứ “.

Mọi người có thực sự sống kết hợp với những giá trị cao cả đó thì mới giải quyết nổi vấn đề. 

Vấn đề chính là mọi người phải tu dưỡng lòng Nhân hay lòng Tư bi hay Bác ái, khi có yếu tố căn bản này thì mọi điều khác như chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau  mà ăn ở tương đối công bằng với nhau đều có thể thực hiện được.

Vì vậy cho nên nan đề của nhân loại vẫn là quên đời sống Tâm linh và cách hành xử hai chiều với nhau trong gia đình và xã hội.

Chỉ khi nào có con người Nhân chủ có đủ Nhân, Trí, Hùng – Dũng để biết cách sống «  Dĩ Hoà vi quý «  thì mọi vấn nạn của con người Bất Nhân và xã hội Bất Công mới giải quyết được. 

Đó mới chỉ là lãnh vực cá nhân.

Nan đề của Nhân loại ngày là coi nhẹ đời sống Tâm linh, nhưng Tâm linh  ( Quy tư: EQ: feeling ) và Khoa học ( Suy tư : IQ: thinking ) là cặp đối cực cần luôn được quân bình: EQ /IQ 1

 Có Tâm linh mà Khoa học kém cỏi thì không thể “ ăn nên làm ra “, có Khoa học mà thiếu Tâm linh tức là đánh mất Lương tâm thì Khoa học sẽ “ hủy diệt Nhân loại”.

VI.- Công  Bằng tương đối

Do số Lạng“ nhiều ít đầu tiên được nhận lãnh từ Thiên Chúa “ mà con người không thể có công bằng tuyệt đối trong thế giới hiện tượng tương đối. Nhưng chỉ trong thế giới hiện tượng tuơng đối mà con người có môi trường để Vi Nhân bẳng cách hoàn thiện những thứ bất toàn. Nhiệm vụ cao cả và khó khăn nhất của nhân loại là khi sống trong thế giới bất toàn phải tổ chức thế nào để cho ai ai cũng có điều kiện sống hợp với nhân phẩm. Đó là nhu yếu thâm sâu của mọi con người: Quyền có Ăn và quyền được Nói.

Chúng ta nên nhớ, Nho định nghĩa : Con Người là “ Thiên Địa chi Đức , con Người là tinh hoa của Trời Đất,Trời ( Thiên )thì vô biên, nên con Người cần phải có Tinh thần  “ Tự do “ để phát trìển, còn Đất ( Địa ) thì hữu hạn, nên mọi con người  cần phải có Vật chất  để nuôi sống tức là phải có “ Bình sản” . Phải có hai nền tảng Tự do và Bình sản thì mỗi con Người mới  phát huy được phẩm giá của mình ( Nhân / Nghĩa Bao dung ) để sống Hoà với nhau .

Nhân loại đã thất bại triền miên trong công cuộc Vi Nhân căn bản này. Ta nên nhớ con người là một trong Tam tài, nên phải hành kiện như “ Thiên hành kiện bấttức: Trời hoạt động không ngừng nghỉ qua các Hiện tượng biến hoá trong thiên nhiên, nên con người cũng phải làm việc không nghỉ ngơi để tạo ra của cải Vật chất và của ăn Tinh thần. Làm ra cái Ăn là một trong nhu yếu nền tảng của Nhân quyền, khi bảo vệ được cái Ăn thì có Nhân quyền, cái Ăn cũng được gọi là quyền Tư hữu.

Trong chế độ Tư bản thì quyền Tư hữu tuyệt đối, nên những người nhận được nhiều lạng lại có quá nhiều Tư hữu, mà người ít lạng thì lại không có cái Ăn, trở thành Vô sản, nên vô Nhân quyền bị tổn thương nên phải lập ra chương trình An sinh xã hôi để  điều hoà hố cách biệt giữa giàu và nghèo

Còn trong chế độ CS thì quyền Tư hữu bị tước sạch để làm Công hữu, tuy có Làm nhiều mà Hưởng ít, con người trở thành Vô sản như súc vật, Nhân quyền bị tước.

Nan đề của nhân loại hiện nay vẫn là quyền Tư hữu. Mỗi cá nhân nhờ hoạt động của  Trí óc và Tay chân mà sản xuất ra của cải gọi là quyền Tư hữu. Sản vật do Trí óc và mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì mình có quyền hưởng mà không ai có thể tước đoạt, chỉ những tài sản nào không do công lao của mình mà chiếm lấy thì mới bất công.

 Giàu Nghèo mà do bóc lột và bị bóc lột mới bất công. Những người giàu dùng mưu gian và quyền thế để bóc lột kẻ nghèo mới bất công, còn người nghèo vì lười biếng mà nghèo thì cũng chẳng do bất công.

Nhưng sống trong xã hội mà kẻ nghèo thì đông mà người giàu thì ít , nếu người giàu không biết san sẻ thì vấn đề CS sẽ nảy sinh .Do  đó mà  cần có Lòng bác ái, Lòng Tư bi cũng như Lòng Nhân ái, chỉ với những người có Tình yêu cao cả như thể  mới biết chia sẻ với người thất thế trong cuộc sống, nhưng vấn đề  Công bằng tương đối trong xã hội lại thuộc về trách nhiệm của nhà cầm quyền.

Trong xã hội mà người nghèo thì đông , người giàu thì ít, công việc Từ thiện, Bố thí mới chỉ là tiểu Ân cần  cho nhất thời, còn việc thực thi công bằng xã hội tương đối mới cứu được nhân phẩm mọi Người trong dài hạn, mọi người phải có cơ hội và phương tiện phát triển Tư cách và khả năng và đồng thời phải có công ăn việc làm mới duy trì được phẩm giá của con Người .

VII.- Công bằng tương đối trong Xã hội Nông nghiệp

và Kỹ nghệ

Thế mà trong chế độ Nông nghiệp thô sô, Cha Ông chúng ta đã biết lấy Công điền Công thổ  để  điều hòa giữa Công và Tư hữu để giúp cho những người bất hạnh có cuộc sống  tương đôi xứng với Nhân phẩm.

Trong chế độ Nông nghiệp xưa tại miền Bắc và miền Trung, Công điền và công thổ trong mỗi làng chiếm hơn một nửa.     Tổ Tiên Việt đã có phép Tỉnh điền, dùng Công hữu ( Công điền  công Thổ) để điều tiết với Tư hữu hầu giảm bớt khoảng cách giữa Giàu Nghèo.

Công hữu này đưọc cấp phát cho những người thất thế, những cô nhi quả phụ, nhng người tật nguyền, mỗi người đều được cấp phát một số sào ruộng để họ “ tự canh tác lấy “  mà sống, không ai có thể dùng miếng ăn để bắt nạt họ. Còn ngưòi tật nguyền thì lấy ruộng đất được cấp phát cho “ Rong canh “ tức là cho người khác  cày cấy để thu tô tức là thu một số thóc, tuy là ít nhưng họ không có bị chết đói.

 Đây là cách giải quyêt vấn đề Công bằng tương đối trong xã thôn ngày xưa.

Trong xã hội Kỹ nghệ Tây phương nhất là Hoa kỳ đã dùng thuế Lũy tiến,tức là lấy Tư hữu đóng góp vào Công hữu để thiết lập những tiện nghi công cộng cho mọi người chung hưởng,nhất là thiết lập Quỹ An sinh xã hội để giúp những người thất thế về trợ cấp xã hội cũng như bảo hiểm y tế giúp họ được sống như là một con người có Nhân phẩm, ngoài ra còn giúp huấn nghệ cho họ sống tự lập được.

Gỉải pháp Hòa: Thiên bẩm / Nhân vi lưỡng nhất

Lấy Nhiều bù Ít, lấy Cao bù Thấp , lấy Mạnh bù Yếu  “ theo Dịch lý “. ( khác với lối của XHCN )

VIII.- DỊCH LÝ “ ÂM / DƯƠNG “  

với “ TỶ LỆ HOÀ= 3 / 2 “

( Tham Thiên < 3 >  / Lưỡng Địa  < 2 > nhi ỷ  số )

Theo Nho thì Dịch được định nghĩa là : Nghịch số chi Lý: Dịch được cấu  tạo bởi các cặp đối  cực ( Nghịch số  ), khi cặp đối cực  lưỡng nhất thì mới đạt trạng thái Quân bình động ( Dynamic equilibrium ) để tiến bộ trong trạng thái ổn định.

1.- Những nghịch lý trong Vũ  trụ

Cơ cu không gian: Các cặp đối cực Trên / Dưới, Trong / Ngoài cần được lưỡng nhất để tạo nên không gian 3 chiều. ( trinity )

Cơ cấu Thời gian: Quá khứ / Tương lại cần được Lưỡng nhất nơi Hiện tại  ( Hiện tại miên trường : ever present ) tạo nên Thời gian 3 nhịp ( trinity ).

                       2.- Những nghịch lý trong mối Tương quan giữa các cặp Đối cực.

Khi các cặp đối cực có được Lưỡng nhất thì mới duy trì được mối Tương quan 2 chiều tức là mối tương quan Hòa.

Nho đã tổng quát các  cặp đối cực lưỡng nhất thành Dịch lý “Âm  / Dương Hòa

Nên nhớ, tuy Tàu có Dich với 64 quẻ, nhưng Dich Tàu thiếu Gốc Âm, chỉ có độc cực Dương :Rồng, mà độc Dương lại bất sinh, nên làm sao mà Tàu có Dich “Âm / Dương Hòa được? Do đó mà chúng ta hiểu được:

Vì độc Dương nên Văn Hóa Tàu trở nên bạo động,gây chiến tranh, cướp bóc và bành trướng, Dịch  64 quẻ của Tàu chỉ để Bốc phệ: Nhâm, Cầm Độn Toán, chứ không liên hệ gì  đến Dịch lý về  Quốc kế  Nhân sinh.

Nho  bảo “Âm / Dương Hòa “ là  “ Vi ngôn đại Nghĩa  “ tức là lời nói vi diệu mang bản chất  “Đại Nghĩa tức là lẽ Công bằng  xã  hội tương đối cho mọi Người“.

Lời nói này sở dĩ vi diệu là vì không thể   “ hiểu rõ ( thingking ) chỉ bằng Lý  “ mà con phải  “ cảm nhận, thể nghiệm  ( feeling,experiencing )  bằng Tình “, vì là “ Tình / Lý lưỡng nhất “  hay “Tình / Lý tương tham “.

Lấy  một ví dụ để gợi ý:   Khi hai Vợ  /Chồng sống chung với nhau  sao cho “ Tình / Lý tương tham hay Lưỡng nhất hay Hài hòa “ nghĩa là hai bên yêu nhau thật lòng  ( Tình ) và ăn ở công bằng với nhau  ( Lý )  thì hai bên đều cảm thấy Hoà vui hạnh phúc , nghĩa là cuộc sống hai bên đã thăng hoa, đã vượt  lên trên Tình / Lý mà cảm thấy lâng lâng hạnh phúc bên nhau, cảm thấy du dương  như nghe Hòa âm của dòng nhạc .

Nếu không hiểu được ( bằng Lý ) và đồng thời cảm nhận được ( bằng Tình ) thì khi nghe nhắc đến câu “Âm Dương Hòa hay  lưỡng nhất “ sẽ khó liễu hiểu.

 3.-Nghịch Lý trong Bản tính con Người

Nho định nghĩa: Nhân giả kỳ : Thiên / Địa chi Đức 

Nhân = Thiên / Địa = Tinh thần /Vật chất =

 Tự do / Bình sản ( lưỡng nhất )

 * Tự do:

Tự do hàng Dọc ( thuộcThiên ) thì vô biên: Đó là Tinh thần  thuộc Tự do Tôn giáo, Tự do Văn Hoá, nền tảng của  Nhân quyền

Tự do hàng Ngang (thuộc Địa ) thì hữu hạn, đó  là  Bình sản thuộc Vật chất, nền tảng của  Dân Quyền.

Để người dân làm nhiệm vụ công dân là làm nghĩa vụ quận sự để giữ nước và đóng thuế để dựng nước thì nhà nước phải cung cấp phương tiện mưu sinh cho công dân, trong nông nghiệplà cấp ruộng đất để những người có cuộc sống khó khăn để họ tự canh tác mà mưu sinh hầu giữ được nhân phẩm, trong các nước công nghiêp thì trợ cấp bằng tiền bạc để nuôi sống và huấn nghệ để họ sống tự lập.

Nhân quyền / Dân quyền cần được lưỡng nhất theo Dịch lý thì  Nội lực Dân tộc  ( Dân sinh / Dân Trí  ) mới phát triển giúp cho Dân giàu Nước mạnh.

*Bình sản:

Bình sản = Công hữu ( C.S )  / Tư hữu  ( T. B ) lưỡng nhất thì mới giúp cho mọi người có điều kiện sống xứng với Nhân phẩm  mà hoà với nhau. Có điều hòa làm sao cho ai ai trong Xã hội có cuộc sống xứng với Nhân phẩm thì mới tương đôi ổn định.

4.- Nghịch lý trong Chế độ Xã hội.

Chế độ Dân chủ có mối Liên hệ 2 chiều qua lại, nên Âm / Dương Hoà .

Chế độ Độc tài có mối Liên hệ một chiều từ trên xuống, nên Âm / Dương bất Hòa.

5. – Nghịch lý trong Sinh hoạt Dân chủ

Khi thành lập Đoàn thể  hay bất cứ Tổ chức nào hay Quốc gia thì phải có nguyên tắc sinh hoạt:

a – Thiểu số phục tùng Đa số: khi hội họp để bàn thảo bất cứ vấn đề  chung thì thiểu số có  phục tùng Đa số thì công việc chung mới tiến hành được .

             b.- Đa số phục tùng Thiểu số:   Đây là vấn đề thông thạo, hiểu biết vấn đề (: Competency:an important skill that is needed to do a job: ), hàng triệu y tá không thể chữa bệnh bằng  một ông Bác sĩ , vì Bác sĩ thộng thạo về bệnh tình hơn Y tá.6.-Dịch lý trong Tam quyền phân lập

Tối cao Pháp viện có nhiệm vụ duy trì công lý nhờ yếu tố competency.

Do đó mà sinh hoạt trong  cả ba ngành: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp đều theo nguyên tắc  Thiểu số phục tùng Đa số , nhưng  trong ngành Lập pháp  cũng như  Hành pháp <  cả  hai đều Đa số> thì Lập pháp và  Hành pháp phải phục tùng phán quyết về luật pháp của Tối cao pháp viện.

Phải kết hợp làm sao cho cặp đối cực :

Thiểu số phục tùng Đa số / Đa  số phục tùng Thiểu số lưỡng nhất: nền tảng của Dân chủ.  

Lập pháp / Hành pháp Lưỡng nhất :  Tối cao pháp viện

7.- Dịch lý trong việc Tuyển Hiền

  Phiếu Dân bầu / Phiếu Cử tri đoàn

Trong chế độ vua quan ngày xưa, khi ông Vua tìm người hiền tài  ( có Tư  cách và  Khả  năng ) ra lo việc nước thì gọi là tuyển Hiền, trong chế độ Dân chủ ngày nay  thì tuyển Hiền bằng cách Ứng cử và Bầu cử từ cấp địa phương tới trung uơng.

Trong việc bầu cử Tổng thống thì gồm có hai loại phiếu bầu: Phiếu Dân bầu  ( popular vote ) và phiếu Cử tri đòan  Cử  tri đoàn là những người có đóng góp nhiều cho Đảng hoặc các quan chức dân cử của bang hoặc lãnh đạo của Đảng đó hoặc là người có quan hệ chính trị hoặc cá nhân với ứng viên tổng thống của đảng mình. Họ thuộc thành phần thiểu số  ( competency )am hiểu  Quốc kế Dân sinh, còn thành phần Dân bầu tuy thuộc đa số nhưng không quan trọng  bằng Cử tri đoàn, cho nên  khi bầu Tổng Thống, gặp  Ứng Cử viên  nào tuy thua phiếu Dân bầu mà thắng phiếu Cử tri đoàn thì đắc cử Tổng thống

Trong cuộc tranh cử  hiện nay, có ứng viên Tổng Thống đòi thải  bỏ phiếu Cử tri đòan, tức là loại bỏ thành phần competency trong Cử tri, Ứng cử viên này đã dẫm lên lốt chân của CS, vì lấy số đông hỗn tạp để loại trừ thành phần thiểu số   hiểu biết !

8.- Dịch lý trong Cơ  cấu  Văn Hoá và Tôn giáo

Nho giáo : Nhân / Nghĩa Lưng nhất : Bao dung  ( Hòa )

Phật giáo: Từ bi /Trí tuệ lưỡng nhất: Hỷ xả (Hòa )

Kitô giáo:Bác ái/ Công bằng Lưỡng nhất : Tha thứ ( Hòa )

Hiến pháp của Hoa Kỳ: Bác ái / Công bằng1 (Dual unit)

Bản chất của Văn Hóa Việt và các Tôn giáo như Phật giáo Kitô giáo là HÒA

 Tôn giáo mà gây chiến tranh với nhau là Tôn giáo  đã  đánh mất Bản chất Hòa.

9.-Dịch lý về sinh hoạt của Đảng phái trong Chính trường.

Trong chế độ Dân chủ Hoa kỳ hiện nay giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ còn có những bất đồng về Thuế má,về ngưòi nhập cư bất hợp pháp, về việc kiểm soát súng ống, về việc phá thai. . .   Sở dĩ có sự bất đồng như  vậy là do sự cảm nhận và suy tư khác nhau về mức độ  Bác ái và Công bằng  nơi Hiến pháp.a.-Việc phá thai

Một  bên thì chủ trương cho phá thai, cho là quyền lựa chọn của phụ nữ ( Pro – choice ), cứ ăn chơi thả giàn, khi người nữ có mang, gây bất tiện cho cuộc sống thì chính quyền giúp điều kiện giết đi cho đỡ rắc rối .    

Một bên Pro – life ( No abortion ) / bên kia Pro – choice ( abortion  (yes)  = No / yes = 0,  hai bên đối kháng nhau, nên gây ra rắc rối cho nhau.

Muốn cho Pro – life / Pro – choice = 1 ( lưỡng nhất theo Dịch lý ) thì hai bên phải điều chỉnh lại mối liên hệ sao không gây  khốn khổ cho nhau, nghĩa là chỉ có  sex,khi đã lập Gia đình.

Nên nhớ con Trai là một Thái Dương với  “ Dương trung hữuÂm căn “, ( the femine principle within the man; Carl Jung ) ngược lại con Gái là một Thái Âm với “ Âm trung hữu Dươngcăn “ ( the masculine principle within the woman ), nên Thái Âm và Thái Dương phải lưỡng nhất để thành Thái cực, do đó ngưòi con Gái và con Trai phải giao phối với nhau cho 2 thể xác và 2 Tâm hồn kết hợp làm một mới được phát triển viên mãn cho quân  bình, nhờ  đó mà mỗi con Người là một tiểu Vũ trụ hay tiểu Thiên Địa.

 Khi hai ngươi Nam Nữ có thực sự yêu nhau thì mới giao hợp.  Giao hợp là một cuộc Tế lễ  linh thiêng, hai bên phải thành khẩn hiến dâng trọn ven Thể xác và Tâm hồn của nhau làm một để bổ túc bản chất Âm Dương cho nhau được cân bằng, khôngchỉ lúc đó mà  cho tới khi đầu bạc răng long, cốt rủ xương mòn, đây là cuộc Tận hiến, tác động theo Dịch lý của Vũ trụ!

( Xem hình Thái Âm / Thái Dương ở dưới )

Thiếu Âm:The feminine principle within the Man.

Thiếu Dương : The masculine principle within the woman.

Phần trắng của hình trên là Thái Dương, chấm Đen ở trong là Thiếu Âm. Phần Đen là Thái Âm, chấm Trắng ở trong là Thiếu Dương.

Hai bên Nữ  / Nam nên hiểu,chỉ có giao hợp khi đã là Vợ Chồng và Nồi nào úp Vung nấy là hợp với Thiên lý.

Khi người Nam  Không đủ điều kiện nuôi con, thì ngưòi Nữ  phải biết là không thể ưng thuận hợp thân được.      

Quyền lợi / Trách nhiệm phải lưỡng nhất mới không gây ra rắc rối.  Không thể lấy lý do gì để tránh trách nhiệm việc mình đã gây ra!     

Tóm lại, Phá thai trong giai đoạn nào cũng là hành động giết Người , giết Người là chống lại Thiên lý cũng như Tinh thần Hiến pháp – Bác ái và Công bằng – ( Hiến pháp của Hoa Kỳ ), việc này không những gây  nguy hại cho người phạm phải mà còn làm sa đọa Tinh thần của Văn Hoá Dân tộc.

Theo Dịch lý thì Người con Trai là second – half  của người con Gái , Gái / Trai giao hợp để lưỡng nhất hầu nên Một, một Gia đình, Gia đình được Nho tôn lên làm  “ Đại Đạo Âm Dương Hòa “.  Theo Việt Đạo thì “ Nồi nào úp vung nấy “để lập gia đình để xây hạnh phúc dài lâu , chứ không để tìm khoái cảm trong chốc lát. Việc Gái Trai hiến thân cho nhau là  một cuộc Tế lễ linh thiêng, vì một mặt để có khoái cảm, mặt chính  là để sinh ra con Người, mỗi người là một Tạo hoá con, việc giao hoan  là công việc của  “ Tạo Hóa con “ tham gia vào cuộc sinh sinh hoá hoá trong Vũ trụ.  

Việc giao hợp ngoài Hôn nhân là nghịch với Dịch lý hay Thiên lý, mà  “ Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong “ , do đó những cuộc giao hợp ngoài Hôn nhân sẽ đem lại khổ đau cho những ai hành động ngược với Dịch lý.

Gia đình là thành phần quan trọng nhất trong Xã hội, việc giao hợp trong Hôn nhân là việc cao trọng, chứ không bẩn thỉu đê hèn như những người thanh giáo quan niêm, Gia đình phải  là Tổ Ấm để  cho Vợ / Chồng Con cái sống vui vầy hạnh phúc bên nhau. phỏng trong cuộc sống con người có vần đề nào quan trọng hơn, Thiên lý này không thể để bị lạm dụng làm cho sai mất ý nghĩa linh thiêng của Hôn nhân. 

Đây là vấn đề vô cùng quan trọng của mọi người, mọi nhà, của người Mẹ, người Cha, nhưng người ta kiêng dè không dám đụng tới ,thay vì làm cho tốt lại được khơi ra để bị lạm dụng cho xấu hơn, do đó nếu không tạo ra được môi trường linh thiêng cao trọng thì không nên đề cập tới!    

b.-Việc “ Nhập cư “ bất “ Hợp pháp “

Cho Nhập cư  ( Lợi ) là nhờ Lòng bác ái ( Qua vic xét rõ có thực sư bị Đàn áp bất công hay không )

Hợp pháp ( Quyền ): Xem có thể Thực hiện  An ninh chung theo Lẽ công bằng hay không?

Khi không thực hiện Quyền, thì Lợi sẽ bị tước vì trái với tinh thần Hiến pháp: Bác ái / Công bằng .

Bác ái và công bằng như hai mặt của đồng Tiền, không thể tách rời , nên khi không có công bằng thì không thực sự là Bác ái, ngược lại khi không có Bác ái thì không thể thực hiện công bằng.  Nhân danh Bác ái mà lờ đi lẽ công bằng thì chỉ là Bác ái thiếu thực chất, điều   này chứng tỏ Văn Hóa có Vấn đề .

Xâm phạm An ninh chung thì không thể được Nhập cư .

 c.-Quyền mang súng để tự vệ

Có súng / Không súng lưỡng nhất

Có súng để chống lại  người bắn mình, hầu bảo vệ  mình.

Không súng không thể bắn người, nên con người không cần bảo vệ, có dùng nắm tay đánh nhau thì cũng làm bị thương hay chết  một hai người.

Có súng / Không súng lưỡng nhất : Hòa

An ninh cá nhân nằm trong đầu người cầm súng, chứ không phải ở nơi cây súng!

Giải pháp nằm trong Tinh thần người cầm súng, chứ không ở nơi Vật chất :  cây súng

Giải pháp 1: Cá nhân không cần có súng, đã có cảnh sát bảo vệ.

Giải pháp 2: Có đủ ý thức dùng súng mới được cấp phép giữ súng.

d.- Việc đóng Thuế

Đóng thuế là  thực hiện quyền Công dân để Dựng Nước và Cứu Nước.

Bình thường thì Giàu hay Nghèo  đều có tỷ lệ đóng thuế như nhau, theo Dịch lý thì tỷ Đóng thuế  giữa Giàu / Nghèo nên theo tỷ lệ Dịch Lý:  3 / 2 = Giàu / Nghèo,  đó là dựa trên Tinh thần Bác ái hay Nhân ái hay Từ bi, nhằm lấy Nhiều bù Ít để cho tình trạng chung được ổn định, chứ không phải nhằm lấy của  nhà giàu san sẻ cho nhà nghèo, vì chủ trương XHCN này không nhận ra sự bất công từ đâu mà ra.

Nghịch Lý trong sinh hoạt Đảng nơi Chính trường

Cặp đối cực: Quần nhi Bất Đảng /  Đảng nhi  bất Quần lưỡng nhất

            Quần nhi bất Đảng: Lo hợp quần theo Tinh thần Hiến pháp mà coi nhẹ việc xây dựng Đảng thì Đảng không thể mạnh đủ để giúp cho sự phục vụ Quốc gia được hiệu quả.

            Đảng nhi bất Quần : Là chỉ lo việc riêng của Đảng mà không quan tâm đủ đến việc hợp quần với các Đảng khác theo Tinh thần Hiến pháp để lo việc chung .

Cả hai đều làm lệch cán cân giữa Đảng và Quyền lợi Dân tộc, do đó mà phải làm sao cho:Đảng / Quần và Quần /Đảng được Lưỡng nhất theo Tỷ lệ  Quần /Đảng =  3 / 2

Qua đó chúng ta thấy,những cuộc vận động quần chúng trong cuộc bầu cử như  “ bao che những người Di cư bất hợp pháp “, “ cho phép phá thai” , “cho phép mang sung dễ dãi”,    , bỏ học phí cho sinh viên, xóa nợ cho sinh viên, medicare cho tất cả, nhất là bỏ Cử tri đoàn, đó  chỉ  là những cuộc vận động mang tính cách mị dân, trái với tinh thần Hiến pháp, lại nữa, đó  chỉ là lời hứa suộng để kiếm phiếu mà không có kế hoạch để  thực hiện được .

Tinh thần đó sẽ Lưỡng nhất khi hai Đảng biết hành xử theo tinh thần “  Quần nhi bất Đảng “, nghĩa là hai  Đảng biết tuân theo Hiến pháp đặt quyền lợi của Nhân dân trên quyền lợi của Đảng mà lo Quốc sự, chứ các đảng cứ lo ngăn chặn nhau, mà coi nhẹ sự cộng tác với nhau mà lo việc chung, đấy là tinh thần Đảng nhi bất Quần!

 “

VIII.- Kết luận

Người Công giáo cho rằng: “ Greet is not good “, còn một số người Tư bản thì lại định nghĩa: “ Greed is good, Capitalist is greed ”,

Còn nhà Phật ở Đông phương thì bảo: “ Tham, Sân, Si gây ra nghiệp chướng là gốc đau thương của nhân loại. 

Nho giáo thì “ Nhân dục vô nhai: lòng tham của con   người  là  không đáy “ là nguyên nhân làm cho “ Đạo Tâm suy vi, Nhân Tâm duy nguy“.   Quả thật lòng Tham của con Người là nguồn rối loạn của xã hội, vì lòng Tham là nguồn cội của bất công trong gia đình và ngoài xã hội.

Ở Tây phương lòng Tham đã sản sinh ra chế độ Nô lệ, Đế quốc Thực dân. Chế độ CS cũng vì quá tham nên nổi lên chống Đế quốc Thực dân để cướp đoạt mà thống trị thế giới. Ở Đông phương  thì là chế độ Phong kiến, Tàu là đại diện chói chang của “ Tham tàn và Cường bạo “, suốt trường kỳ lịch sử 4716 năm, họ không ngớt rắp tâm gây chiến tranh cướp bóc và bành trướng.  

Đối cực Tư bản và Cộng sản tuy biến đối theo thời gian, nhưng vẫn chưa thay đổi được bản chất Lòng Tham. Là người ít ai chế ngự được lòng Tham, ngay trong lòng các vị tu trì. Lòng Tham gây ra mưu gian và dùng bạo lực để cướp bóc chiếm đọat dưới muôn ngàn hình thức: Trong mỗi cá nhân là mầm mống Tham tàn và cường bạo cứ âm ỉ, trong gia đình là “ Chồng Chúa Vợ Tôi hay Vợ Chúa Chồng Tôi”, đối với con cái thì Cha Mẹ cũng cũng dùng uy thế bạo lực mà khống chế. Trong xã hội thì gây nên một đấu trường dưới trăm mưu nghìn kế để tranh dành: Địa vị, Quyền lực, Danh vọng, Tài sản, Tình dục. Những con người yếu đuối thế cô là nạn nhân.   Nhìn chung thế giới ngày càng chồng chất bất công.

Ở Trung Đông và nhiều nơi trên thế giới có rất nhiều cá nhân ôm bom tự sát, cố giết cho được nhiều người để trả thù những gì họ cho là bất công, cũng có quốc gia cố sản xuất bom nguyên tử để trả đũa bất công. ở Đông phương còn có một số nước duy trì chế độ độc tài để bảo vệ sự bất công. Riêng Việt Nam thì sự bất công đã đi đến cùng cực là  “ giết hại đồng bào để bán nước cho trót lọt”. Xem thế lối sống Tham lam gây ra bất công, khi nạn bất công xã hội đi đến cùng cực mà không tìm cách giải quyết tận gốc rễ thì ngày tận thế không xa.

Ngày nay, các nước Tây phương một mặt đang liên kết với nhau để lập lại những sự mất quân bình trong cơ chế quốc gia, mặt khác cổ xuý  phong trào Dân chủ để làm giảm bớt sự bất công ở các nước độc tài. Phong trào này khởi đầu từ phong trào Giải Thực rồi Giải Cộng, nay đang dâng cao tại Trung Đông và Châu Phi, và cũng đã lan qua châu Á.

Mới đây lại có tình trạng Brexit, một số nước co cụm lại theo Dân tuý, mà phớt lờ Toàn cầu hóa,  chẳng qua là “ Trong nước không ấm, ngoài thế giới chẳng êm “, xét kỹ thì cái nguồn gây rối đó chính là “ Nhân Dục vô nhai “ : Cái  Dục ngược với Thiên lý. 

Tất cả chỉ còn là sự hàn gắn bề ngoài, mà vấn đề nằm ngay trong thâm cung của Lòng mỗi người. Vì không có Công bằng tuyệt đối ở trần gian này, nên chỉ có Lòng Bác ái, Lòng Nhân ái, Lòng Từ bi và Lý công  chính hay lẽ “ Phải Người phải Ta “ của mọi người mới mong giải quyết được một cách tương đối

Nhân loại đang mắc hai thứ bệnh: Bệnh Cá nhân và bệnh Xã hội.

Nguồn gốc của Bệnh Cá nhânlòng Tham nằm trong Lòng mỗi người, bệnh Xã hội nằm trong các Cơ chế quốc gia không hợp lý.

Bệnh Cá nhân là nguồn gốc của Bất Nhân và  Bất công phải ưu tiên sửa trước, còn các Cơ chế xã hội bất công phải sửa tiếp theo. 

Không sửa Lòng Tham gây ra bất công mà chỉ sửa các hiện tượng trong các Cơ chế xã hội thì không thể được. Lòng Tham gây ra bất công ở Bên Trong, nếu chữa bệnh Nội thương bằng những hiện tượng Bên Ngoài thì chắc không bao giờ lành bệnh. 

Tâm linh / Khoa học là nguồn gốc của sự sống Tính / Lý hài hòa,( cũng là Bác ái, /Công bằng, Bi /Trí hay Nhân/ Trí ) là thần dược Hòa mà con người không thể bỏ qua, mà phải dùng để chữa bệnh Bất công. Vấn đề chính là ai cũng có Nói mà chẳng ai lưu tâm Làm thật sự, một số người làm chưa đủ mà mọi người phải giúp nhau cùng Làm mới được!

Bệnh Xã hội là bệnh “ Dĩ Cường lăng Nhược: Cá Lớn nuốt cá Bé  “ dưới muôn vàn Hình thức với nhiều Nhân danh, chỉ khi nào cái Riêng của từng Quốc gia tìm được vị trí sống ổn định trong Bàn Cờ Chung của Thế giới thì khi đó Nhân loại mới mong được yên vui .

Nhìn chung, thì Tôn giáo đặt nặng về Tinh thần Bác ái để khuyến khích làm việc Từ thiện hay Bố thí chỉ riệng cho lớp người nghèo khó trong ngắn hạn ( Tiểu Ân )

 Còn Văn Hóa Việt cũng như Cộng đồng Vatican II lại đặt nặng về Vấn đề Công bình xã hội, vì có đem được Công lý vào các Cơ chế xã hội, mới mong lập được Hoà bình chung cho cả xã hội để mọi người có cơ hội sống Hòa với nhau trong dài hạn ( Đại Huệ )  nên khó khăn gấp bội, phải có những người giàu lòng Nhân ái, lòng Bác ái, lòng Từ bi với Kiến thức chu tri mới thực hiện nổi.

Qua trên chúng ta thấy:

Tư bản/ Cộng sản lưỡng nhất = Tự do / Bình sản

= Công hữu / Tư hữu lưỡng nhất

CHẾ ĐỘ NHÂN TRỊ

Để giải quyết nan đề của “ con Người Bất toàn” và “ Xã hội bất công “, cha ông chúng ta đã thiết lập chế độ Nhân trị gồm Lễ trị và Pháp Trị.      

Lễ trị để giúp mỗi cá nhân  có cơ hội và phương tiện phát triển toàn diện con người qua các Tổ chức Tự do Tôn giáo ( mang bản chất Hòa ), Tự do Văn Hóa ( Nhân bản ) , đây là hàng rào cản bên trong mỗi Cá nhân giúp họ tránh phạm pháp. Chính quyền dùng Thuế khóa để tạo ra cơ hội và  phương tiện giúp người dân phát triển Tư cách và khả năng qua kế hoạch   Dân sinh và Dân Trí.

 Pháp trị thuộc phạm vi xã hội, dùng luật pháp công minh ngăn cản những người không tự chế được mà phạm pháp, đây là hàng rào cản bên Ngoài  Xã hội.

Lễ trị   ( hàng rào cản bên trong Cá nhân ) / Pháp trị  ( hàng rào cản bên ngoài xã hội) cần được lưỡng nhất thì xã hội mới được  “trong ấm ngoài êm “..

Đây là con đường dài thật dài, và gánh nặng thật nặng, nếu cứ  từ nan bỏ qua thì  vẫn không thoát  được tình trạng gậy      Ông đập phải Lưng ông: !

Gậy ông là điều Ác ông dùng để hại người khác, thì  chính điều Ác đó quay lại đập vào lưng ông, Nho gọi là : “Ác hữu Ác báo “!

TÓM LẠI

1.- Bản chất của nền Văn Hóa

Nền Văn Hoá Việt Nam chỉ có 1 chữ HÒA, nói rộng hơn là 3  chữ : “CHÍ TRUNG HOÀ, ( 1 ) Hoà không phải là một thứ  ba phải hay khiếp nhược, mà con Ngưòi phi Vi Nhân  làm sao cho được phát tiển toàn diện, hầu được Hùng Dũng, Hùng là sức manh của Thể chất, Dũng là sức mạnh của Tinh thần, do đó mà có lời khuyên:

“ Huyết khí chi dũng bất khả hữu, Nghĩa khí chi dũng bất khảvô “ Cái dũng của Khí huyết tức là sức mạnh của Vật dục thì   không nên có, còn cái Dũng của Tinh thần để sống cho Công bằng thì không thể không.

Vì “ Theo Mới nới Cũ  “ một cách sai lạc, nên một số bị Lạc Hồn  “ Nhân Nghĩa Bao dung “  của Dân tộc  mà Dân tộc chúng ta bị rã đám như ngày nay.

Chúng ta biết Hòa là khắc tinh của Bất Hòa. Hoà là Bản chất của nền Văn Hóa Thái Hòa Việt, Hoà chính là nền tảng của Nội lực Dân tộc.

Còn Bất Hòa  là Bản chất của nền Văn Hoá Du mục Trung Hoa suốt 4716 năm kể từ Thuỷ Tổ Hiên Viên Hoàng đế của Tàu,bao giờ họ cũng rắp tâm thôn tính, tiêu diệt Dân tộc Việt Nam,do đó mà  Văn Hoá Nông nghiệp Việt Nam chính là khắc tinh của nền Văn Hóa Du mục bá đạo Tàu.

Thiết tưởng không có phương cách nào hữu hiệu hơn là chấn hưng nền Văn Hoá Thái Hòa  Việt đặng nâng cao Nội lực Dân tộc để Cứu nước và Dựng nước.

Khi Nội lực Dân tộc mà suy yếu thì dầu có Quốc kế  Dân sinh hay mấy cũng vô hiệu. Dân tộc chúng ta đang bị bệnh Nội thương Bất Hòa trầm trọng, không chấn hưng Văn Hoá Thái Hoà thì vô phương cứu chữa.

Chúng tôi xin gởi thêm cuốn “ Nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam “để tuỳ nghi.

( Xin xem trên trang vietnamvanhien.net.index )

Các nhà cầm quyền Trung Hoa là  mối Họa ngàn đời của Dân tộc Việt Nam, họ luôn tìm mọi cách tiêu diệt Văn Hóa Việt để tiêu diệt Nội lực Dân tộc hầu không cho chúng ta vươn lên vực dậy được.  

Xin  mọi đồng bào Việt Nam đừng bao giờ quên cái Tai Họa ngàn đời này

Đây là cuộc đấu tranh tận nơi Gốc Văn Hóa của hai Dân tộc, một mặt nhằm nâng cao Ưu điểm của Dân tộc ta đ chấn hưng Nội lực Dân tộc, đồng thời đánh vào Yếu điểm của nền Văn Hóa bá đạo của kẻ thù.  Những nan đ  Quốc nạn và  Quốc nhục nằm ngay ở  Gốc: Bản chất Văn Hóa, còn những rối loạn trong các Cơ chế Xã hội chỉ là  phần Ngọn thuộc Hiện tượng, vậy muốn chữa dứt bệnh thì phải chữa ngay ở  Gốc.        .

Điều cuối mà mỗi chúng ta cần lưu tâm về nguồn gốc và bản chất của Văn Hóa Dân tộc.   Văn Hoá của Dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Thái cực “Âm / Dương Hòa: Nhất Nguyên lưỡng Cực “, tức là những cặp Tiểu đối cực kết thành lưỡng nhất, cụ thể là :

Trên / Dưới ( Đối cực lưỡng nhất:dual unit ) =(1:Hòa )

Trong / Ngoài  = 1

Gần / Xa = 1

Nhỏ / To = 1

Dễ / Khó = 1

Tầm thường / Phi thường = 1

Tinh vi / Vĩ Đại = 1

Vũ / Trụ =1

Không gian / Thời gian = 1: Time – Space – Continuum

Quy Tâm / Ly Tâm = 1

Tâm / Vật = 1

Quy tư / Suy tư =  1. …

Ý thức / Tiềm thức =  1

EQ / IQ = Tình / Lý =1

Gốc / Ngọn = 1

            ( Tích phân )Integral  /  ( Vi phân ) Differential = 1

            Acid / Base = 1

            Ly tâm / Quy tâm = 1

            +∞ / -∞ = 1 . . . ( Hòa )

Đó là những Tiểu Thái cực kết nên nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam.

2.- Lý do khiến Dân Việt Nam xa  rời Đạo lý Dân tộc

Do nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “ của Tàu tiếp đến sự độ hộ của Pháp khiến cho cuộc sống Dân tộc ta trở nên  vô cùng khó Khăn, hàng ngày chỉ lo cho được miếng ăn qua ngày và chống giặc xâm lược liên miên đã làm cho cả Dân tộc kiệt sức, nên cái Khó bó cái Khôn, vì sự sinh tồn đến nỗi những người thân cũng lấn át nhau, xâu xé nhau,  khiến cho Tình Nghĩa Đồng bào ngày càng bị sứt mẻ, tới nay vì ngượng ngùng quá chỉ gọi nhau được bằng Đồng hương mà thôi.

Bản  chất nền Văn Hoá Việt là “ Dĩ Hòa vi quý”, hòa theo Tiêu chuẩn Nhân Nghĩa Bao dung, nhưng đa số đã bỏ qua mà theo lối sống “ Mâu thuẩn thống nhất  “ của CS cứ tranh dành nhau để Hơn Thua ,hễ có người phát biểu không hợp với ý mình thì tìm cách viết lách, phát ngôn đả kích nhau để chứng tỏ mình đúng , mình giỏi, mình hơn , chứ  không biết tới cách giúp nhau  tìm ra lẽ phải ( Công bằng ) để sống hoà vui với nhau, và cứ theo thói quen mà gây ra xích mích này chồng lên xích mích khác, gây hờn chuốc oán với nhau  làm cho nhìn nhau không thấy hình ảnh Đồng bào đâu nữa,  kết cục hai bên đều thua, dành phần thắng cho CS. Vậy hai bên có còn khôn nữa khộng ?

Điều quan trọng khác, khi sống trong khó khăn, thực tế nào cũng phụ phàng, nên mơ tới lý tưởng cao xa , như thiên đưòng trần gian, sự cứu rỗi ở đời sau,mà quên  không  làm tốt cuộc sống “ Nơi đây và Bây giờ “ từ nền tảng thì làm sao có được đời  sau?!

Mặt khác, Văn hoá Cha ông chúng ta là nền Văn Hóa phổ cập cho mọi người dân, có nền tảng từ cái Thấp nhất, Đơn giản nhất, Tầm thường nhất,. . . nhưng mức độ cao thấp khác nhau mà ai ai cũng có thể tham gia để thăng hoa cuộc sống  theo bước tiệm tiến từ thấp lên cao.    Vấn đề quan trọng nhất của mọi người là  ở  cái Ăn, nơi Ở, là Nghề nghiệp, là  cuộc Sống Ái ân, để từ thực tế thiết thân đó, tìm cách trau dồi Nhân cách để Ăn ở thuận hoà với nhau hầu giúp cho sự Đoàn kết Dân tộc đưọc vững bền , khi đó thì mới có Nội lực để giúp Dân tộc thoát ra mọi cảnh khó khăn.

Qua hàng ngàn năm bị Tàu tiêu diệt cho hết thành phần tinh hoa, phá tan Thượng và Hạ tằng cơ sở, Tây đem theo Văn hóa cá nhân chủ nghĩa lãng mãn, ru Hồn  hồn trí thức lên ngọn cây, ( Là thi sĩ là ru với gió, mơ theo trăng mà vơ vẩn cùng mây. .  Xuân  Diệu )  xem thường Văn hoá  cha ông, do bị Lạc Hồn “ Nhân /Nghĩa Bao dung “ của Dân tộc, nghe nói đến Văn Hoá Dân tộc thì dè bỉu cho là quê mùa lạc hậu,  nên chạy theo Văn minh, hăm hở đi theo Duy Lý ( bỏ Tình )  gây cảnh phân hóa chia lý,  theo Duy Lý cực đoan như CS để rước Hận Thù của Mác Mao, Xít, H  về mà hãm hại nhau, Hơn Thua đủ với nhau để hại người, làm tan Nhà nát Nước,hầu thỏa mãn cái “ Lòng Tham không đáy “, CSVN nhân danh công bằng xã hội để cướp của giết người.

Ngày nay người ta bảo CS tham nhũng và đảng CS đang nhân danh  Diệt tham nhũng để tồn tại, thật ra đng CSVN đâu có tham nhũng mà chỉ nhân danh công lý mà giết người cướp của toàn dân theo 3 đợt :

Đợt thứ nhất là cướp của Chìm của Nổi  của Địa chủ.

Đợt thứ hai là cướp của  Công Nông theo cái gọi là  “Quy hoạch mặt bằng “.

 Đợt thứ ba là những thành phần  đầu não của CSVN đang cướp  “ của ăn Cướp “ của nhau .

“Một lần tha, ba lần chém: CSVN đã hết thời!

Tình trạng này Cha ông chúng ta đã cảnh báo từ lâu: “ Khi cùng chung nhiệm vụ, hè nhau cùng đi ăn cướp  thì rất thương nhau, nhưng khi cùng chung quyền  lợi ăn cướp thì lại giết nhau” !

 Vậy Quốc nạn và Quốc nhục từ đâu mà ra , lỗi đó tại ai?

Thưa tại kẻ thù truyền kiếp mà cũng tại chúng ta đang ngũ mê  trong giấc Mê vong Nhân, vong Thân và vong Quốc.

Vì vậy muốn sống  ( Vi Nhân ) hợp với Dịch lý thì nên quan tâm đến Cơ cấu của Văn Hóa .

Trong cuộc sốngnày muốn tìm cái kia ( Ngọn: nơi Xa) thì có thể  tìm nơi cái này (Gốc: chốnGần ),  hãy đi theo lối Ăn chắc mặc bền, chậm mà chắc, chứ cứ theo lối ăn xổi ở thì không bao giờ  thoát nạn.   Xin tha lỗi cho những lời khó nghe !

Tác giả Việt Nhân gửi cho Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

THAM KHẢO

( 1 ) . “ Trung giả Thiên hạ chi đại bản, Hoà giả Thiên hạ chi đạt Đạo,  Thiên Địa vị yên , Vạn vt dục yên, chí Trung Hòa “. T. D.

Concept of Archtypes at Carl Jung The archetypes concept has been approached by Jung in his entire work after he left Sigmund Freud. But in his book on the confrontation between the ego and the unconscious*, when he describes the process of assimilation of the unconscious, he writes about archetypes such as: Persona, Shadow, Anima / Animus and the Self. But what is the archetype according to Jung? An innate tendency which molds and transform the individual ego/consciousness. It is rather a natural tendency to shape things than a collection of inherited contents such as images, ideas, concepts; it is a matrix which influences human thinking and believes on the ethical, moral, religious and cultural levels. Jung talks about the archetype (also called “primordial image”) as of the biologists’ patterns of behavior (inborn behavior patterns). In short, archetypes are inborn tendencies which shape the human behavior. “The archetype concept – Jung writes – derives from the often repeated observation that myths and universal literature stories contain well defined themes which appear every time and everywhere. We often meet these themes in the fantasies, dreams, delirious ideas and illusions of persons living nowadays”. These themes are representatives of archetypes; they are based on archetypes. They impress, influence and fascinate us (our ego). This is why we call their tremendous effect numinous – that is, able to arise deep and intense emotions. Archetypes do not have a well defined shape “but from the moment they become conscious, namely nurtured with the stuff of conscious experience.” Basically an archetype is empty, purely formal, nothing else but a pre-shaping possibility or an innate tendency of shaping things. We can say that archetypes resemble the instincts in that that they cannot be recognized as such until they manifest in intention or action. Archetypes are both negative and positive, that is they have two sides. One may figure out the archetype dualism by comparison with the symbolism of the well-known yin-yang principle. Though Yin and Yang are parts of the same unity – the T’ai chi – they have separate and opposite meanings: decline and progress, below and high, night and day and so forth. Finally, the archetype is psychoid (psychic-like); it shares both psychic and material aspects and acts as well on a psychic and/or material plane. (See also the synchronicity principle). Read about: Persona – Animus – Anima Shadow – Self – Wise Old Man (coming soon) Read also: About the Collective Unconscious

Steps in the individuation process – paper about archetypes as they occur in the individuation process (see also individuation). Further resources: * The book is included in Two Essays in Analytical Psychology. You may order it from Amazon.com: https://amzn.to/31A1vKo. Archetypes and the Collective Unconscious provides valuable information about the archetype concept. You may order this book from Amazon.com: https://amzn.to/2BjT9t9. Archetypes in Dreams: We illustrate the occurrence of archetypes in dreams and explain their meaning in our Jung and Dreams email course. Click here to learn more.

Trả lời bạn đọc 59c: Nguồn gốc và sự khác biệt giữa Việt nho và Hán nho?

NGUỒN VĂN HÓA HÁN NHO

Cây trúc là biểu tượng của người quân tử cả Việt Nho và Hán Nho. Cây trúc trong văn hóa Việt đã xuất hiện 2 lần từ thời huyền thoại:

1) LLQ tặng cho Thần Tản Viên quyển Sách Ước và Cây gậy thần 9 đốt.

2) Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre lên đánh giặc (có nghĩa là đánh bằng văn hóa Việt Nho) để cải sửa cái đầu của giặc Bắc xâm. Vừa đánh bằng gậy săt lại đánh bằng tre trúc là: “Cương nhu dĩ giáo, bất báo vô Đạo”

Cây trúc

          Thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời kỳ loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 TCN) muốn gìúp vua chúa thời phong kiến ổn định thời cuộc, ông đã san định lại bộ Lục kinh gồm có Kinh ThiKinh ThưKinh LễKinh DịchKinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh,

Trong các kinh sách ông Khổng sang định lại, đặc biệt là Kinh Dịch Nguyên Thủy của Nguyên Nho, là bộ kinh vô tự chỉ gồm 64 con quái số được viết bằng hai “triết tự văn hóa” là nét vẽ Càn __ và Khôn _ _ mà không có chữ viết chua vào. Cho đến đời Văn Vương (1152_1046 TCN) và Chu Công Đáng (sinh 1143 TCN), Kinh Dịch nguyên thủy lại có thêm chữ viết vào Kinh Vô Tự; phần viết thêm vào đó là thán từ và hào từ, để hình thành kinh Dịch của Khổng Nho; Nguyên Nho/Việt Nho vốn không có chữ viết, như hai câu thơ Kinh Hùng có đề cập:

“Kinh Châu, Dương Việt hai miền

Triết tự văn hóa lưu truyền sử xanh”

Ông Khổng đã học Kinh Vô Tự với sự gợi ý qua thán từ và hào từ của Văn Vương và Chu Công, rồi thêm thắt ý mình bằng lối tưởng nghĩ của triết gia, rồi lại đem chữ nghĩa hóa bộ kinh không chữ nầy của Nguyên Nho mà hình thành Khổng Nho, còn gọi là Hán Nho của người Tàu.   

Thật thế đây không là chuyện phịa đặt gán cho ông Khổng mà chính ông đã nói vế cái mà người ta gọi là Khổng Nho nầy như ông đã noi rằng ông không chế tác: “ngô dĩ thuật nhi bất tác” mà ông đã thuật cái đó từ trước. Ông nói ông đã thuật từ cái mạnh của phương Nam, nơi có người quân tự ở: “Nam phương chi cường quân tử cư chi”. Mà người quân tử là mẫu người Việt Nho trong nghĩa của chữ Nho là: “thông thiên, Địa, Nhân viết nho” (Nho là môn học thông rành cả chuyện trên trời, chuyện dưới đất và chuyện nhân sự). Nho Việt Nho to lớn và qúi giá như vậy nên khi ông Khổng về gìa ước ao được sống thêm để học Dịch cho bớt sai lầm,

Khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời ông dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ và người học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học, đến cháu nội của Khổng Tử tên là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư, viết ra cuốn Trung Dung

MạnhTử về sau, đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử chia ra làm bốn cuốn gọi là Tứ Thư, Tứ Thư cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Hán Nho.

Khổng Tử và Mạnh Tử hình thành nền Nho học diễn đạt  bằng ngôn ngữ đời thường “thế gian pháp” để làm nền tảng cho Hán Nho, còn được gọi là “tư tưởng Khổng-Mạnh”.

Từ khi Nho học bị diễn đạt theo hướng triết, nghĩa là bị làm mất đi tính vô ngôn, vô tự của Ngyên Nho, mà đưa ý tưởng chủ quan của con người vốn là bất toàn vào mà lại đem chữ nghĩa hóa nữa, nên tính khách quan mang tính Kinh Dịch Nguyên Nho/Việt Nho trên căn bản tượng đồ và tượng số bị sai chệch nhiều. Hán Tàu làm điều nầy là sai chệch nên Ông Bà Việt tộc gọi người Tàu là Tàu Chệch. Chữ “Tàu Chệch” không mang nghĩa của kỳ thị mà ý chỉ ra rằng Nho học của Tàu đã đi chệch hướng của Nguyên Nho/Việt Nho. Người đời sau không hiểu ý của người xưa, nên đã họ đã viết sai chữ “Chệch” thành ra chữ “Chệt”, thật ra chữ “Chệt” vô nghĩa, mong những người biên soạn tự điển hãy chữa lại cái sai nấy.

(còn tiếp một kỳ)

   Cảm ơn qúy vị đã bỏ thời gian đọc. San Jose 01/09/20. NVN.

Tác giả: nguyễn Hòe – Fb: Việt Nho Nguyễn

  Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com, .

Trả lời bạn 59b: Nguồn gốc và sự khác biệt giữa Việt nho và Hán nho?

Phần trình bày sau đây để trả lời cho câu hỏi của Anh NVĐ, Palo Alto _ USA)

NGUỒN GỐC VĂN HÓA VIỆT NHO (VHVN)

Tác giả: Nguyễn Hòe – San Jose – USA

          Đây là nền văn hóa có nguồn gốc gác từ Đất Trời/Càn Khôn. Mọi vật trong Đất Trời, kể cả con người, đều có cấu trúc của Tam Tài Thiên Địa NhânCây thì có ba phần: gốc cây bám xuống đất (Địa), cành lá vươn lên trời (Thiên). Nằm giữa Thiên Địa mà Thân/Nhân. Ngay cả trên con người cũng có ba thành tố nầy như: Thân thể người ta có ba phần đầu, mình và tay chânĐầu vươn lên trời (Thiên), chân bám xuống đất (Địa) và thân mình nằm giữa đầu và chân, gọi Thân/Nhân … Và, trên mỗi bộ phận của con người cũng chia ra phần: Cánh tay có cánh tay trong, cánh tay ngoài và bàn tay. Mỗi ngón tay cũng có ba lóng , đốt … Đây là cấu trú bộ tam của Đạo Tam, thường nghe với tên là Tam Tài.

Hình vẽ trên sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp
“Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam”),

          Trên khía cạnh Tâm linh, bộ tam nầy Phật giáo gọi là gọi là Tam Tính Phật hay Phật Tự Tánh ‘BI, TRÍ DŨNG’, TCG gọi là Chúa Ba Ngôi và ta hiểu được qua ý nghĩa qua Kinh Làm Dấu Thánh; kinh vừa đọc vừa làm dấu: Nhân danh Cha tay chỉ đầu, (trí tuệ, sự sáng suốt) và Con tay chỉ tim (Tâm)chỉ tình thương, và Thánh Thần chỉ hai vai (sự gánh vác, kiên trì, dũng lực)

          Trên  mỗi bộ phận Tam Tài Thiên Địa Nhân đều mang tượng của Âm Dương nòng 0 và nọc 1 hoặc là hình tượng nét liền Càn __ và nét gãy Khôn _ _ mang ý nghĩa của nền văn hóa phồn thực (phồn mà nhiều, thực là sinh nẩy). Văn hóa phồn thực là nền văn hóa chỉ ra sự sinh nẩy lan tràn từ hai yếu tố âm dương giao cấu, giao chỉ.

          Ngày xưa, trong TCG có ông Thánh da đen tìm dấu chỉ của Chúa Ba Ngôi(tức cấu trúc Đạo Tam), ông ra bãi biển để tìm và Chúa Thánh Thần hiện lên bảo không thể tìm chứa Ba Ngôi bằng cách nầy. Đến ông Thánh Saint Patrick, đã hiểu được Chúa Ba Ngôi là Một, là gì nên dùng cỏ ba lá để chỉ ra Chúa Ba Ngôi là Một Thiên Chúa.

          Tổ Tiên dòng Việt quan chiêm tượng thiên nhiên và phỏng theo hình tượng của sự vật có hình nòng 0, nọc 1 hoặc Càn Khôn __, Khôn _ _ trong thiên nhiên cùng cái cấu trúc “Tam Tài” của sự vật để lập ra môn toán Lý Số (cái Lý nằm trong con số) Nhị Phân/Trực phân mà hình thành Việt Dịch Nòng (0), Nọc (1) hay Càn (__). Khôn (_ _) chưng ra Việt Dịch/Việt Đạo.

          Dấu Nòng (0), Nọc hay dấu Càn (__), Khôn (_ _) là tượng của phồn thực chỉa ra tính cái đực Âm Dương hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc nhưng rõ nét nhất là ở bộ phận sinh dục của con người. Nòng (()) là cái “ấy” của các bà và Nọc là cái “ấy” của các ông.

          Như vậy, Đạo Dịch là Đạo Sinh Tồn của Thiên Nhiên/Đất TrờiTổ Tiên dòng đã quan chiêm những cái thể hiện trong Trời Đất mà chế ra Việt Dịch Nòng Nọc/càn Khôn để chưng ra Việt  Đạo nên Đạo Càn Khôn cũng là Đạo Ông Bà của dòng Việt, gọi là Việt Đạo.

          Thẫt thế, bằng hai dấu hiệu (signs) nòng 0, nọc 1 hay Càn __, khôn _ _, nếu được sử dụng để viết toán lý số dưới dạng Lý số/Dịch số, sẽ cho ra Dịch Nòng Nọc hay Dịch Càn Khôn.

          Nếu đem dấu hiệt nầy Viếttám con số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7với ba hào Dịch sẽ cho ra Bát Quái  viết số 64 con số từ con 0 đến 63 hoặc viết con 100 của bọc Âu Cơ với 6 nét Dịch (hào) sẽ cho ra 64 Quái Dịch, là toàn bộ cuốh Sách Ước “trinh nguyên không một chữ”.

          Như vậy BQ và 64 quái Dịch không gì khác hơn là con 100  (của bọc Ău Cơ) viết ra dưới dạng Càn (__), Khôn (_ _) hay nòng nọc viết với 6 hào Dịch (con 65, 66, 67 … trở đi … sẽ trở lại như con 1, con 2, con 3 …)

          Tám con số của BQ Càn, Khản, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài sẽ cho ra Ngũ Hành là Hành Kim gồm hai quái Trạch và Càn. Hành Mộc là hai quái Tốn và Chấn. Hành Thủy là quái Khảm. Hành hỏa là quái Li. Hành thổ là hai quái Khôn và Cấn. Vị chi là ngũ hành.

          5 Hành nầy mang tính khắc hoặc hợp với nhau mà thành ra Ngũ Hành Tương Sinh hay hay Ngũ Hành Tương Khắc.

          Việt Đạo chẳng gì rườm rà, nó chỉ nằm gọn trong Tam Cương và Ngũ Thưởng mà thôi nhưng nó đã bao hàm và dung chứa không gì lọt khỏi nó.  

          Đạo Thường cũng là Đạo xuất khởi tứ nước Việt Thường thời cổ đại chưng ra qui luật thiên gọi là Thiên Đạo mà Thiên Đạo cũng là Việt Đạo như đã trình bày ở phần trên.

          Việt Đạo thường được dẫn giải và trình bày thông qua các con huyền số thường thấy trong các huyền thoại như huyền thoại Tiên Rồng sinh 100, 50 con lên núi, 50 con xuống biển,  hoặc như các vật thờ như cái lư hương, vạc, cái đỉnh …  có 2 tai 3 chân hay nhà có hai chái 3 gian … Muốn biết huyền ý của huyền số ta cần đổi chúng  sang hệ  Lý Số/Dịch Số. Xin được làm rõ bằng một số thí dụ bên dưới:

          _ Ý Nghĩa 100 Trứng Tiên Rồng Huyền Thoại:

          Số con từ 100 trứng cũng như con 100 Việt (Bách Việt) là con huyền số mang ý chỉ muôn loài, muôn vật.

          Muốn biết huyền ý số 100  nấy, ta hãy đổi số dưới dạng thập phân nầy sang hệ lý số (Đổi như cách đổi số trong hệ điện toán nhị phân (binary) 0,1):

          Cách đổi: Đổi tứ số thập phân sang lý số lý số nếu là với số chẵn  thì viết con nòng 0 và lẻ viết con 1. Rồi chia con số đó cho 2, nếu thành số của số chia (thương số) là chẵn, ta tiếp tục ghi con 0 và nếu là lẻ ta ghi con 1 và cứ tiếp tục chia như thế ta sẽ có số của hệ BQ (với 3 hạn số <digit>, Dịch gọi là hào), nếu với 6 hạn số (hào) sẽ là môt trong 64 Dịch số của Kinh Dịch.

          Điều nên nhớ: số thập phân viết từ trái sang phải, số nhị phân hay số Dịch số nòng 0 nọc 1 viết từ phải sang trái và Dịch số viết từ trên xuống dưới

          Thí dụ: Con Con 100 là số chẵn ta ghi con 0

          _ 100 chia 2 = 50. 50 là số chẵn ghi con 0

          _ 50 chia 2 = 25. 25 là số lẽ ghi con 1

Với hệ 3 hào là hệ số BQ, ta có được con Chấn/Lôi/Rồng 100

          _ Tiếi tục chia chia 2: 25 chia 2 = 12 (lấy tròn số). 12 là số chẵn, ghi con 0.

          _ 12 chia 2 = 6. 6 là số chẵn, ghi con 0

          _ 6 chia 2 = 3. 3 là số lẻ ghi con 1

          Tổng kết: con 100 viết ra Lý số là con Thuần Chấn/Lôi/Rồng. Như thế huyền ý của 100 là Chấn/Lôi/Rồngmang Ý là 100 con là con thuộc Cha Rồng huyền thoại của LLQ của Việt tộc, ngầm ý chỉ 100 “con” của LLQ nầy chính là số “trứng” trên hai hình Hà Lạc và “100 trứng” là huyền số ám chỉ tổng số chấm tròn đen trắng nằm trên hai hình Hà Đồ và Lạc Thư gộp lại, gồm:

          Hà đồ có 25 chấm trắng và 30 chấn đen (25 + 30 = 55 chấm tròn đem trắng.     Lạc Thư có 25 trắng + 20 đen (25 + 20 = 45) chấm đen trắng.

          Gộp chung số của hai hình Hà Lạc là 55 + 45 = 100. Việc gôm cùng chung lại trong một gói, huyền văn gọchiếc bọc 100 của Mẹ Câu Cơ và con trong bọa đó là đồng bào (đồng là cùng, bào là cái bọc).

          Điều cần lưu ý là cần đọc chuyện 100 trứng huyền thoại khi đã nắm bắt được Tượng thì nên quên lời, nghĩa là không nên bám vào lời, như lời dạy tiền nhân khi đọc huyền thoại hay đọc Dịch là: “Bỏ lời lấy tượng, bỏ tượng lấy ý, bỏ ý đi vào Đạo”

          Số 100 “con” của Cha LLQ gồm có 50 con trai (tượng trứng bằng chấm trắng/dương): 25 trắng trên Hà Đồ 25 trắng/dương trên Lạc Thư. 25 + 25 = 50).   Như thế, số con trong bọc “đồng bào” là 100 đứa gốm 50 trai. 50 gái! 50 chấm đen tượng trưng cho con gái (gồm 30 chấm đen trên Hà Đồ + 20 trên Lạc Thư = 50) và 50 trắng là con trai!

          Số 100 trai gái ngang bằng nên số 100 viết được dưới hệ nhị phân mà hình thành môn Việt Dịch Vô Ngôn chưng ra Việt Đạo!

          Nhân sĩ cuối đời Trần, Ông Trần Thế Pháp gọi những chuyện xảy ra ở Lĩnh Nam cổ thời là những chuyện quái lạ (Lĩnh Nam Chích Quái). Quái lạ vì nó không là những chuyện đời thường mà là những chuyện chứa trong đó nội dung Đạo Lý mang tính “huyền” (dấu kín những điều huyền nhiệm, huyền bí)  của chuyện kể (thoại).

           Nghe, đọc và hiểu huyền thoại theo lối của bạch văn của nhánh văn gia thì không phải là cách đọc huyền thoại. Đọc huyền thoại là cần giải mã các cái huyền trong huyền thoại như các huyền tự LLQ và Âu Cơ là nét Càn (__) và Khôn nét Khôn (_ _) là Lý tính của Trời Dương/Nọc (1) và Đất Âm Nòng (0);         Huyền tượng bánh chưng hình vuông được buộc với 4 nuộc lạc chia bánh ra thành 9 ô (cửu cung) mang tượng hình Lạc Thư; bánh chưng hình tròn mang tượng Hà Đồ; Con số 100 là con huyền số muốn biết huyền ý cần đổi nó sang hệt Lý số …       Văn huyền thoại nếu được đọc theo cách nầy thì chắc không còn có những câu hỏi trái ngấy về huyền thoại khởi nguyên của Cha Rồng Mẹ Tiên, kiểu như: Người gì lại sinh con, mà lại sinh cả trăm đứa? (100 đứa của bọc Âu Cơ là tượng số của hai hình Hà Lạc gộp lại). Sao con sinh ra không nuôi mà bỏ chúng ra ngoài đồng mà chúng đều sống và khỏe mạnh? (con đây là con của Âm Dương/Đất Trời thì Trời Đất nuôi dưỡng chúng). Tại sao 100 con của LLQ/Âu Cơ đều là trai? (Bởi 100 con đều là con ‘Hùng’, là tính của Dương/Nam nê n dù trai hay gái cũng đều hùng/dương/Nam/trai). Thật ra số con 100 đứa gồm 50 trai và 50 gái (Xin xem lại phần viết về “Ý Nghĩa Trăm Trứng Tiên Rồng Huyền Thoại) …

          Tóm lại, huyền thoại nòng tộc nếu được hiểu theo của huyền thì không còn là “quái” (quái lạ, kỳ di) mà là lối dẫn vào Việt Dịch/Việt Đạo.

(Còn tiếp)

Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian đọc. San Jose, 29/8/2020. NVN.

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com

Fb: Việt Nho Nguyễn

Thư mời tham dự lớp học: Tinh Hoa Việt Cổ

Tác giả Nguyễn Hòe

Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu “Chương trình phát huy nền tảng Tinh Hoa Việt Cổ” được tái hiện bằng sự đam mê nghiên cứu bảo tồn tinh hoa ngàn đời của dân tộc Việt Nam của tác giả Nguyễn Hòe hiện định cư tại Hoa Kỳ

Chương trình được hướng dẫn, điều nghiên trực tiếp của chính tác giả Nguyễn Hoè với tất cả tâm huyết sẽ làm hài lòng quý vị!
*Lớp học Tinh Hoa Việt Cổ sẽ được khai triển vào mỗi tối Thứ Năm hàng tuần
* Thời gian: Vào lúc từ 20:30 – 21:30 ( giờ Vietnam )
* Học trực tuyến trên Google Meeting ( đường link hàng buổi sẽ gửi cho các học viên tham dự lớp học)

* Một số lưu ý: Học viên tham gia lớp học cần giữ gìn trật tự, luôn tắt microphone để tập trung nghe giảng, mọi thắc mắc sẽ được nêu và giải đáp chỉ khi giảng viên kết thúc một vấn đề hoặc hỏi đáp ở phần thảo luận cuối buổi học.
* Mời quý vị ghi danh tham dự lớp học tại hộp thư điện tử: tonnuthocnau@gmail.com
Ban tổ chức sẽ gởi đường nối kết 15 phút trước giờ học mỗi tối thứ năm qua email.
Trân trọng cám ơn!
Thay mặt Nghiệp Đoàn Giáo Chức Việt Nam

Chủ tịch

Tôn Nữ Thóc Nâu

Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa

PHAN HUY QUÁT – Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH

Ông PHAN HUY QUÁT – Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH


MỞ ĐẦU
Đối tượng của bài viết này là chương trình và sách giáo khoa miền Nam
1954-1975, tuy nhiên nếu không nhắc sơ lại thời kỳ quá độ trong đó nền giáo dục
Việt Nam chuyển từ cựu học sang tân học, chúng ta sẽ khó theo dõi để nhận ra một
cách rõ ràng những sự thay đổi cùng tên gọi các cấp, lớp, ban học, cũng như nội
dung cụ thể của các chương trình học mới sau này.
Có thể nói, không kể thời kỳ Nho học mà sự cáo chung được đánh dấu
bằng khoa thi Hội cuối cùng ở Trung Kỳ vào tháng 4 năm Kỷ Mùi (1919), nền giáo
dục hiện đại Việt Nam chỉ bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đã
củng cố xong nền cai trị của họ tại Việt Nam.
Lý do chấm dứt con đường học hành thi cử truyền thống đã được vua Khải
Định đưa ra trong lời phê tờ trình của Bộ Học, trước khoa thi cuối cùng nêu trên:
“Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn. Trẫm nghĩ
rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con
đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt” (theo Khải Định
chính yếu sơ tập).
Trước đó, kể từ Đạo dụ ngày 31/5/1906, chính phủ Bảo hộ Pháp được sự
thỏa thuận của Nam triều ấn định nền học chính mới thay dần cho nền giáo dục
Nho học cũ, áp dụng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, theo đó chia làm ba bậc học:
(1) Ấu học gồm lớp Đồng ấu (lớp Năm), lớp Dự bị (lớp Tư), lớp Sơ đẳng
(lớp Ba). Chương trình học gồm chữ Pháp và chữ Quốc ngữ; cuối bậc Ấu học (tức
lớp Ba), học sinh phải qua một kỳ thi để lấy bằng Sơ học Yếu lược (Primaire
Élémentaire).

(2) Tiểu học gồm lớp Nhì năm thứ nhứt (Cours Moyen 1ère année), lớp
Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2ème année), và lớp Nhứt (Cours Supérieur).
Chương trình học cũng gồm chữ Pháp và chữ Quốc ngữ; cuối cấp thi lấy bằng Tiểu
học Yếu lược, cũng gọi Sơ đẳng Tiểu học hay Sơ học Pháp Việt (Certificat d’Etude
Primaire Franco-Indigène, tương đương bằng Tiểu học sau này).
(3) Trung học, gồm hai cấp/ ban Cao đẳng Tiểu học và Tú tài: (a) Cao
đẳng Tiểu học học đủ các môn Pháp văn, Toán, Lý, Hóa, Vạn vật (Sinh vật), Sử,
Địa… tương tự chương trình Pháp, gồm 4 năm: Nhất niên (1 ère année), Nhị niên
(2 ème année), Tam niên (3 ème année), Tứ niên (4 ème année). Tất cả đều dạy
bằng tiếng Pháp, trừ 2 môn Việt văn và Hán văn; (b) Tú tài (Enseignement
secondaire, tương đương Trung học Đệ nhị cấp hay cấp III sau này), thời gian học
3 năm (tương tự 3 lớp bậc sau cùng của chương trình Trung học Pháp), chia làm 3
ban Triết học/ Văn chương, Toán và Khoa học, với học trình gồm các lớp Đệ nhất
niên (1 ère année secondaire, tương đương lớp Đệ tam hay lớp 10 sau này), Đệ nhị
niên (2 ème année secondaire, tương đương lớp Đệ nhị hay lớp 11 sau này) và Đệ
tam niên (3 ème année secondaire, tương đương lớp Đệ nhất hay lớp 12 sau này).
Cũng dạy toàn bằng tiếng Pháp, trừ môn Việt văn và Triết học Trung Hoa. Kể từ
Đệ nhất niên đã bắt đầu phân ban gồm ban Khoa học (Sciences), ban Toán
(Mathématiques), ban Triết (Philosophie). Học sinh học xong Đệ nhị niên (tương
đương lớp Đệ nhị hay lớp 11 sau này) thi lấy bằng Tú tài I (hay Tú tài phần I), nếu
đậu mới được học năm cuối cùng (Đệ tam niên, tương đương lớp Đệ nhất hay lớp
12 sau này) để thi lấy bằng Tú tài II (hay Tú tài toàn phần).
Riêng ở Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên nền học chính đều theo quy chế
thuộc địa, chỉ có chương trình Pháp, nhưng ở vài trường (như Chasseloup Laubat,
Pétrus Ký… ở Sài Gòn) cũng có dạy thêm một số giờ tiếng Việt.
Ở Bắc và Trung, hai chương trình trung học Pháp và Pháp Việt nêu trên
vẫn được áp dụng cho đến năm 1945 thì được thay bằng chương trình toàn Việt
(lấy tiếng Việt làm chuyển ngữ) ban hành trong thời chính phủ Trần Trọng Kim

bằng Dụ số 67 ngày 3/6/1945 do Hoàng đế Bảo Đại ký và được thực thi ngay với
khoa thi Tú tài niên khóa 1944-1945. Đây là chương trình trung học Việt Nam đầu
tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam hiện đại, tham khảo từ chương trình Pháp,
quen gọi Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn, vì do một nhóm giáo sư tâm
huyết ở Hà Nội và Huế biên soạn cấp tốc chỉ trong khoảng 10 ngày, dưới sự chủ
trì, đôn đốc của Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn.
Riêng ở Nam, đến năm 1949, trong thời kỳ Quốc gia Việt Nam dưới quyền
Quốc trưởng Bảo Đại, chương trình cũ (Pháp và Pháp Việt) mới được thay thế
bằng chương trình Hoàng Xuân Hãn.
Đến tháng 9/1949, hai bộ Chương trình Giáo dục Việt Nam mới dành cho
bậc Tiểu học và bậc Trung học với một số thay đổi từ chương trình Hoàng Xuân
Hãn đã được ban hành chỉ cách nhau chừng tuần lễ, dưới thời Bộ trưởng Quốc gia
Giáo dục Phan Huy Quát, để áp dụng chung trong những vùng thuộc Quốc gia Việt
Nam kiểm soát. Được biết sau đó, cả hai bộ chương trình này còn được cải cách
thêm lần nữa vào năm 1953 dưới thời Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Nguyễn
Dương Đôn.
Vì vậy, để thấy được sự tiến triển qua các thời kỳ của chương trình và sách
giáo khoa Việt Nam giai đoạn 1954-1975, chúng ta không thể không xét qua một
số bộ chương trình giáo dục cũ nhưng có tính cơ sở như vừa nêu trên, trong đó có
Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn 1945, và Chương trình Tiểu học 1949,
vì những bộ chương trình Trung và Tiểu khác về sau đều dựa theo 2 bộ chương
trình này để từ đó chỉnh sửa và phát triển thêm, với sự thay đổi gần như không
đáng kể.
Hiện nay, mặc dù chỉ mới sau 40 năm thay đổi, việc khảo sát/ nghiên cứu
đầy đủ về chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước đây là một việc làm
không dễ chút nào. Nguyên do vì các thư viện cả tư nhân lẫn nhà nước đều ít có
chỗ nào quan tâm lưu trữ loại tài liệu này (kể cả Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư
viện Tổng hợp TP HCM, Thư viện Khoa học Xã hội TP HCM…), loại tài liệu mà

người ta đơn giản cho rằng không còn cần dùng đến nữa, nên sau ngày 30/4/1975
đã bị vô tình hủy bỏ hầu hết. Chúng tôi đã ráng lùng sục, hỏi han khắp nơi vẫn
chưa tìm đủ được tất cả những bộ chương trình giáo dục đã được Bộ Quốc gia
Giáo dục miền Nam in ra, còn về sách giáo khoa phục vụ cho chương trình giảng
dạy thì tuy cũng tương tự như vậy nhưng may mắn lại được một số người yêu sách
“hoài cổ” giữ được chút ít. Vì vậy, khi trình bày bài viết này, đặc biệt ở phần
chương trình giáo dục, có những chỗ chúng tôi sẽ trích dẫn nguyên văn tài liệu cũ
khá dài, không phải không biết ngại tốn giấy mực, nhưng ngoài việc minh họa còn
có ý phần nào giúp thế hệ trẻ và những người nghiên cứu lịch sử giáo dục sau này
có sẵn tài liệu tham khảo, khi cần thì vẫn có thể trích dẫn lại được, mà không quá
vất vả như khi chúng tôi phải đi tìm chúng (ở những đoạn trích nguyên văn này,
chúng tôi sẽ cho in bằng font chữ khác với cỡ chữ nhỏ hơn bình thường, cho dễ
phân biệt).
Phần mô tả nội dung cụ thể chương trình học mỗi cấp lớp của hai bậc
Trung, Tiểu học, cũng như sách giáo khoa tương ứng, chúng tôi sẽ chỉ tập trung
vào 3 môn Văn, Đạo đức/ Công dân giáo dục (Tiểu học, Trung học hay cấp I, II) và
Triết (Trung học Đệ nhị cấp hay cấp III) vì nếu giới thiệu sang tất cả những môn
khác sẽ quá mênh mông dài dòng, và vì đây cũng là 3 môn học tiêu biểu cho thấy
những nét đặc trưng của nền giáo dục miền Nam 1954-1975 vốn dựa trên nền tảng
triết lý giáo dục (hay những nguyên tắc căn bản) gồm Nhân bản, Dân tộc và Khai
phóng. Về sách giáo khoa liên quan các bộ môn trên, chúng tôi cũng lại xin chú
trọng giới thiệu chi tiết hơn về sách giáo khoa của bậc Tiểu học, vì quan niệm đây
là bậc học phổ thông nền tảng có tính đại chúng quyết định cho những bậc học tiếp
sau.
Tuy chủ đề bài viết là chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước
1975, nhưng khi trình bày cho từng đề mục hữu quan, chúng tôi không thể không
nhắc qua những giai đoạn trước đó, vì nếu không làm như vậy, sẽ không thể nhận
ra được mối liên lạc nhân quả trong suốt dòng mạch phát triển có tính kế thừa và
liên tục. Chẳng hạn, nếu không nắm bắt sơ qua nội dung các sách giáo khoa về

Quốc văn, Luân lý của thời Trần Trọng Kim trước đó thì sẽ không thể hiểu được lý
do về nội dung hiện hữu của các sách giáo khoa Quốc văn, Đạo đức, Công dân
giáo dục về sau. Tương tự, tìm hiểu về chương trình học của miền Nam trước
1975, như trên đã nói, chúng ta cũng không thể không xét tới những bộ chương
trình cũ đã được biên soạn trước, từ 1945.
Riêng về chương trình và sách giáo khoa ở bậc Đại học, chúng tôi cũng
xin nói lướt qua cho biết vậy thôi, đơn giản chỉ vì Đại học miền Nam được quyền
tự trị, về học vụ mỗi trường đại học tự lo lấy, không có chương trình học quy định
và cũng không bị Bộ Quốc gia Giáo dục chi phối, chỉ đạo. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ
xin lưu ý giới thiệu sơ qua chương trình học và một số giáo trình thường được
giảng dạy trong các trường Đại học Sư phạm, vì quan niệm đây như bộ “máy cái”
đào tạo giáo viên, có tác dụng rất quan trọng đối với toàn bộ sự phát triển của nền
giáo dục chung cả nước.

A. CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TIỂU HỌC
I. CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC

  1. Chương trình Tiểu học 1949
    a. Tổng quát
    Chương trình Tiểu học Việt Nam đầu tiên được ban hành theo Nghị định
    4-NĐ/GD trong thời kỳ Quốc gia Việt Nam dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại, do
    Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Phan Huy Quát ký ngày 27/8/1949.
    Bậc Tiểu học 5 năm 5 lớp, xếp theo thứ tự từ thấp lên cao, gồm: lớp Năm
    (tương đương lớp 1 sau này), lớp Tư (tương đương lớp 2), lớp Ba (tương đương
    lớp 3), lớp Nhì (tương đương lớp 4), lớp Nhất (tương đương lớp 5).

Các môn học: Việt ngữ (Ngữ vựng – Tập đọc và Học thuộc lòng – Văn
phạm, Chính tả và Viết tập – Tập làm văn), Đức dục, Công dân giáo dục, Sử ký,
Địa lý, Khoa học thường thức, Toán pháp, Tập vẽ, Thủ công, Hoạt động thanh niên
và tổ chức hàng đội tự trị, Thể dục, Học hát-Tập kịch-Học nói, Họp lớp, Đi chơi,
Đi cắm trại, Trò chơi.
Chương trình này đã đánh dấu một bước ngoặt tiến triển quan trọng trong
lịch sử giáo dục tiểu học Việt Nam, trở thành căn cứ tham khảo cho những chương
trình tiểu học tiếp sau trong thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Dưới đây là “Chỉ
thị chung” cũng do Bộ trưởng Phan Huy Quát ký tại Hà Nội ngày 24/8/1949, ban
hành như một phụ bản kèm theo Nghị định 4-NĐ/GD nêu trên, nội dung tuy có
phần hơi rối rắm thiếu mạch lạc nhưng cũng đủ cho thấy chủ trương chính sách
qua đó những phương pháp của nền giáo dục mới đã được chính thức đem ra áp
dụng tại Việt Nam cho bậc Tiểu học:

CHỈ THỊ CHUNG
Bậc tiểu học là căn bản của nền quốc gia giáo dục.
Ngành tiểu học có nhiệm vụ đào tạo những thế hệ thanh niên xứng đáng
của một nước độc lập.
Chương trình bậc tiểu học đã soạn theo những nguyên tắc mới để cho nền
giáo dục thời nay được phù hợp với sự tiến hóa của dân tộc và tính cách độc lập
của quốc gia.
1) Tinh thần quốc gia.- Nêu cao tinh thần quốc gia để khích lệ lòng ái quốc
và chấn khởi dân khí. Tinh thần quốc gia Việt Nam ngày nay là tinh thần của một
dân tộc biết tự cường, tự lập, biết phấn đấu để giành độc lập, biết kiên quyết để giữ

giang sơn Tổ quốc, biết nỗ lực để ganh đua với người ngoài trên con đường tiến
hóa của nhân loại.
2) Cưỡng bách giáo dục.- Muốn đạt được mục tiêu nói trên, nền tiểu học
phải đi đến cưỡng bách giáo dục. Bộ đang nghiên cứu để tìm các phương tiện để
dần dần thực hiện được sự cưỡng bách giáo dục. Vì lẽ đó, nên chương trình tiểu
học không dành một số giờ về môn Pháp ngữ.
3) Chuyển ngữ các môn trong chương trình này là tiếng Việt, nên hạn tuổi
tối thiểu vào lớp Năm, là lớp đầu bậc tiểu học, rút xuống 5 tuổi (trước kia 6 tuổi).
Như thế, trẻ con có thể 10 tuổi đã học hết bậc tiểu học. Những học trò nào có thể
theo học bậc trung học được thì 17 tuổi đã thi lấy bằng Tú tài. So với nền trung học
của các nước Âu Mỹ, thì niên hạn ấy là tương đương, và các học sinh xuất sắc sau
này vào các trường đại học cũng một loạt tuổi nhau cả.
4) Lớp mẫu giáo.- Muốn cho trẻ con trước khi vào trường tiểu học đã
được huấn luyện theo các phương pháp khoa học, một lớp mẫu giáo sẽ thành lập
gần đây. Lớp ấy có mục đích là đào tạo một số giáo viên các lớp mẫu giáo sau này
để thu nhận các trẻ con dưới 5 tuổi.
5) Thể dục.- Cho nền giáo dục được hoàn toàn, chương trình bậc tiểu học
dành một địa vị quan trọng cho môn Thể dục. Một tinh thần mạnh mẽ trong một
thân thể cường tráng mới mong gánh vác nổi các công việc nặng nề kiến thiết quốc
gia.
Ngoài ra, sự chú trọng về thể dục là sửa soạn một số thanh niên để sau này
cung cấp cho các trường quốc gia võ bị có nhiệm vụ gây một quân đội Việt Nam
xứng đáng.
6) Ca nhạc.- Bí quyết của sự thành công trong việc giáo huấn trẻ con là sự
hoạt động và vui vẻ. Vì lẽ đó, nên ngay từ các lớp tiểu học, Bộ đã để riêng một số
giờ để dạy môn ca nhạc. Trẻ con thường thích hát và lại nhớ dai, những bài hát sẽ

được lựa chọn, và sẽ luôn luôn nhắc nhở cho chúng những điều chúng cần biết để
nuôi một tinh thần quốc gia mạnh mẽ, một lòng tin vững chắc.
7) Tinh thần đoàn kết.- Một dân tộc mà rời rạc thì tất nhiên yếu hèn, không
thể sinh tồn trong cái thế giới hơn được kém thua này. Nghĩa đoàn kết là một lợi
khí tối quan trọng trong sự tiến triển của một dân tộc. Học đường phải giải thích
cho trẻ biết nghĩa hợp quần. Muốn cụ thể hóa nghĩa đoàn kết, việc tổ chức tập đoàn
sẽ là một điều mới trong chương trình bậc tiểu học.
8) Học đường không có nhiệm vụ chỉ giáo huấn trẻ con, rồi để mặc chúng
tự ý xoay xở lấy. Muốn tránh những kết quả không hay do sự hiểu lầm ấy gây nên,
học đường cần phải liên lạc mật thiết với gia đình, để hướng dẫn học sinh vào các
ngành chuyên môn.
Để giúp vào công việc ấy, sẽ lập những phiếu để ghi các điều nhận xét về
sinh lý, về khả năng, về các điểm có liên can đến sức nảy nở của đứa trẻ về các
phương diện.
9) Ngoài ra, nếu có thuận tiện, sẽ đặt một học xưởng cạnh mỗi trường học
để học sinh có thể hằng ngày trực tiếp tế nhận các hoạt động của một tiểu công
nghệ.

Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 1949
Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục
PHAN HUY QUÁT