Tôi lên tiếng!

Theo Facebooker Ngọc Trang

Note: Liên quan đến vụ việc một học sinh nữ lớp 9 ở Nghi Sơn, Thanh Hóa bị bạn cùng lớp hiếp dâm, BBT Nghiệp đoàn Giáo chức xin trân trọng giới thiệu bài viết của một cô giáo đăng tải trên trang facebook cá nhân kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ cháu gái, sau đây lài nội dung bài viết đã được chúng tôi chỉnh sửa lỗi chính tả.

Bà Lê Thị Yến – Hiệu trưởng
trường THCS Thị Trấn (Nghi Sơn)

Các kênh truyền thông trong nước đồng loạt đưa tin, Theo đơn trình báo gửi cơ quan chức năng, cháu Đ.M.A (SN 2006) là học sinh lớp 9B trường THCS Thị trấn Tĩnh Gia (Thị xã Nghi Sơn) đã bị bạn cùng lớp cưỡng hiếp dẫn đến mang thai ngoài ý muốn. Bà Vũ Thị Cẩm (76 tuổi), bà ngoại cháu A. cho biết, bố mẹ cháu mất sớm do bệnh hiểm nghèo, 5 năm nay cháu A. ở cùng với ông bà ngoại.

 Ông Lê Trương Được, Chủ tịch UBND phường Hải Hòa cho biết, sau khi tiếp nhận thông tin, Công an phường Hải Hòa đã báo cáo Công an thị xã Nghi Sơn phối hợp tiến hành xác minh.

Hiện công an đã triệu tập những người liên quan. Vụ việc vượt quá thẩm quyền nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho công an thị xã thụ lý, giải quyết.

Trả lời báo Pháp Luật Việt Nam, bà Lê Thị Yến – Hiệu trưởng trường THCS Thị Trấn (thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa)  cho biết: “Đây là vấn đề nhạy cảm, chưa đến mức cần phải làm căng vì sợ… ảnh hưởng đến tâm lý học sinh

Bà còn nói thêm: “Sự việc đáng tiếc diễn ra với Đ.M.A là một bài học sâu sắc để nhà trường rút kinh nghiệm trong công tác giáo dục học sinh”

Tôi, với tư cách là một giáo viên, xin bày tỏ quan điểm của mình qua vụ  nữ học sinh lớp 9 trường THCS Thị Trấn (thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa) bị cưỡng hiếp ở Thanh Hóa như sau :

1. Đây là một vụ cưỡng hiếp nhiều lần có tổ chức. Nạn nhân là một học sinh yếu thế, bố mẹ mất từ khi em còn nhỏ (cách đây 10 năm và 6 năm), em ở với ông bà ngoại đã ngoài 70 tuổi bệnh tật và nghèo khó. Em có một anh trai lớn tuổi nhưng đi làm công nhân… Cưỡng hiếp em là học sinh nam cùng lớp, mà lại là lớp trưởng??? Không phải vì cậu lớp trưởng này nhất thời xem phim sexy mà tò mò gây án. Để cưỡng hiếp nhiều lần luôn có 2 học sinh nữ cùng lớp áp tải em Đ.M.A đến địa điểm đã định trước, ở đó là Ng (lớp trưởng) đã chờ sẵn, ngoài ra còn có các học sinh  nam cùng lớp canh gác cho Ng thực hiện hành vi đồi bại đối với Đ.M.A…

2. Sự việc kéo dài từ khi các em bắt đầu học lớp 8, trước đó mới chỉ là hành vi sàm sỡ.  Khi hay tin, bà ngoại của Đ.M.A  đã đến phản ánh với giáo viên chủ nhiệm, nhưng chỉ  được cô hứa giải quyết đồng thời dặn bà không được nói ra gây ảnh hưởng ko tốt (?)  Sự việc tồi tệ  đã không được ngăn chặn mới dẫn đến hậu quả khủng khiếp này.

3. Sau khi sự việc được đưa lên cộng đồng mạng, ngoài những lời động viên an ủi, còn đâu đó có những lời lẽ không thiện chí chỉ triích em Đ.M.Avà gia đình em, về điều này chúng ta cũng nên xem lại thử đặt mình vào trường hợp thân cô, thế cô của ông bà ngoại của em xem thử mình sẽ xử lý như thế nào?

4. Sở Giáo dục Thanh Hóa đã có văn bản chỉ đạo UBND và phòng GD&ĐT Nghi Sơn vào cuộc xem xét và báo cáo… Tôi thiết nghĩ:

+ Đây là một sự vụ nghiêm trọng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài, có tổ chức bởi một nhóm vị thành niên xâm hại tình dục một trẻ vị thành niên. Cần phải nghiêm trị đúng người đúng tội, làm gương để ngăn chặn những vụ việc tương tự có thể xảy ra.

+Tại sao một học sinh suy đồi về đạo đức như vậy lại được cho làm Lớp Trưởng? Vì sao nó đã sai khiến bạn cùng lớp tiếp tay để phục vụ cho nhu cầu đốn mạt của nó mà không một học sinh nào dám tố cáo? . Cô giáo chủ nhiệm lớp 8 của em cũng phải liên đới chịu trách nhiệm, nếu vẫn là cô tiếp tục chủ nhiệm lớp 9 thì cần phải xem xét tư cách giáo viên của cô ta.

 + Xin cộng đồng mạng ngoài động viên an ủi thì đừng xát muối vào lòng cháu gái và người thân của cháu nữa, mỗi hoàn cảnh sẽ có một ứng xử khác nhau… Cháu gái không thể như các em thành phố mạnh dạn và biết tự bảo vệ mình được. Bố mẹ em mất sớm, anh trai lớn đi làm ăn xa lại khác giới tính, ông bà ngoại già cả…em ngại ngùng biết chia sẻ cùng ai? Bên cạnh đó bị các bạn khống chế và dọa dẫm hành hung nữa…đau xót lắm!!!

+Không thể dừng lại ở việc sở GD Tỉnh Thanh Hóa gửi công văn chỉ đạo, cấp dưới để lâu cho chìm xuồng …. rất mong cộng đồng mạng xã hội và các luật sư hỗ trợ  pháp lý để buộc các cơ quan chức năng khởi tố vụ án,  chuyển hồ sơ sang công an điều tra, đưa ra tòa án xét xử .

Tôi kêu gọi các luật sư có tâm hãy tìm hiểu và giúp đỡ gia đình em đòi lại quyền lợi và công bằng cho em! Tôi được biết, gia đình cậu lớp trưởng đang ra sức bênh vực con, nào là cháu còn trẻ chưa biết gì, nào là yêu cầu em gái phá thai… Mong mọi người cùng lên tiếng để công bằng được thực thi. Yêu cầu phải xử nghiêm đủ răn đe cho những trường hợp tương tự, nếu dung túng việc này, sẽ đến lúc nó xảy đến với con cháu chúng ta. Đừng nghĩ vụ việc quá xa, mãi tận Thanh Hóa mà làm ngơ!

Liên quan vụ việc, nick name  Hai Xuân bình luận: “Tôi hoàn toàn đồng ý và kêu gọi mọi người của cộng đồng mạng lên tiếng ủng hộ cháu bé, thử đặt con em mình vào vị trí đó, có ai chịu được không, vì công lý, vì xã hội muốn tốt đẹp, hãy chuyển sang công an khởi tố vụ án”

Thầy giáo Đặng Đăng Phước ở Đăk Lăk, đặt vấn đề: “Giả sử con gái của cô hiệu trưởng này bị xâm hại thì cô nghĩ gì? Hiệu trưởng một trường mà vô trách nhiệm còn cố tình lấp liếm để chối tội!”

Nickname Lê Thị Thanh Hương bày tỏ: “Nếu đúng như bài viết nói thì tôi nghĩ đây là vụ việc có tổ chức rất đáng sợ của 1 nhóm hs vị thành niên… pháp luật cần phải nghiêm trị mạnh tay để răn đe những kẻ có đạo đức suy đồi từ sự giáo dục vô tranh nhiệm của gia đình… riêng phụ huynh của những đứa trực tiếp và gián tiếp tham gia cũng phải liên đới chịu tránh nhiệm vì tội vô giáo dục với con họ… còn cháu bé bị hại thật đáng thương, cháu đã mồ côi cả cha và mẹ thế mà còn gặp phải lũ bạn bất nhân bất nghĩa … con gái à, cố lên nhé rồi chúng nó và gđ cũng sẽ phải trả giá đắt về việc này”

Nickname Nguyễn Quốc Tuấn cho hay: “Vụ việc này rất nghiêm trọng, nó xảy ra một thời gian rất lâu, có tổ chức, phải nói đây là một hành vi dã man mất nhân tính, mới học lớp 8 mà đã suy đồi đạo đức cuồng dâm như vậy ăn hiếp kẻ yếu Thế rồi được cô chủ nhiệm bao che thì thứ hỏi ở đó là nhà trường hay nhà thổ, giáo dục học tri thức hay là dạy cách làm tình bạo dâm đây, đề nghị CA vào cuộc, trả lại sự công bằng cho cháu bé, rất thương tâm này, cháu đã bị mồ côi ở với ô bà ngoại, một con người yếu Thế bị một lũ súc sinh hành hạ đến tận cùng đau khổ, Không thể nào tha thứ được, đề nghị những người ở gần nhà em hãy lên tiếng giúp em, chứ một mình em yếu đuối bên cạnh một lũ khốn nạn nham hiểm thì làm sao em đòi công lý cho mình được, xin các bác hãy giúp em”

Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=178555700466806&id=100049371313576

Thư trả lời bạn đọc Nguyễn Quốc Dũng

Ngày 23 tháng 9 năm 2020

Thân chào bạn Nguyễn Quốc Dũng,

Nhà giáo Tôn Nữ Thóc Nâu

Chân thành cám ơn bạn đã có nhã ý liên lạc với chúng tôi và mong muốn trao đổi với chúng tôi về một vài nội dung mà bạn thấy còn bất cập ở cách giảng dạy và quản lý sinh viên ở Việt Nam.

Trước tiên, chúng tôi chưa biết bạn là ai, có nghề nghiệp như thế nào, đang sinh sống ở đâu và làm thế nào mà bạn biết chúng tôi. Theo lẽ thông thường, bạn phải tự giới thiệu bạn trước khi trao đổi với chúng tôi và chúng tôi cũng phải tìm hiểu xem bạn có thật sự là người đang quan tâm tới đời sống cũng như nền giáo dục của nước nhà. Bạn có đồng ý như thế không?

Vui lòng cho chúng tôi biết thông tin về bạn, chúng tôi sẽ giới thiệu bạn với nhà giáo Tôn Nữ Thóc Nâu, như vậy mọi trao đổi sẽ có hiệu quả hơn.

Trân trọng!

Khối nghiệp đoàn Viêm Việt

Liên lạc: Nhà giáo Tôn Nữ Thóc Nâu

(Whatsapp, Viber): +1 (510) 502-7015

Điện thư: tonnuthocnau@gmail.com

Áp dụng Việt đạo vào Việt y (1)

Tác giả: Việt Nho

(Theo lời yêu cấu của GS Tôn Nữ Thóc Nâu và nhóm Phát huy Tinh Hoa Việt Cổ)

          Y học có nhiều có nhiều nhánh: Đông Y, Tây Y và Việt Y. Nhành Việt Y còn gọi là thuốc tam bao gồm nhiều môn phái như: cạo gió, giác hơi, lể đẹn, bắm huyệt, bào chế thuốc Nam và nấu ăn theo dưỡng sinh đặt trên căn bản của Tam Cương và Ngũ Thường của Việt Dịch. Bài viết sẽ được trình bày trên hai bộ môn chính là:

Tập hít thở quán niệm

I. Phương pháp hít thở theo tinh thần Việt đạo

II. Lấy thuốc ở trong ta và trong đất trời

 Trong kỳ thứ nhất, tôi xin trình bày phần I (Hít thở ba thì thiên địa nhân )

I. Phương pháp hít thở đúng tinh thần Việt Đạo

1/ Hít thở 3 thì: Thiên – Địa – Nhân kết hợp nuốt nước miếng 

(Có thể xem như ngón đòn võ thuật “Bách đả nhất trừ”

          Cách Hít Thở của BS Nguy ễn Khắc Viện: BS Viện sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, mất 1997. Năm 35 tuổi bị cắt 1 lá phổi trái và 1/3 phổi phải . Ông BS người  Pháp bảo ông chỉ sống thêm được 2 năm sẽ chết nhưng thật kỳ diệu, ông sống thêm 50 năm nữa và qua đời lúc 85 tuổi

Dưới đây là bài vè 12 câu dạy hít thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra

Phình bụng hít vào

Hai vai bất động

Chân tay thả lỏng

Êm chậm sâu đều

Tập trung theo dõi

Luồng ra luồng vào

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Đứng ngồi hay nằm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được!

Như trên là là sự hướng dẫn hít thở theo Thiền Quán Niệm của BS Nguyễn Khắc Viện do BS Đỗ Hồng Ngọc truyền lại. Tôi thì làm chuyện quán niệm hơi thở cách ngắn hơn là nhẩm trong đầu bốn câu văn vần để cho tâm trí mình khỏi chạy lung tung sau hơi thở ra:

“Hít vào dưỡng khí chạy vào

Thở ra thán khí tuông trào chạy ra

Khí vào nuôi dưỡng thân ta

Thở ra buông thả an hòa thân tâm”

(BS Đỗ Hồng Ngọc)

      Và, bốn câu nầy lại được lập lại trong hơi thở kế tiếp suốt buổi tập thở. Nhưng đây chỉ là một trong nhiều cách làm chứ không là một khuôn mẫu cố định. Nhiều người có tự lực chưa cao thì cũng có thể niệm danh hiệu lục tự  A Di Đà Phật hoặc niệm lời cầu xin Đức Mẹ Maria …

         Hít Thở  ba thì  đi kèm tĩnh tâm vả nuốt nước miếng

   kích thích huyệt đạo trên nguyên tắc đồng thanh, đồng khí tương ứng, tương cấu gọi là đờng ứng trị liệu pháp (thầy Lý Phước Lộc)

  2/ Hít Thở Theo Mô Thức Tam Tài Thiên Địa Nhân

Dưỡng khí là rất cần cho một cơ thể sống:  Một cơ thể sống không thể thiếu lượng oxy, nhưng làm cách nào để có lượng oxy?  Thưa, cần thở cho đúng cách,  thở lâu, dài, đều và với ba thì thở:

 a. Thở ra: tóp bụng lại, làm hoành cách mô đưa lên, đẩy hết thán khí trong phổi ra, hơi thở càng dài càng tốt nhưng cũng phải tùy sức của mình. Ban đầu có thể hơi thở ngắn nhưng tập lâu ngày hơi thở càng lúc càng dài ra.

b. Hít vào: Hít vào bụng phình ra, hoành cách mô kéo xuống là cho dung tích phổi tăng lên, dưỡng khí đưa vào phổi sẽ nhiều hơn

  c. Nín thở: Việc nín thở giữ hơi lại trong người có tác dụng đưa khí huyết lưu thong cùng khắp cơ thể, nhưng thời gian nín thở cũng phải tùy sức, thùy người, nghĩa là tùy thời vị. Kéo dài thời gian nín hơi sẽ là cho áp huyết tăng, tốt cho người áp huyết thấp nhưng không tốt cho người đang có áp huyết cao, mình phải là thầy thuốc của mình, mình cần phải chiêm nghiệm bản thân mình mà tập thở. 

Ba thì: thở ra, hít vào, nín thở là ba thì một hơi thở, khi thực hiện xong, ta lại tiếp tục chu kỳ hơi thở với ba thì như vừa nói.

 Hơi thở cần sâu, nhẹ, đều và trong tư thế tĩnh lặng: Những loài vi trùng, vi khuẩn và tế bào ung thư hầu hết đều phát triển mạnh trong môi trường thiếu khí (yếm khí). Hít thở để đưa dưỡng khí tối đa vào phổi, ngoài việc làm cho máu tốt để nuôi  cơ thể, oxy còn có tác dụng diệt khuẩn và làm chậm tiến trình phát triển tế bào ung thư.

Tĩnh lặng trong lúc thở sẽ làm cho hệ miễn nhiễm hoạt động tốt, làm giảm căng thẳng, stress, điều hòa nhịp đập của tim …

Việc làm cho tâm tĩnh không là điều dễ làm, bởi “tâm viên, ý mã” (Tâm nhảy lung tung như khỉ, ý chạy như ngựa)

 Muốn giữ tâm định cần có phương pháp: Trong lúc hít thở đừng nghĩ lung tung mà tập trung theo dõi hơi thở của mình: Thở ra, biết mình đang thở ra, hít vào biết mình đang hít vào, nín thở biết mình đang nín thở.

Nếu tư tưởng chạy lạc thì hãy kéo nó lại với hơi thở của mình, việc làm nầy thiền học gọi là thiền quán niệm hơi thở (Ānāpānasati)

Suốt trong thời gian tập thở cần nuốt nước miếng: Nước miếng được xem như nước cam lồ. Nó có ba tính qúi:

      Tiêu hóa thức ăn; Làm mát lục phủ, ngũ tạng; Có tính sát trùng cao

 Thường  nước miếng của mình  nó độc là độc  đối với người khác, nhưng với chính mình thì nó rất bổ, tương tự như  yến sào!

Ăn tổ yến vừa tốn tiền, đôi khi còn bị “tiền mất tật mang” vì ăn trúng tổ yến giả do bọn gian thương hám lợi bán cho, chưa nói đến ăn tổ yến là bất nhân lắm!

Thật ra, tổ yến không gì khác hơn là nước miếng của loài chim yến: Chim yến làm tổ bằng nước miếng của chính nó. Đôi chim Yến đã rút nước miếng của mình ra để làm tổ và đẻ trứng vào đó, nếu tổ bị hư hao vì gió bão hay vì con người lấy tổ, yến phải cố sức vét nước miếng cạn kiệt đến máu chảy ra mà xây tổ mới. Người ăn yến thường thích loại yến huyết; tổ yến huyết hơn loại thường.

          Điều đáng thương tâm là, khi người ta khai thác yến, trứng hay con đều bị vứt chỉ lấy tổ, và khi chim mẹ về mất con, mất tổ kêu la thảm thiết lắm, rồi bay vút lên trởi cao, nhào đầu nơi chỗ tổ bị con người lấy mà tự tử. Con chim trống cũng làm thế để cùng chết với vợ và bầy con ngay nơi chỗ tổ mà con người lấy mất. Có một số con trống không tự vẫn, mãi sống để gậm nhấm nỗi đời cô đơn. mất vợ, mất con và cả đời không bao giờ có vợ khác.

          Những ai còn chút lương tâm khi biết được loài chim đầy tính trung thành và yêu thương con cái, chắc không bao giờ ăn tổ yến mà thay vào đó là bằng nuốt nước miếng của mình để có sức khỏe tốt.

          Trong phần thảo luận có một bạn trẻ trong nước hỏi về gan bị nhiễm siêu vi B và thận bị sạn  được trả lời là để chữa bệnh viêm gan B, nên sắc lá mơ lông sau khi đã sao vàng hạ thổ rồi uống, cứ kiên trì chắc chắn bệnh sẽ thuyên giảm. Bệnh sõi thận thì hãm nước chuối hột sau khi đã sao vàng, xay nhuyễn uống thường xuyên.

          Chi tiết bài thuyết trình xin vào link: https://drive.google.com/file/d/1-hirjxotKf7Itq7oudi4ssujUvq3TqTl/view?usp=sharing

Mời quý vị đón đọc kỳ II sẽ trình bày phần “Lấy thuốc ở trong ta và trong đất trời” 

Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian ra đọc và nghe

San jose, 17/9/20

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com Fb: Việt Nho Nguyễn

Văn hóa xưng hô!

Bài viết này không đề cập đến việc xưng hô trong tôn tộc, gia đình có quan hệ huyết thống mà chỉ đề cập đến nhân xưng ngoài xã hội!

Về quan hệ xã hội, có hai cách xưng hô đó là xưng hô theo chức vụ và xưng hô theo tuổi tác.

Xưng hô theo chức vụ, là khi ta đến các cơ quan công sở, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội dân sự ta nên xưng hô theo chức vụ các vị quan chức hay chức sắc để thể hiện sự tôn trọng tổ chức. Tuy nhiên, thái độ phải đàng hoàng chửng chạc, chỉ xưng gọi chức vụ của người tổ chức khi mới vào lần đầu, còn sau đó thì nên gọi “ông”, “bà”, “cô” và xưng “tôi”. Cần nói thêm là không được tỏ thái độ khúm núm, hèn hạ như xoa tay, cúi khom người …

Xưng hô theo tuổi tác đó là cách ứng xử văn hóa của người Việt từ bao đời nay!

Theo cách đó, người nhỏ tuổi xưng hô với bậc cao niên đáng tuổi anh, chị, chú, bác, ông, bà của mình thì gọi theo đúng vai như thế để thể hiện sự tôn trọng người lớn tuổi. Trường hợp, mới gặp chưa biết tuổi nhau thì gọi “anh, chị” xưng “tôi”để giữ phép lịch sự xã giao!

Người có văn hóa, trọng Lễ Nghĩa, việc xưng hô theo tuổi tác không bị ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị, vì thế cho dù khác chiến tuyến thì người ta vẫn xưng hô đàng hoàng, tử tế.

Thời tôi sống ở miền Nam Việt Nam dù khác quan điểm chính trị với miền Bắc tuy nhiên người miền Nam vẫn được dạy cách xưng hô một cách trung dung không bày tỏ thái độ miệt thị, chẳng hạn như gọi là ‘ông Hồ Chí Minh’, ‘ông Phạm Văn Đồng’, ‘ông Tôn Đức Thắng’…chứ không ai gọi thằng này, thằng nọ bao giờ cả!

Ở miền Bắc thì dạy cách xưng hô thế nào? Tất cả những thành viên của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều bị gọi một cách xách mé, miệt thị chẳng hạn như như “thằng Diệm” “thằng Thiệu”… Nếu xưng hô theo cách đó thì Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc đều bị gọi bằng “thằng” cả?

Tôi xin lỗi các vị Tổng thống VNCH quá cố vì đã phải nhắc lại cách gọi tên của người miền Bắc để cho thấy văn hoá giáo dục ở thể chế cộng sản như thế nào?

Người ta nói: “thể chế chính trị nào thì nền giáo dục đó, nền giáo dục nào thì con người đó” quả là không sai!

Một luật sư còn trẻ tuổi như Nguyễn Thuỷ mà dám gọi cụ già đáng tuổi ông mình là “thằng”và đòi đem tùng xẻo cụ trong khi cụ chưa làm điều gì hại nước, hại dân mà cụ chỉ đứng ra bảo vệ đất đai của tổ tiên bao đời nay. Vậy mà, người ta vào tận phòng ngủ để bắn chết cụ rồi dùng đám con ranh DLV, AK47 để phỉ báng cụ không tiếc lời thì đạo đức và luật pháp ở đâu?

Nhà giáo Đặng Đăng Phước

Lý Thường Kiệt đánh Tàu liệu có “hỗn”?

Việt Nho

1.     Thích Chân Quang là ai?

Trong một buổi thuyết giảng trước đông đảo Phật tử, tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT), ông Thượng Tọa Quốc Doanh Thích Chân Quang đã nói: “Tàu là Anh ta là em, Lý Thường Kiệt đánh Trung Quốc là hơi hỗn” (hết trích), vậy Thích Chân Quang là ai? Phát ngôn của ông ta như thế có đúng hay không?

Thích Chân Quang nhận danh hiệu
“Nhân tài đất Việt thời kỳ hội nhập quốc tế

Vừa qua, vào ngày 14/8/2019 (nhằm ngày 14/7/năm Kỷ Hợi), tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT) đã diễn ra buổi Lễ trao tặng bảng vàng vinh danh NHÂN TÀI ĐẤT VIỆT THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ dành cho TT. Thích Chân Quang – Phó trưởng ban Kinh tế Tài chánh T.Ư GHPGVN, Viện chủ Thiền Tôn Phật Quang do Viện Khoa học Nghiên cứu Nhân tài Nhân lực Việt Nam tổ chức.

Nguồn từ nhà nước Cộng Hòa Xã Hộì Chủ Nghĩa Việt Nam: Thầy Thích Chân Quang hiện là vị Hòa Thượng chân tu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hiện tại, Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang – Bà Rịa Vùng Tàu.

Thầy có lòng yêu nước rất nhiều, nên Thầy thường xuyên là đối tượng của các thế lực phản động chống phá. Ta có thể thấy lòng yêu nước của Thầy thể hiện ở rất nhiều bài giảng. Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang … Thầy Thích Chân Quang hiện là Hòa Thượng làm Phó trưởng ban kinh tế tài chánh TW của GHPGVN.

Nguồn từ Nhật Ký Yêu Nước

Thích Chân Quang nổi lên như cồn thời Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (con vô thừa Nhận của HCM). ông ta diễn thuyết những câu chuyện luôn gắn liền với đời sống chính trị, nhưng ở hàm ý ca ngợi chế độ CSVN và bào chữa cho việc làm sai trái của Tàu vào thời nhà Tống như bài giảng của Ông nói về Đức Lý Thường Kiệt: “Tàu là anh, ta là em. Lý Thường Kiệt đánh anh là hỗn”. Xin vào đường link dưới đây để nghe bài giảng của ông ở: https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/videos/1675775075782566/

          Chưa hết, sư quốc doanh Việt Cộng GHPGVN nầy còn nói Đế Minh dòng Viêm Việt là vị vua đầu tiên của Tàu.  Đé Nghi con của Đế Minh là người Tàu, giải thích lươn lẹo như vậy nhằm nói lên rằng: “ta là em, Tàu là anh, đánh Tàu là hỗn”.  Dưới đây tôi sẽ vạch mặt trò gian xảo, lươn lẹo nầy của ông sư của tình báo Hoa Nam

II. Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương (Lục Tộc) là Tàu hay Việt Theo Tinh Thần Của Huyền Sử?

Muốn biết được điều nầy nghĩ cần làm rõ huyền sử và cổ sử của Hán Việt:

Huyền sử là ngoại sử, tiền sử, là thời kỳ của Hồng Bàn Thị. Chính sử về sau thuật lại rằng: thời kỳ Hồng Bàng khởi đi khoảng năm 2879 TCN nghĩa là cách nay ngót 5000 năm, thuộc niên đại của Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ.  Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ XuyênTrung Quốc ngày nay). Như thế liên bang Việt tộc (Bách Việt) thời bấy giờ là cả một vùng đất mênh mông từ Dương Tử Giang đến giáp Chiêm Thành. Tuyệt nhiên không có bóng dáng của nước Hán (Chine, China)

Chính sử: Theo Đại Việt Sử ký Toàn thưĐế Minh (dòng Viêm Đế, Viêm Việt) là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh (Viêm Việt) truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), và Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lục Tộc làm vua xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2879 TCNLục Tộc/Kinh Dương Vương lấy Tiểu Long Nữ là con của chủ nhân Động Đình HồThần Long, Tiểu Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, làm vua, xưng là Lạc Long QuânLạc Long Quân: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_B%C3%A0ng

Như vậy: dòng Thân Nông, Đế Minh, Đế Nghi, Lục Tộc Kinh Dương Vương Sùng Lãm LLQ đều là đều thuộc Việt tộc. 

Đế Minh (cháu ba đời Thần Nông), Đế Nghi,  Lục Tộc là hai anh em ruột có cùng một người cha là Đế Minh, vua Việt đầu tiên trên phần đất Bách Việt cũ. Ngay cả Thần Long (chủ nhân Động Đình Hồ),Long Nữ (con gái Động Đình Hồ) và LLQ, Âu Cơ đều là dòng Viêm Việt Đế Minh

Kể từ Thần Nông là huyền tự chỉ khoảng không hỗn độn (Chaos) ban sơ khi mặt trời và qủa đất chưa hình thành, đến Đế Minh (Viêm Đế, chứ không là Đế Viêm) là thần thuộc xứ nóng Xích Đạo dòng Viêm Việt. Từ Thần Nông đến Viêm Đế/ĐếMinh được ghi nhận là ba đời. Đây là phần huyền sử nói về sự hình thành của Trời Đất, nói khác đi là giai đoạn của Thiên Sử hay Sử Vũ Trụ.

Đến Đế Thần Long + Long Nữ là thế hệ thứ tư kể từ Thần Nông

Đế Nghi + Lục Tộc (Kinh Dương Vương) là thế hệ thứ 5

Sùng Lãm/Lạc Long Quân là thế hệ thứ 6

Sáu “thế hệ” (từ tạm gọi), 3 thế hệ đầu thuộc Thiên Sử, 3 thế hệ sau thuộc sử nhân gian. Điều đáng ghi nhận ở đây là: Tục lệ Nam phương 5 thế hệ được xem là “Ngũ đại đồng đường”, trong việc dựng vợ gả chồng việt tộc không lấy nhau vì còn là “đồng đường”, Sùng lãm/Lạc Long Quân và Âu Cơ thuộc đời thứ 6 nên huyền sử kể là không còn là “đồng đường” nên có thể kết hợp thành vợ chồng. Đây là điểm khác biệt về tục lệ của phương Nam Việt tộc với Hán tộc Bắc phương rất rõ ràng khác nhau là: dòng Nam Tộc các trẻ, con cô con cậu không thể lấy nhau, nhược lại với Hán Tàu là con dì, con cô có thể lấy nhau.

Lấy Lý Số để giải thích con 5 (5 thế hệ) là con huyền số, viết ra Lý Số là con LI 101 (nằm phương Nam BQHT) vừa chỉ ra phương vị, vừa nêu ra Đạo Lý của phương nầy về tính chất “đồng đường” (chung một từ đường) thì không được kết hôn với nhau vì còn xem là bà con.

Về truyện hoàng Đế đánh Si Vưu: Xi Vưu (cũng đọc là Xuy VưuSi Vưu, “Txiv Yawg”. là một anh hùng cổ xưa của người Miêu ở phần Đất Trung Hoa. 

Xi Vưu, cùng với Hoàng Đế và Viêm Đế, được coi là ba quốc phụ vĩ đại. Si Vưu là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc. Si Vưu Là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu rất dung cảm với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc trong. Si Vưu đã thể hiện được uy lực trong chiến tranh, tên gọi Xi Vưu cũng trở thành đồng nghĩa với từ “chiến tranh” trong tiếng Hán, những người tôn trọng thì xem ông như là “chiến thần”, còn những người bài xích thì xem ông như là “họa thủ”. Đối với người Miêu“Txiv Yawg” (Si Vưu) là một vị vua thần thoại có tính khôn ngoan. Người ta tin rằng ông là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc được hình thành bởi một số bộ lạc ở miền nam Trung Hoa khoảng 3000 TCN 

Các sử gia đều thừa nhận rằng nguồn gốc của Si Vưu là rất phức tạp, và việc nầy đã gây tranh luận không ít trong giới sử gia, ông có thể thuộc tộc Miêu (H’Mông), Đông Di, hay thậm chí là Man, tùy theo nguồn và nhận định. Ngày nay, Si Vưu vẫn giữ một vị trí quan trọng trong thần thoại của người Miêu (Mèo), người Miêu hiện vần còn tồn tại ở vùng cao miền Bắc Việt Nam).

Ở vào khoảng niên đại nầy (3.000 năm TCN), nhà Hán Tàu chưa hình thành, đến Hán Cao Tổ (256 TCN _195 TCN) nhà Hán mới có.

Tôi nghĩ từ “Hoàng Đế” là từ phịa đặt của đám Hán về sau và  như thế, thực chất trận chiến ở Trác Lộc là trận chiến mang tính “nồi da xáo thịt” của con cháu dòng Viêm Việt mà thôi.

Người mà sách vở Tàu viết là Hoàng Đế thì chẳng là “Hòang Đế” mà là “Đế Hòang” mới phải lẽ. Thật sự chẳng có ông Hoàng Đế nào cả! Điều nầy, trong chúng ta ai cũng biết là: Lũ Hán Tàu là bọn cướp gian manh luôn luôn sửa sách sử, phịa đặt huyễn (dấu ngã) sử, để dễ bề Hán hóa ta. Điều nầy, không ai không thấy là: từ thời Xuân Thu đã được ghi chép về truyền thuyết Xi Vưu, song thường nó mâu thuẫn là với nhau. Muốn rõ xin vào xem tài liêu tham khảo trên mạng ở link:https://vi.wikipedia.org/wiki/Xi_V%C6%B0u (phần phân tách và giải thích là phần viết của tác giả)

Cũng theo chính sử, Hán Cao Tổ 256 TCN _ 195 TCN), húy Lưu Banglà vị hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Hán, Hán Tàu chỉ thực sự xuất hiện từ  Hán Cao Tổ.

Qua đoạn huyền sử và thực sử trên, chứng tỏ rằng: Hán Tàu là đám sinh sau đẻ muộn, sau những nhiều ngàn năm sau Viêm Việt (Đế Minh), Việc phân ranh Nam Bắc: Đế Lai trị vì phương Bắc, Lộc Tục cai trị phương Nam lấy núi Ngũ Lĩnh (ngày nay thuộc tỉnh Hồ Nam) làm ranh giới để phân ranh, Bắc Ngũ Lĩnh thì thuộc Đế Nghi cũng là nằm sâu hẳn vào lành địa của Việt tộc, nghĩa là nằm về phía Nam Động Đình Hồ, sông Dương Tử/ Trường Giang, như ngày nay câu hát ru em của các bà mẹ Việt còn hát để nhắc cho con cháu ngàn sau nhớ đến gốc gác khởi nguyên của Việt tộc:

“Động đình Hồ mẹ ru con ngủ

Năm canh dài thức đủ năm canh

Lạnh lành lanh, lạnh lành lanh”

Ngay cả như núi Thái Sơn trong hiện tại là thuộc Tàu Chệch, nhưng trước đây vẫn là của Việt tộc nên Mẹ Việt Nam mới lại hát rằng:

“Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ, kính Cha

Cho trọn chữ hiếu mới là Đạo Con”

Những bài hát ru nầy nhằm truyền dòng cho con cháu Việt ngàn đời biết về đất tổ đả bị giặc phương Bắc cưỡng chiếm, với niềm hy vọng một ngày nào đó giống chim Hồng Lạc trở lại quê xưa khi mùa xuân nắng ấm trở về lại đất Bắc, như lời thơ của Nguy Ý Nguyễn Hữu Ngư muốn nhắn gởi cho con cháu Việt tộc:

Mặt đất Bắc nặng dày băng tuyết

Sự sống còn le lói như ma trơi

Giống chim Hồng, chim Lạc khắp nơi nơi

Vội vỗ cánh xuôi Nam tìm nắng ấm

Và tự hẹn đến mùa Xuân khie thắm

Người tung tang và chim véo von ca

Sẽ cùng nhau ngược dòng Nam tiến

Trở về thăm quê cũ đợi ai mà

Việc nầy không khác với lời chào nhau mỗi độ Xuân về của người Do Thái suốt dọc dài 2.000 năm thất quốc, mội độ xuân về là hẹn nhau xuân đến sẽ gặp nhau trên đất tổ quê hương của họ …

Qua phân tích trên thì Thích Chân Quang nếu không là con cháu Hán Tàu thì hắn cũng phải là tên điệp viên văn hóa của tình tình báo Hoa Nam. Nhưng cây kim trong bọc lâu ngày rồi cũng lòi ra, sự chỉ bị che dấu một thời chứ không thể dấu mãi được. Ngoài ra có thể nhìn con thì biệt cha và ngưôc lại (Tel père, tel fils). Hôm nay cứ nhìn đám Tàu Tập và đảng của nó thì biết ông cha của chúng:

Nhìn nay thì biết sự xưa

Bọn người Hán tộc là ưa nống, bành (1)

Hôm nay đảng Tập lưu manh

Diệt Mông, Mãn, Tạng cũng anh Tàu Phù (2)

1)    Nống, bành: Nống lấn, bành trướng

2)  Tàu Phù: Tàu Phù là bành trướng, phình ra. Chữ  “phù” có trong từ “phù thũng”. Tàu Phù là Tàu mang lấy tính con Khảm 010 là tính bung ra, bành trướng. xâm lược

Cảm ơn qúi vị đã bỏ tời gian ra đọc

San Jose, 15/ 9/2020. NVN.

Email: nguyenvietmho1943@yahoo.com

FB: Việt Nho Nguyễn

Hiểu thế nào là “Thiên thư” trong bài “Hịch phá Tống” của Lý Thường Kiệt

Tác giả: Việt Nho

1. Đôi Hàng Về Thân Thế Và Sự Nghiệp Lý Thường Kiệt

Ngài Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt (李常傑; 1019–1105), Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái TôngLý Thánh TôngLý Nhân Tông, Ông  vốn họ Quách, tên Tuấnbiểu tự là Thường Kiệt  vì có công lớn với nước nhà nên được vua ban ân sủng đặc biệt là đổi sang họ của vua là Lý. Ngài Lý Thường Kiệt chẳng những là một tướng đại tài, ngài là người đầu tiên và duy nhất đã dùng thế “tiên hạ thủ vi cường”, đánh chiếm hậu cần ở các châu Khâm, Liêm và Ung Châu của Tàu, mà ngài còn là vị danh Nho, được lưu danh mãi với bài thơ phá Tống, được người đời xem như là bài tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta:

Nguyên văn:

南國山河

南 國 山 河 南 帝 居

截 然 定 分 在 天 書

如 何 逆 虜 來 侵 犯

汝 等 行 看 取 敗 虛

Phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

2. HIỂU THẾ NÀO VỀ CUỐN THIÊN THƯ (SÁCH TRỜI)?

2.1_ Thiên Thư Là Gì?                                                

Trời đất không nói cho dầu nửa lời, thế nên cái mà gọi là “Thiên Thư” hẳn không là một bản văn được viết bằng chữ qui ước mà là bức thư được thiết lập bằng tượng số của Đất Trời/Âm nòng (0) và Dương (1), gọi là triết tự (từ dùng trong KInh Hùng) để hình thành “Thiên Thư”. Vậy, sách trời tức là bức đồ hình Hà Đồ và tượng của Hà Đồ như là tượng con rùa thần, như 3 đồ hình bên dưới chưng ra bức “Thiên Thư”:

                                            H1                            H2                    H3                         

H1: Lạc Thư dưới dạng số, H2: Hình Lạc Thư dưới dạng chấm đen âm, trắng dương _ H3: Hình Rùa Thần từ Hà Đồ mà ra

2.2_Nguồn Gốc Thiên Thư: Là Thư của Trời Đất Và Cũng Là Bức Thư Của Tộc Việt

@ Trong Trời Đất vốn sẵn được phân định 4 phương, tứ hướng và các phương hướng nầy mang sẵn trong nó tính phong thủy tương sinh tương khắc, nói khác đi là nguồn của “thiên thư” là vốn tự nơi Càn Khôn/Trời đất chưng ra. Tổ Tiên dòng Việt quan chiêm “thiên thư” mà trời đất chưng ra nầy và dùng “gậy thần đốt trúc có hai đầu Âm Dương” mà hình thành bức ‘quái đồ” Lạc Thư để chưng ra cức thư của Trời Đất. (Xin đọc lại phần Viết về Đệ nhất Tứ Bất Tử Thần Tản Viên đã dung gậy trúc do Long Vương tặng mà hình thánh Thiên Thư Lạc Thư)

Lạc Thư Thấy Qua Tượng Bánh Chưng Tiết Liệu Đã Dâng Lên Hùng Vương 6

Quả là “Cha làm thầy con đốt sách”! Ngày nay con cháu gói bánh chưng không dùng lạc tre, trúc mà dùng đủ thứ dây để buộc bánh và buộc không theo một khuôn phép nào khiến đã đánh mất ý nghĩa chiếc bánh chưng để dâng cúng Ông Bà Tổ Tiên.

Ngày xưa bánh chưng của Tiết Liệu dùng 4 lạc tre để buộc, chua hình vuông của bánh ra thành 9 ô, gọi là cửu cung (tức hình Lạc Thư). Qua đó, tượng bánh chưng cũng là tượng hình của Thiên Thư Lạc Thư (Xem hình 1 và 2) để chưng ra Đạo Lý phong thủy của Càn Khôn/Trời Đất mà Đức Lý Thường Kiệt gọi là “Định phận tại Thiên Thư”.

Xuyên qua ý nầy ta mới được cái lý do tại sao mà Hùng Vương 6 đã trao truyền ngôi vua cho hoàng tử thứ 18 là Tiết Liệu trong, là một trong số 20 hoàng tử. (Con 18 và con 20 là hai con huyền số. 18 là Thuần Khảm 010/010, Khảm/Thủy là Lý Trí “trí gỉa nhạo Thủy”; con 20 là Lôi Thủy Giải 010/100. Giải là giải tỏa, giải quyết)

Tóm lại, nguồn gốc của Lạc Thư là xuất khởi tự Càn Khôn/Trời Đất và để làm lối dẫn cho con cháu ngàn sau, tổ tiên Việt tộc (Việt Thường) đã mô phỏng theo Trời Đất mà hình thành  “Thiên Thư” chưng ra Đạo Lý Đạo Lý Càn Khôn vì thế Đạo Càn Khôn cũng là Việt Đạo trong cả hai nghĩa của chữ Việt là Đạo siêu Việt và Đạo của người Việt, Ông, là Thường Đạo (Đạo Thường Hằng của Trời Đất cũng là Đạo của Người Việt Thường của Bách Việt ngày xưa)

2.3. Ý Nghĩa Thiên Thư

@ Hình 1: là đồ hình Tiết Liệu dùng bánh chưng để ám chỉ hình Lạc Thư và được Hùng Vương 6 chọn ông để truyền ngôi cửu ngũ (tức ngôi vua mà cửu ngũ cũng là 9 và 5 (9×5=45, 45 cũng là số của Lạc Thư)

@ Các hướng Đông Tây, Nam, Bắc cũng như các phương Đông Bắc _ Tây Nam và Đông Nam – Tây Bắc đều có tổng số là 15; Con 15 viết ra lý số là con Thiên Sơn Độn 001/111 (Độn là trốn lánh hay dấu kín những điều cần che dấu trong đồ hình). Sau đây là những điều che dấu (độn) bên trong Lạc Thư:

_ Lạc Thư Chưng ra Thường Luật gọi là Ngủ Thường của Ngũ Hành KIM, MỘC, THỦY, HỎA THỔ:

* Con 6 và 7 viết ra lý số là con Đoài 110 và con Càn 111, hành KIM

* Con 4 và 3 viết ra Lý Số là con Chấn/Lôi 100 và Tốn/Phong 110 hành MỘC

* Con 2 và con 5 viết ra Lý Số là con Thủy/Khảm 010 và con Li/Hỏa hành THỦY và Hành HỎA.

* Con 8 và 1 Lý Số là con Khôn/Địa 000 và con Cấn/Sơn thuộc hành THỔ

Như vậy, Ngũ hành tương khắc đã được chưng ra từ Thiên Thư Lạc Thư chỉ ra Thường Luật xung khắc qua đây ta rút được qui luật phong thủy là:

_ Kim (Đoài và Càn) khắc Mộc (Lôi và Phong) cũng có nghĩa là Tây Đoài khắc Đông Lôi (luật nầy được bàn thờ Ông Bà chưng ra là “Đông bình Tây qủa”

_ Thủy 010 khắc Li/Hỏa 101: Thủy phương Bắc khắc Hỏa phương Nam (Bắc khắc Nam).

Hiểu những qui luật xung khắc nầy mà Lý Thường Kiệt mởi thẳng vào mặt bọn Bắc phương và rầng:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

@ Điều huyền nhiệm 1 thấy từ Lạc Thư:

 _ Con 3 viết ra Lý số với hệ Dịch nòng 0 và nọc 1, là con Phong Địa Quán 000/011 (có ngoại quái là Phong 011 và nội quái là Địa 000), Quán là quan sát cái nó thể hiện ra (ở đây là quan sát cái Thiên Thư Hà Lạc).

Cũng nhờ vào Thiên Thư mà danh Nho Nguyễn Trãi (1380 _ 1442), là một danh nhân văn hóa Việt, đã xác định một lần nữa qua đối chiếu với thực sử rằng:

“… Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có …”

Cảm ơn qúy vị đã bỏ thời gian ra đọc

San Jose, 10/9/20

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com

Fb: Việt Nho Nguyễn

Chương trình học bổng đào tạo quốc tế giảng viên đại học chất lượng cao của Viện Globethics.net

Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu:

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO QUỐC TẾ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC CHẤT LƯỢNG CAO
Capacity Building and Training of Teachers Programme

KẾ HOẠCH TUYỂN SINH KHÓA HỌC THỬ NGHIỆM
“Nâng cao đạo đức học đường và kỹ năng thực hành giảng dạy“

👉ĐỐI TƯỢNG TUYỂN SINH
Cán bộ giảng dạy trong các hệ thống các trường ĐH và CĐ trong cả nước;
Cán bộ quản lý trong hệ thống giáo dục và đào tạo;
Công chức, viên chức trong các viện, các cơ quan nghiên cứu có hoạt động đào tạo;
Một số đối tượng khác sẽ xét trực tiếp…
👉CHỈ TIÊU TUYỂN SINH
40 học viên.
👉TIÊU CHÍ TUYỂN SINH
Nam, nữ mọi lứa tuổi;
Ngoại ngữ: Tiếng Anh đủ trình độ nghe nói, tiếp thu (kèm chứng chỉ photo).
👉YÊU CẦU ĐỐI VỚI HỌC VIÊN
Thái độ nghiêm túc, nhiệt tình, cầu thị;
Đảm bảo đủ giờ lên lớp và tự học.
👉THỜI GIAN TUYỂN SINH
Từ 1/1/2021-31/1/2021 đăng ký chính thức.
KINH PHÍ
👉Phí ghi danh: US$ 50.00, không hoàn lại; miễn phi
Học phí: US$: 0 (được tài trợ 100%).

Tải chương trình khóa học tại đây

Ban Thư ký Nghiệp đoàn Giáo chức, nghiepdoangiaochuc@gmail.com

An toàn trong hoạt động lao động công ích

Bức ảnh lan truyền trên cộng đồng mạng xã hội được mô tả là cảnh học sinh lao động tại trường tiểu học Nghĩa Hưng huyện lạng Giang tỉnh Bắc Giang, theo Facebooker Đặng Như Quỳnh cho biết:

Học sinh tiểu học lao động trong tình trạng nguy hiểm

“Trời vừa tạnh mưa thì giáo viên đứng chỉ tay bắt học sinh ra ‘lao động’, dọn trên ban công nhô ra trước sân đầy rêu với độ cao khoảng 4 mét rất nguy hiểm”

 Về việc này, dưới góc độ là nhà giáo dục, tôi xin có mấy ý kiến như sau:

Hiện nay, tại các trường tiểu học, chủ trương lấy việc giáo dục lao động cho các cháu học sinh để hình thành nhân cách là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, về tính chất và mức độ lao động cần chú ý chỉ nên tạo không khí vui tươi, nhẹ nhàng, thoải mái, tự giác và hợp tác…. Đặc biệt, hết sức chú ý việc bố trí nội dung lao động cho học sinh thực hiện tuyệt đối bảo đảm an toàn, tránh nguy cơ gây nguy hiểm đến thân thể của các cháu học sinh.

Chẳng hạn, giáo viên chủ nhiệm có thể bố trí các công việc để các cháu cùng làm như: quét sân trường, vệ sinh lớp học, nhổ cỏ vườn trường, tưới cây, lau bàn ghế… đó là những hoạt động lao động mang tính tập thể thường xuyên của học sinh khi học tập tại trường nhằm giáo dục cho các cháu biết yêu quý và tôn trọng những giá trị do lao động mang lại cho xã hội…Từ đó thêm quý trọng những người lao động như ông, bà, cha, mẹ của mình….

 Tuy nhiên, điều đáng lên án ở đây là hành vi của giáo viên chủ nhiệm tại trường tiểu học Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong trường hợp này là phản khoa học giáo dục, nếu không muốn nói cô giáo đã vi phạm đạo đức nhà giáo khi cưỡng bức các cháu vị thành niên làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm!

 Rõ ràng, Công việc dọn dẹp rêu và bùn bẩn ở trên ban công tại sảnh ngoài trời của dãy hiệu bộ nhà trường với độ cao hơn 4 mét mà cô giáo chủ nhiệm giao cho học sinh tiểu học thực hiện như vậy là rất mất an toàn, có thể nguy hiểm đến tính mạng của học sinh.

 Hãy quan sát các cháu đang lao động trên ban công nếu chúng ta có lòng trắc ẩn thì không khỏi ái ngại cho các cháu, bởi lẽ ở tuổi này các cháu rất hiếu động, chưa làm chủ được hành vi, chưa đánh giá hết được mức độ nguy hiểm của hành vi do mình gây ra…. giả sử đang lao động như vậy mà đột nhiên có một cháu nô đùa đẩy bạn ngã xuống ban công thì tai nạn nghiêm trọng sẽ xảy ra, lúc bấy giờ giáo viên chủ nhiệm và nhà trường ăn nói thế nào với phụ huynh và dư luận xã hội? Rất may, thực tế đã không ra điều đó!

Qua sự việc này cần cảnh báo cho các trường phổ thông trong cả nước lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Đề nghị các Hiệu trưởng nhà trường phổ thông các cấp  quán triệt đầy đủ với các giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách lao động của nhà trường lựa chọn các công việc lao động thật phù hợp đối với từng lứa tuổi học sinh. Ngoài ra cần chú ý phân công công việc một cách hợp lý, khoa học để tạo không khí vui tươi, tự nguyện hợp tác trông lao động để giáo dục nhân cách cho học sinh!

11/9/2020

Nhà giáo Đặng Đăng Phước

Người con gái 27 năm với đời sống thực vật

Rời Sài Gòn trên chuyến xe đò cuối cùng vào 5 giờ chiều một ngày đầu mùa mưa cuối tháng 4-2000, chúng tôi đến thị trấn An Lộc vào lúc gần 8 giờ tối. Thành phố nhỏ, heo hút ánh đèn vàng, hai bên đường trùng điệp những vườn tiêu, vườn cây ngút ngàn nhấp nhô trên những sườn đồi dưới ánh trăng mười sáu mờ đục. Chiếc xe đò thả hai chúng tôi xuống trước trụ sở của Hạt Kiểm Lâm An Lộc. Nhà chị Thụy Vũ ở bên kia con dốc, sát bên Quốc lộ 13. 

Hình minh họa

(Tôi xin phép được nhắc sơ qua về nhà văn Thuỵ Vũ: – Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh

năm1937. Tên thật Nguyễn Thị Băng Lĩnh. Tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng ở miền Nam VN trước những năm 1975. Tác phẩm: Mèo Đêm (tập truyện ngắn đầu tay); Nhang tàn thắp khuya; Chiều xuống êm đềm; Khung rêu (giải thưởng văn học toàn quốc); Thú hoang; Lao vào lửa và một số tác phẩm đã đăng trên các báo nhưng chưa xuất bản. Công tác với các báo Dân Chủ Mới, Bút Thép.)

Nghe tiếng xe dừng giữa đường, chắc Thụy Vũ đã đoán ra nhà mình có khách đường xa tới thăm. Chị đứng chờ sẵn ngoài hiên, khom mình dưới tấm rèm cũ, nheo mắt nhìn hai chúng tôi bước vào sân và chị nhận ngay ra chúng tôị Nét vui mừng hiện rất rõ trên khuôn mặt gầy guộc của chị:

– Trời ơi, ông định làm tôi vỡ tim chắc? Bất ngờ quá.

Rồi chị nắm áo Ngân:

– Sáng nay điện thoại sao không nói gì?

Ngân chỉ tôi:

– Tại cái nhà ông này, bốc đồng lên rủ người ta đi, chứ tui thăm bà làm cái gì khi chưa có tiền.

Tôi hiểu là hai người đàn bà này thân với nhau lắm, thân hơn chị em ruột. Khi còn ngồi ở nhà tôi, điện thoại cho Thụy Vũ xong, Ngân bỗng nói:

“Em phải đi thăm con nhỏ này, nhớ nó quá rồi, chịu hết nổi”.

Thế là hai chúng tôi ra xe. Thụy Vũ đưa chúng tôi vào căn phòng khách nhỏ đã dăng sẵn cái mùng trên tấm nệm mút mỏng dính. Có lẽ ở những nơi xa xôi như thế này người ta có thói quen đi ngủ sớm. Chị đãi chúng tôi bữa cháo. Đang cơn đói, không cần đợi chị mời, tôi ăn uống ngon lành. Bỗng tai tôi chói lên vì một tiếng hú. Tiếng hú của một con thú nào đó từ rừng hoang vọng lại nhưng rất gần, sát bên chỗ chúng tôi đang ngồi. Tôi ngơ ngác, nhưng mọi người thì vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Chị Thụy Vũ lặng lẽ đứng dậy, Ngân thấy tôi nhìn qua khung cửa sổ bèn mỉm cười nói ngay:

– Nó khóc đấy!

Tôi vẫn ngớ mặt:

– Nó là cái gì? Con khỉ hay con heo rừng hay con chó sóỉ

– Con Thụy, con gái chị Thụy Vũ đấy, anh không biết sao?

– Chỉ nghe nói chị Vũ có một người con bị bệnh bại liệt thôi.

– Không phải bại liệt mà cháu sống như cây cỏ từ 27 năm nay rồi. Cháu nằm đó mà không hề hay biết gì hết. Năm nay cháu 29 tuổi. Em đã từng chăm sóc cháu ngay từ khi cháu còn nhỏ. Lúc đó thì còn có thể bồng bế cháu dễ dàng, đưa lên xe lăn, đẩy cho cháu ra ngoài chơi. Nhưng bây giờ thì cháu lớn quá rồi, không ai trong nhà này bế nổi cháu lên xe nữa, đành chịu vậy thôi. Mỗi lần đi đâu, em nhớ và thương nó không thể xa nó lâu được.

Tôi hiểu rằng câu Ngân nói khi còn ở Sài Gòn là nhớ con bé con chị Thụy Vũ chứ không phải nhớ chị. Tôi nhìn Ngân và hỏi lảng:

– Vậy ra cơ thể cháu phát triển bình thường?

– Vâng, cháu phát triển như những người con gái khác, chỉ có đôi chân không di chuyển

được nên cứ teo tóp lại. Người cháu rất nặng.

Tôi hỏi đến nguyên nhân có phải là thứ bệnh bẩm sinh không. Ngân lắc đầu:

– Hồi nhỏ, cháu rất xinh đẹp. Đến năm 2 tuổi, cháu đã biết đòi nghe nhạc, rất duyên dáng.

Có lẽ là do một chị người làm trông nom đã làm cháu ngã, đầu va vào góc thành giường nên từ đó cháu nằm liệt luôn và không biết gì nữa. Chị Vũ nuôi cháu trong một hoàn cảnh rất cơ cực. Sau năm 1975, còn sống ở làng Báo Chí Thủ Đức, không có cả bo bo mà ăn.

Chúng em đã buôn thúng bán bưng đủ các thứ nghề để nuôi cháu. Chị Vũ làm lơ xe buýt

đường Sài Gòn – Thủ Đức, suốt ngày chỉ đứng có một chân trên 10 chuyến xe như thế

cho đến tối mịt mới về đến nhà. Mệt quá lăn ra ngủ, bữa đói bữa no. Con cái nhốt lại cho đứa lớn coi đứa nhỏ. Sau một thời gian chịu không nổi, chẳng biết sống bằng gì, chị Vũ đưa ba đứa con về đây sống với mẹ. Căn nhà này là của bà mẹ chị để lại, bà cụ mới mất cách đây vài năm. Anh thấy nhà cửa coi bộ khang trang nhưng chỉ có cái xác nhà chứ bản thân chị Vũ thì chẳng bao giờ có đồng xu dính túi.

Tôi nhìn căn nhà, gọi là khang trang chứ thật ra chẳng có gì đáng kể. Chỉ có phía trước mới được sửa sang lại tí đỉnh cho đám cưới đứa con gái út của chị cách đây vài tháng, còn phía sau, nơi chúng tôi ngồi ăn thì vẫn lợp tôn tuềnh toàng. 25 năm trôi qua, người khác đã có thể vượt qua cơn khốn quẫn, ít ra có bát ăn bát để, nhưng chị dường như vẫn vậy. Vẫn sống bữa nay chưa biết bữa mai. Ngân kể tiếp:

– Thằng con lớn của chị đã có vợ, nhưng chị cũng chẳng nuôi nổi. Cháu phải đưa vợ vào tuốt trong rừng làm cái lán ở, trông nom miếng đất trồng trọt cho người ta lấy công. Một nơi không có điện, không có nước, sống như người rừng. Đứa con gái út mới lấy chồng.

Nhà chỉ còn lại mình chị với đứa con nhỏ bệnh tật. Chị có miếng đất bỏ hoang phía sau nhà, mấy người bạn thương hại, đầu tư cho chị chút vốn trồng vài trăm gốc tiêu, ít cây ăn trái. Nhưng mới chỉ là ban đầu. Một mình chị đóng cọc, làm cỏ, tưới cây, chăm bón và khi nghe tiếng con hú lại tất tả chạy về. Nguồn thu lợi chính của chị là dạy học thêm cho chừng hơn 10 đứa học trò nhỏ, tháng được vài trăm ngàn, không đủ tiền ăn cho hai mẹ con chứ đừng nói đến tiền thuốc thang cho cháu. Chị cũng chẳng thể làm gì hơn trong hoàn cảnh như thế này và ở một nơi chốn như thế này.

Sáng hôm sau, khi Thụy Vũ mải làm cỏ cho đám cây mới lớn ngoài vườn, tôi nhờ Ngân đưa vào thăm cháu Khôi Thụỵ Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổi.

Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửa. Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con người. Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòi. Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang. Nghe tiếng hú, tay tôi cầm chiếc máy hình run lên, nước mắt tôi bỗng trào ra, nhòe nhoẹt ống ngắm. Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài cái tiếng kêu ấy.

Biết đâu cháu chẳng có một chút tri thức nhỏ nhoi nào đó còn sót lại trong cái đời sống thực vật kia. Biết đâu chẳng phải là tiếng nói nghẹn lại trong nỗi ẩn ức vô cùng không thể diễn tả thành lời. Cứ nghĩ như thế tôi lùi dần ra ngoài cánh cửa gỗ mùi hôi nồng tanh tưởi còn đọng lại mặc dù căn phòng được lau rửa hàng ngày. Những người quanh cháu đã quen với cái thứ mùi này rồi nên không để ý, nhưng người mới tới lần đầu là thấy ngay.

Ngân phải cầm máy hình, chụp giúp tôi vài tấm. Thú thật là ngay lúc đó tôi chưa biết phải làm gì với mấy tấm hình đó. Tôi chỉ cảm thấy cần phải có vài tấm hình của cháu mà thôi.

Ngân chỉ chiếc xe lăn bên cạnh phòng:

– Có vài chiếc xe lăn của mấy người bạn chị Vũ ở nước ngoài gửi về cho cháu như anh Triển cùng chị Triều Giang, chị Trùng Dương. Nhưng đã bán hết, nay chỉ còn lại một chiếc còn để đó, chẳng ai trong nhà này bế cháu lên nổi xe lăn nữa.

Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:

– Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ.

Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ

– Phải nói rằng một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến.

Ngân tiếp:

– Suốt bao nhiêu năm sống bên cạnh chị Vũ, em chưa hề nghe chị phàn nàn một tiếng

nào trong việc phải cực khổ trông nom nuôi nấng đứa con bệnh tật đau khổ này.

Tôi buột miệng hỏi:

– Còn cha nó? Có thăm nom gì không?

– Cha nó, Tô Thuỳ Yên ở bên Mỹ, nhưng từ ngày ra đi, ông quên mẹ con chị Vũ rồi. Mặc dù bạn bè ai cũng biết, mấy mẹ con chị sống khổ cực cay đắng đến như thế nào 25 năm qua, cho đến bây giờ đời sống vẫn vậy. Không đủ tiền cho con ăn, lấy tiền đâu uống thuốc? Sống hôm nay biết hôm nay, ngày mai nói chuyện sau. Tính chị Vũ vẫn vậy. Hôm sau tôi hỏi lại chị Vũ về việc này cho rõ ràng . Chị chỉ gật đầu:

– Đúng thế. Tôi không hề biết địa chỉ của anh ấy. Thỉnh thoảng mấy đứa con anh ấy về

chơi, chúng rất có cảm tình với tôi. Có lẽ vì thấy ….

Chị bỏ lửng câu nói ở đấy rồi bắt sang chuyện khác. Tôi cúi đầu, một nỗi đau tràn đầy, niềm tủi buồn dâng ngập.

Và đêm đó tôi lại nghe tiếng hú của cháu vang lên trong đêm dài giữa núi rừng An Lộc lộng gió. Cái bóng âm thầm của chị Thụy Vũ vọt dậy, lặng lẽ đến với đứa con, tiếng hát ru nhè nhẹ của chị sợ làm kinh động giấc ngủ của khách và nhà hàng xóm. Tôi làm sao mà ngủ lại được! Ngày hôm sau, chị Vũ đưa hai chúng tôi ra trước cửa trụ sở của Hạt Kiểm Lâm đứng đón xe đò trở về Sài Gòn. Chiếc xe chuyển bánh, người đàn bà gầy gò đứng chơ vơ trên sườn đồi đất đỏ. Chị cúi đầu trở lại với công việc làm cỏ khu vườn tiêu và với đứa con bệnh tật cùng với cuộc sống vô cùng thiếu thốn cô đơn của chị. Cái hình ảnh ấy khiến tôi ngồi dại đi. Ngân cũng chẳng hơn gì tôi, mặc dầu với tôi đây là lần đầu tiên tôi đến thăm Thụy Vũ, nhưng với Ngân đây là lần tạm chia tay với mẹ con Thụy Vũ không biết là lần thứ bao nhiêu rồi. Tôi biết rằng tôi phải làm một cái gì đó. Một lát sau, tôi nói với

Ngân:

– Anh phải viết một bài về chị Thụy Vũ và cháu Khôi Thụy. Nhưng không biết có chạm đến lòng tự ái của chị Thụy Vũ hay không. Bởi chị là người không hề than thở với ai điều gì bao giờ, chị luôn luôn tìm tiếng cười trong cuộc đời vô cùng bất hạnh của chính mình. Ngân suy nghĩ một chút rồi nói:

– Nếu anh hỏi ý kiến thì chị Vũ có thể sẽ từ chối đấỵ Nhưng anh hãy làm cái gì mà anh thấy cần làm. Em sẽ nói với chị ấy sau. Anh tin vào tình thân của em với chị Vũ thì cứ làm.

Tôi nói với Ngân:

– Bạn bè anh ở nước ngoài đã có một số biết về tình cảnh của chị Thụy Vũ và đã có “yểm trợ”. Nhưng còn một số anh chị em khác vẫn chưa biết.

– Em hiểu, thỉnh thoảng chị Thụy Vũ cũng có được những ngày vui, đầy đủ với con cái nhưng chỉ ít ngày sau là lại túng thiếu. Vì thế vấn đề bây giờ là phải làm sao cho chị ấy có vốn để buôn bán hoặc trồng trọt, tính đến cuộc sống lâu dài, chị ấy cũng 63 tuổi rồi chứ ít sao. Chị ấy thường lo rằng nếu chị ấy chết trước thì cháu Khôi Thụy sẽ khổ hơn nữa. Anh em nó cũng chẳng ai đủ sức lo cho nó được. Chị thường nói: “Nếu hai mẹ con chết cùng một lượt thìà vui biết mấy”.

Nghe câu “vui biết mấy” mà tôi muốn dựng tóc gáy. Đó cũng là tính cách đặc biệt của Thụy Vũ. Đau buốt ruột mà vẫn giỡn đấy, giỡn đấy mà là giỡn thiệt chứ không phải mỉa mai. Tôi đã đề nghị chị viết lại một tập hồi ký về đời mình. Chị lắc đầu:

– Thèm viết lắm, nhưng làm gì còn thì giờ, còn tâm trí đâu mà viết nữa. Vả lại bỏ nghề lâu rồi chẳng biết mình viết nữa thì sẽ ra sao.

Tôi hiểu rằng chính cái thiếu thốn trăm bề khiến chị không còn thì giờ đâu mà ngồi vào bàn viết. Tôi phải bàn với Ngân tìm tạm một cơ hội nào đó cho chị rảnh rang chân tay để cho có được một tác phẩm chắc chắn là sẽ rất hay. Ngân đồng ý là sẽ hết sức cố gắng làm công việc này. Thuyết phục mãi, chị Thụy Vũ hứa là sẽ tiếp tục việc viết lách. Và tôi rất hy vọng sẽ có một tác phẩm mới của Thụy Vũ vào một ngày không xa. Chính vì vậy, tôi nghĩ đến việc thông tin cho các bạn tôi ở nước ngoài. Nhưng như tôi đã nói với Ngân:

– Các bạn tôi ở nước ngoài cũng là những người chẳng dư giả gì, có ông còn đói dài.

Nhưng họ vẫn gửi về giúp đỡ anh em mỗi khi cần đến. Vì sự nhún nhường thường có của các anh chị em, tôi không tiện kể tên ra đây. Tuy nhiên nếu tôi lên tiếng đề nghị thì chắc chắn sẽ lại có anh em tiếp tay ngay. Nhưng ở đây, tôi xin gửi đến tất cả độc giả thông tin này để nếu có thể tiếp tay cùng anh chị em chúng tôi lo cho đời sống của mẹ con chị Thụy Vũ một cuộc sống vững vàng hơn. Và nếu như có một cơ quan từ thiện nào sẵn lòng giúp đỡ cho cháu Khôi Thụy được đi chữa bệnh thì vấn đề sẽ được giải quyết tốt đẹp hơn rất nhiều. Sau cùng, tôi xin lỗi chị Thụy Vũ vì đã viết bài này mà chưa hề biết ý kiến của chị.

Tôi chỉ làm một công việc mà tôi thấy cần phải làm. Tôi đã hỏi ý kiến của bạn bè thân ở Sài Gòn và ở nước ngoài, hầu hết anh em thân thuộc đều cho phép tôi được viết bài này.

Tôi hy vọng sẽ có rất nhiều bạn đọc có tấm lòng sẵn sàng giúp đỡ và để khỏi phải qua một trung gian nào, xin liên lạc thẳng với chị Thụy Vũ theo địa chỉ sau:

Nguyễn Thị Băng Lĩnh,

Hộp Thư 08 – Bưu điện Lộc Ninh – Tỉnh Bình Phước.

Bài của VĂN QUANG (nqtuyen@****.fpt.vn), Feb 15, 2004

Nhìn xa, trông rộng …

Trong nền giáo dục hiện tại của nước nhà dưới triều đại độc tài toàn trị của những người cộng sản cuồng tín đi theo Mác Lê Mao chủ nghĩa, đã thể hiện rất nhiều bất cập. Đó là không có sự học hỏi. Bởi vì không chấp nhận tư duy đối lập có nghĩa là không cho phép được hỏi những gì không phù hợp, mà chỉ biết học vẹt có nghĩa là học theo kiểu của con vẹt. Học mà không có nhận thức. Do đó mà nền giáo dục mới bị thui chột và xuống cấp. Hôm nay, tôi muốn chuyển tải một bài học rất đơn giản qua câu chuyện đối thoại giữa một nhà sư với một anh chàng thư sinh.

Hình minh họa (sưu tầm)

Từ lúc qua đò Gián, đi dọc theo con đê rồi quẹo vào đường cái quan, hướng theo núi Gôi mà đi về phía Nam Định, có lẽ đã khá lâu vì chàng thư sinh cảm thấy mệt mỏi; hơn nữa mặt trời đã ngả về dãy núi đá vôi vùng Trường Yên sau lưng chàng.
Khi thấy cổng chùa, mắt chàng sáng lên vì đây tuy chưa phải là trường thi hương Nam Định, nhưng là nơi chàng đến nghỉ đêm nay.


Sau khi chào hỏi và trình thư giới thiệu của người quen, thư sinh được nhà sư mời vào nghỉ trong một căn phòng nhỏ, bên cạnh phòng của nhà sư. Phòng này quá đơn sơ, chứng tỏ chùa thuộc loại nghèo. Chùa vắng vẻ, chỉ có hai thày trò, một nhà sư đứng tuổi và một chú tiểu.


Tối đến, chú tiểu bưng khay cơm vào mời thư sinh, rõ ràng là cơm nhà chùa xứ quê; ngoài liễn cơm đỏ, còn một bát canh mướp mùng tơi, cạnh một chén cà và một bìa đậu phụ nướng. Thế mà thư sinh thấy ngon tuyệt.


Một lúc sau, chú tiểu vào dọn khay cơm và lễ phép mời chàng sang uống trà với nhà sư. Sau vài câu chuyện xã giao, thư sinh lân la hỏi về cuộc đời tu hành của nhà sư. Ông cho biết ông đi tu từ thuở nhỏ, theo thày học Phật bằng chữ Hán – vì thế được học thêm cả Nho và Lão – thuộc môn phái Trúc Lâm Yên Tử mà sơ tổ là Hương Vân Đại Đầu Đà tức là vua Trần Nhân Tông. Dòng thiền này hoàn toàn Việt Nam, do người Việt Nam sáng lập tại một ngôi chùa trên núi Yên Tử, truyền bá tại Việt Nam.

– Bạch thầy, nếu có người xin thầy cho nghe Phật pháp trong một lúc thôi thì thầy sẽ nói những gì ?

– Đức Phật thuyết pháp trong 45 năm, chỉ thuyết mà không viết. Sau khi ngài nhập diệt, có mấy cuộc kết tập để ôn lại những những lời giảng dạy của ngài. Lần thứ ba, người ta chép lại thành ba loại : Kinh, Luật, Luận, gọi chung là Tam Tạng. Thiên kinh vạn quyển, thế mà thí chủ bảo tôi nói trong một lúc thì nói sao nổi !

– Dù sao cũng xin thầy ban cho vài lời.

– Vậy thì tôi xin nói: Trên thế gian này, tất cả các hiện tượng mà người ta nhận được bằng các giác quan, đều là vô thường, nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, chẳng có gì là vĩnh cửu cả.
Mọi sự, mọi thứ – nhà Phật gọi là vạn pháp – đều tuân theo luật “thành, trụ, dị, diệt” hay “thành, trụ, hoại, không”, thay đổi có khác nhau chăng chỉ là nhanh hay chậm. Kiếp của phù du thì mau, kiếp của trái núi hẳn là lâu lắm. Dù sao, trong mỗi sát-na, thì vẫn có thay đổi, biến dịch. Đó là nói về hiện tượng, nhưng nhà Phật lại xác nhận rằng hết thảy mọi hiện tượng đều có chung một bản thể bất di bất dịch, thường hằng, vĩnh viễn. Bản thể này, các giác quan thông thường không thể “nhận thấy được”. Kinh sách có dùng một thí dụ thật hay, hay đến nỗi khó có thể tìm một thí dụ khác để thay thế được : Phật học ví các hiện tượng như các đợt sóng trên mặt đại dương ; muôn vàn sóng, mỗi mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một thứ, đó là nước. Sóng dụ cho hiện tượng, nước dụ cho bản thể.

– Chẳng hay điều ấy có ích chi cho xã hội ?

– Biết vạn pháp là vô thường thì chớ có bám víu vào làm chi. Tiền tài, danh vọng … đâu có bền. Nên tìm một cái gì vững bền hơn. Nếu cứ ham cái này, thích cái kia, đến độ ham quá, thích quá, lòng như lửa đốt thì dám làm những điều ác để thỏa lòng dục. Tham dục là gốc của khổ đau. Người con Phật được dạy “thiểu dục tri túc”, kẻ xuất gia được luyện “diệt dục”. Bản thân bớt tham, tránh điều ác, làm điều lành, như vậy, xã hội chẳng tốt hơn hay sao ?

– Tiểu sinh thấy vấn đề “bản thể” thật khó “vào” , vì có cách nào mà “thấy” đâu !

– Đó là khía cạnh tôn giáo của vấn đề. Xác nhận một điều mà không “chứng minh” điều ấy, quả thật là khó chấp nhận. Tôn giáo có giáo điều, không chứng minh ; đạo Phật có giáo điều của đạo Phật. Đó là “vạn pháp có chung một bản thể”. Nói cách khác, dùng cho Phật tử : “ai ai cũng có Phật tánh”. Phật tánh là gì ? Bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh … Không một lời nào để diễn tả “nó” được, phải “cảm”, phải “ngộ”, phải “giác” Lại hỏi “làm sao mà giác?”. Có nhiều cách, nhiều pháp môn, tùy người ta lựa chọn theo căn cơ của mình.Trong khi thầy đang đi tìm giác, thầy có nghĩ rằng xã hội đang cần thầy không ?Thí chủ dùng chữ nhẹ nhàng, người khác nói trắng ra rằng tôi là kẻ ăn bám xã hội, “trốn việc quan đi ở chùa”. Nhưng thí chủ ạ, tôi và chú tiểu hàng ngày làm việc quần quật, cuốc
xới mấy sào vườn để độ nhật, không hề ăn bám làng xóm, đồng bào. Một thiền sư đã dạy: “Một ngày không làm là một ngày không ăn”. Tôi không lên rừng, tôi không lên núi, tôi ở đây sống giữa bà con và mang lại cho bà con những giúp đỡ về tinh thần, những dìu dắt về tâm linh mỗi khi bà con cần đến.Bạch thầy, nếu tiểu sinh không lầm, thầy đã coi mọi thứ như huyễn rồi, thế thì còn lo việc hàng ngày cho mình và cho người làm gì, mệt cả thân lẫn trí ?Quả thật, giấc mộng cả đấy. Trong giấc mộng, người nằm mộng thấy mình nói thật, thấy mình nghĩ thật, thấy mình làm thật, tỉnh dậy nhiều khi toát mồ hôi. Nay mọi pháp đã là huyễn, thì xử sự như huyễn, tu như huyễn. Nhưng nói như thế làm gì mà hóa ra gàn! Đây này, có hai sự thật, sự thật thế gian và sự thật xuất thế gian, nói khác đi là: sự thật của thế
giới tương đối và sự thật tuyệt đối. Theo tuyệt đối thì thế này, theo tương đối thì thế kia. Kẻ tu hành tùy cơ xử sự mà không để mất mục tiêu của mình. Chắc hẳn thí chủ đã nghe nói về chuyện một một vị bồ-tát kia, thấy mẹ con con hổ đói quá, bèn nhảy xuống vực bố thí thân mình cho hổ ăn. Vô lý quá, điên quá phải không? Xuất thế gian là như thế, nhưng phải đi đến một trình độ nào đó, đạt đến một mức tuyệt đối nào đó, không phải chỉ mặc áo cà-sa là được đâu! Thế gian có những quy luật của thế gian, có ăn mặc, có giận hờn, buồn tủi, vui mừng… Kẻ tu hành tự kiểm soát, tự kiềm chế, điều thân, điều tâm mong ngộ rồi nhập vào bản thể – cái bản thể mà không ngôn từ nào diễn tả cho nổi, cái bản thể mà chúng tôi gọi là pháp thân.

– Bạch thầy, thế rồi việc đời sẽ ra sao ?

– Việc đời vẫn theo quy luật của vũ trụ, vẫn theo luật duyên khởi, luật nhân quả nghiệp báo, luật thành trụ hoại không. Nhưng kẻ thành đạo không hưởng cái vui giải thoát một mình đâu, vì bồ-tát đạo dạy rằng: Chúng sinh còn thì còn phải giúp chúng sinh. Cho nên có câu xắn tay áo đi vào chợ trong cửa thiền.

– Quả là hay ! Xuất thế gian mà chẳng ly thế gian. Tiểu sinh xin phép lấy việc thế gian gần đây để trình thầy: quân Lang-sa đánh phá Thăng Long, quan Tổng đốc cùng con trai, con rể quyết giữ thành, đã hy sinh cả nhà. Có một quan chưởng binh và một trăm chiến sĩ dưới quyền đã chiến đấu anh dũng và cùng bỏ mình ở ô Đông Hà. Nay đồng bào gọi ô Đông Hà là ô Quan Chưởng. Thầy có nghe thấy việc này không ?

– Mọi người nghe thấy thì tôi cũng nghe thấy. Thí chủ cho rằng tôi đã điếc hai tai chăng? Tôi đi tu, đúng vậy ; song tôi là người Việt Nam cho nên cái đau của người Việt Nam là cái đau của tôi. Có khác chăng là khác ở cách bộc lộ cái đau ấy, cách phản ứng với cái đau ấy mà
thôi.

– Bạch thầy, tiểu sinh nghe cái đau ấy là cái nghiệp, cần phải trả hết cái nghiệp ấy đi, có phải
như thế không ?

– Đúng thế, gây nhân, chịu quả, hứng nghiệp, là một quy luật bất khả dịch. Đạo Phật có dạy như vậy, nhưng không phải chỉ dạy có vậy. Cải nghiệp được mà, nhà nho nói “đức năng thắng số” mà. Gây nhân lành để tạo ra cái lá chắn đỡ mũi tên của nghiệp ác được chứ! Khía
cạnh này, thí chủ đã nghe thấy chưa?

– Đa tạ thầy đã chỉ giáo ; tiểu sinh nghe nói thoát tục nên mới mạo muội đem cái đau của dân
tộc ra trình với thầy để nghe thầy chỉ giáo, chứ không hề có ý láo xược nghĩ đến câu “thương nữ bất tri vong quốc hận” ; xin thầy hiểu cho. Thầy đã cho hầu chuyện, tuy khuya rồi, xin thầy ban cho vài điều về đất nước.

– Thí chủ quả là khéo, muốn thử ý tôi. Không sao đâu. Đối với tôi, cái ngã nó khá nhỏ, tôi không để tâm dù cho thí chủ nghĩ có rằng tôi “mũ ni che tai”. Thí chủ ạ, tiếng vẫn lọt qua mũ ni chứ!

– Bạch thầy, tiểu sinh còn ít tuổi, nghĩ ngợi chưa chín chắn. Mong thầy dạy cho vài điều về đất nước.

– Vâng, thái rồi bĩ, bĩ rồi thái. Đang bĩ thì lo xây dựng cái thái. Nhớ lại ngày đại phá Mông Cổ, đại phá Minh, Thanh, nhớ lại ngày đọc Hịch Tướng Sĩ, đọc Bình Ngô Đại Cáo… , đó là sử. Coi việc trước mắt, thấy chướng tai gai mắt, luân thường đảo lộn, thấy đau thương nhục nhã. Đó là hiện tại. Rồi tới tương lai. Nhưng tương lai ra sao? Phải có những người quân tử – gọi vậy cho tiện, khỏi phải tìm chữ khác – nhìn xa hơn người thường. Vì thế mới có câu “nhìn xa trông rộng”. Thấy đường đi nước bước của hiện tại, học các bài học của quá khứ, rồi tìm ra, nhận thấy, nhận rõ bước sắp tới, và cả một đường dài vị lai, thế mới là lãnh đạo.

– Tiểu sinh thành thực xin thầy hé cho thấy con đường vị lai.

– Không dám. Không phải ai cũng nhìn được xa. Nếu tôi nhìn được xa, hẳn là tôi đã không ngồi tu ở chùa này. Ngài Trần Khánh Dư quảy “gánh càn khôn” xuống ngàn, ngài Trần Nguyên Hãn gánh dầu đi bán, tìm bạn đồng hành – và tìm thấy – để cùng vào Lam Sơn gặp minh chủ . Các vị đó và nhiều vị khác nữa là những người khổng lồ, đã nhìn được xa hơn mà còn có cả viễn kính để nhìn xa nữa, chỉ đường cho dân tộc tiến lên. Kẻ hèn này không theo được đâu.

– Chẳng lẽ khoanh tay ?

– Không, không. Dân tộc không thể mất được nếu như văn hóa còn. Văn hóa kể từ cái răng, cái tóc, miếng ăn, đồ mặc … cho đến đời sống tâm linh. Theo tôi, mặt tâm linh vô hình mà lại hữu hiệu. Nếu không đánh mất đời sống tâm linh thì không thể mất dân tộc được. Thí chủ ạ, nếu mỗi người tìm giữ tâm linh ấy theo cách của mình thì có lẽ hay lắm. Nhà Nho mà không “hủ Nho”, nhà Thích mà không “hủ Thích”, gắng nhắm trúng cái gì bền vững nhất đối với tâm linh của dân tộc ta, thì mới là hay, là chánh, là tiến. Tôi biết nhà nho đôi khi làm thơ châm biếm chúng tôi, chúng tôi chỉ cười, chẳng lẽ chúng tôi làm thơ nói lại? Trong Phật giáo, người ta có nói đến một thời kỳ gọi là “mạt pháp”, nay chắc là thời đó, nhưng “y pháp, bất y nhân”.

– Đa tạ, đa tạ. Thầy có làm thơ, xin thầy cho nghe mấy bài.

– Không dám. Người Việt Nam nào mà chẳng làm thơ. Tiếng mình đã là thơ rồi mà. Có thiếu chăng là thiếu cái nội dung của thơ, cái hồn của thơ. Đi tu như chúng tôi, cần nhất là cái hạnh “từ bi”, nôm na là “cho vui, cứu khổ”. Cuộc đời là bể khổ nên phải học cứu khổ, mà muốn cứu khổ thì phải quên “ngã”, đồng thời biết rung động. Trước khi đến bậc bồ-tát hoàn toàn giác ngộ, chuyên tâm cứu khổ cho vui, người tu hành phải qua thời biết rung động. Từ rung động này mà hay thành nhà thơ. Nhưng phải nghe cho rõ: tôi nói “hay thành nhà thơ” chứ tôi không nói “thành nhà thơ hay”. Thí chủ muốn đọc thơ của Thích tử thì tôi xin giới thiệu thơ của Tam tổ Huyền Quang, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử.

Đêm đã khuya, thư sinh từ biệt nhà sư, về phòng nghỉ. Tuy mỏi mệt, thư sinh vẫn trằn trọc không ngủ được. Nhà sư này nói “không biết nhìn xa”, nhưng ít nhất cũng đã nhìn được gần, nhìn ra con đường đi cho bản thân, nhìn ra bổn phận đối với xóm làng và biết đau cái đau của dân tộc. Đức Thích-Ca đã nhìn được xa hơn, tìm ra đường thoát khổ cho hết thảy chúng sinh. Còn con đường của đất nước này, ai nhìn ra, ai đã nhìn ra, ai sẽ nhìn ra? Đầu thế kỷ XV, có nhà chiến lược kiêm thi sĩ đã viết nên Bình Ngô sách; thế kỷ này, có ai đây?


Sáng hôm sau, từ biệt nhà sư, chàng thư sinh lại lên đường nhưng không đi về hướng Nam Định để tìm nhà trọ, thuê lều chõng sửa soạn đi thi Hương, mà lại quay về làng. Sau đó, không ai biết chàng đi đâu. Có người nói rằng chàng đi tìm những vị biết nhìn xa.

Ngày 5 tháng 9 năm 2020
Tác giả Tôn Nữ Thóc Nâu – gửi đến Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt nam từ Califonia – USA