Xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra chương trình đào tạo nghề nghiệp theo hướng “phát triển năng lực người học” như thế nào?

Theo Facebook Đặng Phước

Note: đầu năm học 2020 – 2021, trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk có công văn đề nghị các khoa, phòng ban chức năng rà soát lại lại chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành giáo dục mầm non. Chúng tôi được khoa phân công đọc và rà soát lại toàn bộ nội dung chương trình sau đó đã góp ý chỉnh sửa mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, số lượng tín chỉ, phân phối chương trình, thời lượng cho các module mà chúng tôi đảm nhận … Tuy nhiên, hội đồng khoa học nhà trường dưới sự chủ trì của ông hiệu trưởng Nguyễn Trọng Hòa đã bác bỏ tất cả.

Vừa qua, tại hội nghị khoa GDMN bàn việc thống nhất chương trình đào tạo liên thông từ hệ Trung cấp Sư phạm mầm non lên cao đẳng sư phạm mầm non. Sau khi rà soát lại 2 chương trình đào tạo, chúng tôi phát hiện có tình trạng bất cập đó là một số môn học ở hệ trung cấp sư phạm Mầm non có nội dung và thời lượng lớn hơn chương trình cao đẳng sư phạm mầm non hiện hành.

Tại cuộc hội thảo, sau khi được nghe các ý kiến của các tổ chuyên môn, bà phó hiệu trưởng Vũ Thị Thanh Hiển và ông Lê Văn Huy -phó trưởng phòng đào tạo – quản lý khoa học đã thống nhất sẽ đề nghị nhà trường rà soát lại toàn bộ chương trình nhằm đảm bảo tính khoa học, đạt mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra đáp ứng được yêu cầu nhân lực ngành Mầm non cho xã hội.

Để đảm bảo tính pháp lý, sau khi tôi nhận được quyết định ban hành chương trình đào tạo hệ CĐSP ngành GDMN năm học 2020-2021 của ông hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, hôm nay tôi đăng lại toàn bộ bản góp ý của nhóm giảng viên Nhà trường đã quan tâm đến chất lượng đào tạo để rộng đường dư luận.

Văn bản này chúng tôi đã gửi cho hội đồng khoa học vào ngày 26 tháng 8 năm 2020, tuy nhiên ngoài việc không tiếp thu, chúng tôi không được nhà trường phản hồi.

Sau đây là toàn bộ nội dung văn bản góp ý:

1/ Đặt vấn đề:

Xây dựng chương trình đào tạo của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp tức là lập kế hoạch nhằm đào tạo người lao động đáp ứng các chuẩn mực nhu cầu của xã hội. vì thế, việc đặt mục tiêu đào tạo, công bố chuẩn đầu ra là một việc làm mang tính khoa học, chính xác.

2/cơ sở khoa học:

2.1 Khái niệm cơ bản về mục tiêu đào tạo:

+Mục tiêu đào tạo là một “tuyên bố chính xác” những gì mà người học có thể làm được sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Hay nói cách khác, mục tiêu đào tạo “vừa là đích đến vừa là thước đo các giá trị” mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp.

+Mục tiêu đào tạo còn định hướng người dạy lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp đồng thời xác định công cụ đánh giá các kết quả học tập của người học.

Trên cơ sở đó, mục tiêu đào tạo phải được diễn đạt bằng những động từ có thể xác định và đo đạc được, cần tránh những từ chung chung mơ hồ như: “nắm được”, “hiểu được” , “nhớ được”…

2.2 Ý nghĩa việc xây dựng chương trình theo hướng phát triển năng lực người học

Hiện nay, ngành GD&ĐT Việt Nam đang chủ trương đào tạo lao động theo hướng phát triển năng lực, vì thế việc xây dựng mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được khuyến khích sử dụng thang nhận thức Bloom theo sáu mức độ: 1. Nhớ (Remembering); 2. Hiểu (Understanding); 3. Vận dụng (Applying); 4. Phân tích (Analyzing); 5. Tổng hợp (Synthesizing); 6. Đánh giá (Evaluating)

Để áp dụng thang Bloom vào xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo , khi áp dụng 6 cấp độ nhận thức, người ta thường sử dụng các động từ mà người học sẽ chủ động thực hiện được sau khi chiếm lĩnh được nội dung đào tạo, các từ khóa theo cấp độ nhận thức được sử dụng đó là:

1. Nhớ: Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Nêu, gọi tên, nhận diện, nhắc lại, liệt kê…

2. Hiểu: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: trình bày, mô tả, Giải thích, Phân biệt, Khái quát hóa, Cho ví dụ, So sánh…

3. Vận dụng: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Vận dụng, Áp dụng, Tính toán, Chứng minh, Giải thích, Xây dựng…

4. Phân tích: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Phân tích, Lý giải, So sánh, Lập biểu đồ, Phân biệt, Hệ thống hóa…

5. Tổng hợp: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Thiết lập, Tổng hợp, Xây dựng, Thiết kế, Đề xuất, báo cáo, so sánh, sáng tác, tổ chức,….

6. Đánh giá:  Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Đánh giá, Cho ý kiến, Bình luận, phê bình, tranh luận, lập luận, lựa chọn, ước tính, định giá…

3/Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình của các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hiện nay:

3.1. Các căn cứ xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học:

Thời gian qua, Bộ GD&ĐT tổ chức tập huấn trong công tác xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn đào tạo mới ban hành tại Quyết định Số: 17/VBHN-BGDĐT, ngày 15 tháng 5 năm 2014, trong đó tại Khoản 1, Điều 2 Quyết định này có nêu: “Chương trình đào tạo cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình” (Hết trích)

Tuy nhiên, hiện một số cơ sở đào tạo xây dựng chương trình đào tạo theo kiểu chắp vá, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” nên việc đặt ra mục tiêu đào tạo một cách mơ hồ, không xác định được

3.2. Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo của nhà trường

3.2.1 Về mục tiêu:

Theo chúng tôi, mục tiêu đào tạo theo dự thảo đề cương là chưa phù hợp bởi:

a/ Mục tiêu còn dùng những động từ mơ hồ, không xác định, không thể dùng công cụ để đánh giá được “hiểu”; “nắm”:

Ví dụ:

*Mục tiêu chung:

“Đào tạo cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; có hiểu biết cơ bản và hệ thống về sự phát triển của trẻ; tổ chức và phát triển chương trình giáo dục mầm non hiệu quả; có năng lực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn giáo dục mầm non”

*Mục tiêu cụ thể

+ Về kiến thức:

PO1: Hiểu biết về kiến thức giáo dục đại cương để vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GDMN.

PO2: Nắm vững hệ thống kiến thức khoa học GDMN để thực hiện tốt công tác chuyên môn.

PO3: Hiểu biết đầy đủ về mục tiêu, nội dung chương trình GDMN, phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục và sự phát triển của trẻ em ở các cơ sở GDMN.

PO4: Áp dụng có hiệu quả kiến thức khoa học GDMN vào việc tổ chức và đánh giá các hoạt động giáo dục trẻ các đối tượng khác nhau bao gồm cả trẻ dân tộc thiểu số, trẻ có nhu cầu đặc biệt ở tất cả các nhóm tuổi, các loại hình trường, lớp mầm non.”

+ Về kỹ năng:

PO5: Lập kế hoạch định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân và điều kiện thực tế.

PO6: Tổ chức, thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Quan sát, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ; đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kế hoạch giáo dục; phân tích và đánh giá hiệu quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Giao tiếp với trẻ; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển và học tập của trẻ; hợp tác và giao tiếp với đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng trong hoạt động giáo dục; tuyên tuyền khoa học giáo dục, vận động xã hội hóa GDMN” (Hết trích)

b/ Đề xuất sửa chữa mục tiêu phù hợp theo hướng phát triển năng lực người học:

*Mục tiêu chung:

Sinh viên cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non sau khi tốt nghiệp đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ có đầy đủ năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, áp dụng được một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chương trình đào tạo vào thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi một cách khoa học, hiệu quả. Tích cực nghiên cứu khoa học nhằm cải tiến các biện pháp, phương pháp dạy học nâng cao chất lượng công tác giáo dục mầm non

*Mục tiêu cụ thể:

PO1: Trình bày được khái quát về các kiến thức giáo dục đại cương; áp dụng các kiến thức đó một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn giáo dục mầm non

PO2: Áp dụng được hệ thống kiến thức khoa học của ngành giáo dục mầm non trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ

PO3: khái quát được mục tiêu, nội dung chương trình, Phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục mầm non tại các cơ sở giáo dục mầm non.

PO4: Áp dụng được các kiến thức khoa học giáo dục mầm non vào hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đối với các đối tượng khác biệt như dân tộc, vùng miền, độ tuổi, đặc điểm bẩm sinh di truyền…khi được giáo dục trong các loại hình trường lớp mầm non khác nhau.

Về kỹ năng:

PO5: Có kỹ năng lập kế hoạch(năm,tháng, chủ đề, học kỳ…) nhằm định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân theo điều kiện thực tế.

PO6: Có kỹ năng thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Có kỹ năng quan sát có chủ đích, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ, làm chủ được cảm xúc bản thân trong hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch giáo dục, kết quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Có kỹ năng giao tiếp sư phạm, tham gia nghiên cứu khoa học đồng thời áp dụng các kiến thức khoa học giáo dục nhằm tuyên tuyền, vận động xã hội hóa GDMN

PO9: Có kỹ năng hát, múa, thể dục thể thao và làm được các sản phẩm tạo hình phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. ( “PO9”- chúng tôi đề xuất thêm)

3.2.2 Về Chuẩn đầu ra

a/ Các mục chưa phù hợp:

PLO1: Nội dung chung chung, chưa cụ thể hóa:“Có khả năng vận dụng được kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính trị, khoa học tự nhiên vào thực tiễn GDMN”

PLO4: mơ hồ không xây dựng được thang giá trị làm công cụ đánh giá:

“Hiểu và vận dụng được kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành vào hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

PLO1: Áp dụng được các kiến thức khoa học cơ bản vào thực tiễn GDMN

PLO4: khái quát hóa và áp dụng được hệ thống kiến thức cơ sở ngành giáo dục, chuyên ngành mầm non vào các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi

3.2.3. Về phần “chuẩn bị của giảng viên” :

a/ Các nội dung chưa phù hợp:

Phần này trong bảng mô tả chỉ nêu chung chung, không cụ thể gây khó khăn cho ban giám hiệu nhà trường đặt ra tiêu chí tuyển chọn giảng viên, cụ thể:

Chẳng hạn, ý thứ nhất “Trang bị những kinh nghiệm dạy học khác nhau” Viết như thế là rất mơ hồ, không cụ thể

Theo chúng tôi nên thay thế tiêu đề này bằng tên gọi “Yêu cầu giảng viên”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

*Yêu cầu của giảng viên

1/ Có trình độ chuẩn thạc sỹ ngành sư phạm trở lên đối với các chuyên ngành khoa học đại cương; trình độ cử nhân sư phạm trở lên đối với các ngành học thuộc các chuyên ngành năng khiếu như âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục thể chất.

2/Khảo sát nhằm xác định, đánh giá một cách toàn diện các dạng học phần mà giảng viên tham gia giảng dạy.

3/Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tương tác sư phạm một cách hiệu quả trong quá trình tổ chức dạy học

4/khảo sát và xác định được đặc điểm các đối tượng sinh viên trong lớp học mà mình phụ trách

5/nghiên cứu áp dụng đầy đủ các quy chế của ngành giáo dục đối với sinh viên trong quá trình dạy học

6/Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dạy học bao gồm: giáo trình, bài giảng, đề cương chi tiết học phần… Thông báo kịp thời cho sinh viên về lịch trình, kế hoạch dạy học để cùng phối hợp một cách hiệu quả.

4/Kết luận:

Việc xây dựng và chỉnh sửa mục tiêu, chuẩn đầu ra của đề cương theo hướng phát triển năng lực người học đồng thời xác định yêu cầu của giảng viên, sinh viên trong thực hiện qui trình đào tạo là một việc làm khoa học mang tính khách quan và thường xuyên nhằm hướng đến cung cấp cho xã hội sản phẩm do nhà trường đào tạo một cách tốt nhất, được thị trường lao động chấp nhận là nhiệm vụ chính trị sống còn của nhà trường!

Trên tinh thần đó chúng tôi mạnh dạn góp ý, đề xuất với Hội đồng khoa học và Hiệu trưởng nhà trường xem xét điều chỉnh cho phù hợp với quan điểm đào tạo hiện nay!

Nhóm GV thực hiện: Đặng Đăng Phước – Xuân Thái Tuấn – Nguyễn Văn Vinh