Lịch sử phong trào nghiệp đoàn ở nước Anh – Kỳ 4: Đạo luật Kết hợp năm 1825

Tác giả: Tú Cầu-Liên lạc tác giả: tucau@nghiepdoanbaochi.org

lich-su-lop-10-bai-36-hinh-2.JPG

 

Vào thế kỷ 18, nước Anh trải qua cuộc Cách mạng Công nghiệp, làm khai sinh những nghiệp đoàn đầu tiên. Trong loạt bài này, tôi sẽ điểm lại những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành các nghiệp đoàn ở Anh quốc. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu hơn về lịch sử của phong trào Nghiệp đoàn, và rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích cho phong trào nghiệp đoàn ở Việt Nam.

Kỳ 4: Đạo luật Kết hợp năm 1825

Trong kỳ 2 của loạt bài viết, tôi đã kể lại quá trình ra đời của Đạo luật Kết hợp năm 1799, một văn bản đặt việc thành lập công đoàn, đình công và thương lượng tập thể để đòi tăng lương ra ngoài vòng pháp luật. Năm 1824, thợ may Francis Place và nghị sĩ cấp tiến Joseph Hume đã cùng phát động một chiến dịch đòi bãi bỏ đạo luật đó. Chiến dịch này đặt nền tảng trên giới nghệ nhân có tay nghề cao, đặc biệt là ở London, chứ không phải giới công nhân nhà máy thông thường. Nó đã khiến Quốc hội Anh phải thông qua Đạo luật Kết hợp năm 1825, trong đó hoạt động công đoàn được xem là hợp pháp, dù vẫn bị hạn chế một cách nghiêm ngặt.

1. Chiến dịch đòi bãi bỏ Đạo luật Kết hợp năm 1799

Cha đẻ của chiến dịch đòi bãi bỏ Đạo luật Kết hợp là Francis Place – một thợ may lành nghề ở London. Place từng là người lãnh đạo phong trào cấp tiến ở London trong nhiều thập kỷ. Ông từng tổ chức một cuộc đình công vào năm 1793, và sách động quần chúng chống các quỹ chìm từ năm 1816 đến năm 1823. Dù có quan điểm chống Giáo hội và chống sự cai trị của tầng lớp quý tộc, Place chưa bao giờ là một nhà cách mạng hay một nhà dân chủ. Thay vào đó, ông thường làm một vạch nối có tính trí thức giữa các phong trào của tầng lớp lao động với thế giới của những nhà cải cách thực dụng thuộc tầng lớp trung lưu.

Là người theo trường phái kinh tế học cổ điển, Place tin rằng mức lương của người lao động được quyết định bởi cán cân cung – cầu của thị trường, chứ không phải bởi các tổ chức của giới công nhân. Do đó, ông không nhiệt tình ủng hộ các nghiệp đoàn, vì cho rằng chúng không giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động. Dù vậy, Place tin rằng khi Đạo luật Kết hợp đặt các đoàn thể của công nhân ra ngoài vòng pháp luật, nó làm mối quan hệ giữa giới công nhân và giới chủ xấu đi. Vì vậy, Place chủ trương để người lao động tự do thành lập các đoàn thể, rồi tự nhận ra sự vô ích của việc này, thay vì ngăn cấm nó.

Từ năm 1814, Francis Place đã bắt đầu thu thập tài liệu và sử dụng báo chí để phản đối Đạo luật Kết hợp. Chiến dịch của Place đặt nền tảng trên giới nghệ nhân London, đặc biệt là các nghệ nhân có tay nghề, chứ không phải giới công nhân trong nhà máy. Năm 1818, triết gia Thực dụng Jeremy Bentham, bạn của Place, đã chống lưng cho thợ lọc len John Wade lập tờ báo Gorgon để hỗ trợ chiến dịch này. Là tờ báo đầu tiên đưa tin một cách rộng mở về các hoạt động nghiệp đoàn, tờ Gorgon nhanh chóng bị đình bản vào năm 1819.

Năm 1823, Francis Place cùng Joseph Robertson và Thomas Hodgskin thành lập Viện Cơ học London và Tạp chí Cơ học, chuyên đào tạo về khoa học và kỹ thuật. Trong hai người vừa nêu, cựu Trung tá Hải quân Hodgskin là một trong những cây bút người Anh đầu tiên ủng hộ việc lật đổ chủ nghĩa tư bản vì lợi ích của người lao động. Tháng 01/1824, thông qua Hodgskin, Place đã thuyết phục được nhà kinh tế chính trị John McCulloch viết một bài báo tác động mạnh đến quan điểm của các nghị sĩ và giới thượng lưu Anh. Cũng trong tháng 01/1824, tuần báo Black Dwarf của Thomas Wooler đã tổ chức một chiến dịch kiến nghị để bãi bỏ Đạo luật Kết hợp.

Những kiến nghị xuất phát từ chiến dịch của Francis Place đã được nghị sĩ cấp tiến Joseph Hume trình lên các lãnh đạo chính phủ, và được tán đồng bước đầu. Tuy nhiên, tình hình trở nên phức tạp hơn khi Gravener Henson, lãnh đạo của những người thợ đúc ở miền Trung nước Anh, và Peter Moore, một nghị sĩ đảng Whig, cùng nhau giới thiệu một dự luật thay thế khác. Khác với Place và Hume, Henson và Moore không chỉ đòi bãi bỏ tất cả các luật liên quan đến kết hợp, mà còn đòi thiết lập một cơ chế hoàn chỉnh để quản lý các mối quan hệ lao động, điều chỉnh tiền lương và giải quyết các tranh chấp. Place tin rằng dự luật mà Henson và Moore trình lên không có khả năng được thông qua, mà chỉ có tác dụng chọc giận phe đối nghịch trong Quốc hội và Chính phủ. Ngoài ra, vì Place và Hume đều có quan điểm kinh tế chính trị bảo thủ, họ tin rằng nên tối thiểu hóa số quy định về vốn và lao động.

2. Các hoạt động của Ủy ban Hume trong năm 1824

Khi Quốc hội năm 1824 khai mạc, Place và Hume quyết định mặc kệ Henson và Moore, để tập trung vào cuộc vận động riêng của mình. Hume thành lập và chủ trì một ủy ban để điều tra về Đạo luật Kết hợp, lệnh cấm xuất khẩu máy móc, lệnh cấm công nhân di trú, và các hạn chế kinh tế khác. Place cung cấp các nhân chứng chống Đạo luật Kết hợp cho ủy ban này. Khi chọn nhân chứng, Place đã cố tình loại bỏ cả những chủ thuê bảo thủ lẫn thành viên của các nghiệp đoàn cấp tiến. Cùng thời điểm đó, chiến dịch đòi bãi bỏ Đạo luật Kết hợp vẫn đang diễn ra một cách rầm rộ với nhiều bản kiến nghị, nhiều cuộc họp của công nhân, và nhiều cuộc vận động hành lang trong Quốc hội. Sau khi hoàn tất công việc, ủy ban của Hume trình lên Quốc hội ba dự thảo nghị quyết thay vì một bản báo cáo. Trong đó, có một dự thảo về việc bãi bỏ Đạo luật Kết hợp. Đi xa hơn dự tính của Ủy ban, dự thảo này còn bãi bỏ mọi điều luật ngăn cấm kết hợp có từ thời Trung Cổ, cùng các điều khoản ngăn cấm hoạt động nghiệp đoàn trong thông luật. Dự thảo chỉ ngăn cấm các hành vi bạo động và hành vi cưỡng ép tham gia tổ chức.

Cả ba bản dự thảo của Ủy ban Hume đều được Quốc hội thông qua một cách tương đối dễ dàng. Sau này, cả Thủ tướng lẫn Chủ tịch Hội đồng Thương mại đều thừa nhận rằng họ không nhận thức đầy đủ các điều khoản của bản dự thảo khi thông qua nó.

3. Cuộc đấu dẫn đến sự ra đời của Đạo luật Kết hợp năm 1825

Ngay sau khi Quốc hội Anh bãi bỏ Đạo luật Kết hợp, một loạt các cuộc đình công lớn đã bùng nổ, đe dọa nghiêm trọng nền kinh tế Anh. Sau cuộc đình công ở các nhà máy vùng Lancashire và các xưởng đóng tàu ở sông Thames, giới chủ của các xưởng này đã vận động Quốc hội Anh tái ban hành Đạo luật Kết hợp. Cùng lúc đó, các tờ báo của giới trung lưu và thượng lưu đồng loạt công kích cái mà họ gọi là tội phạm và bạo lực của các nghiệp đoàn. Do đó, ngày 28/03/1825, Quốc hội đã lập một ủy ban điều tra mới, do Thomas Wallace đứng đầu, để nhanh chóng soạn một dự luật đáp ứng mong muốn của giới chủ. Ủy ban này dành rất ít thời gian để nghiên cứu ảnh hưởng của dự luật năm 1824. Ủy ban cũng rất thiên vị giới chủ khi từ chối lắng nghe các nhà hoạt động nghiệp đoàn, và trả tiền cho những nhân chứng chống lại các nghiệp đoàn.

Đáp lại, Francis Place đã cùng John Gast – lãnh đạo của giới thợ đóng tàu London và một trong những nhà hoạt động nghiệp đoàn hàng đầu của nước Anh – tổ chức một chiến dịch vận động hành lang khổng lồ. Ngày 18/04/1825, John Gast kêu gọi hình thành một ủy ban quy tụ 2 đại biểu từ mỗi ngành nghề khác nhau ở London – như thợ đóng tàu, thợ làm mũ, thợ đóng giày, thợ dệt lụa, thợ làm dây thừng, thợ mộc… Cùng lúc đó, Place cũng vận động giới nghệ nhân thành lập các ủy ban tương tự ở nhiều địa phương khác trên nước Anh, và gửi đại biểu về London để xin được điều trần trước Quốc hội. Sau nhiều nộ lực thất bại, cuối cùng họ cũng đưa được một số đại biểu từ các xưởng đóng tàu London ra điều trần trước Ủy ban Wallace. Ngoài ra, họ cũng trình lên 97 bản kiến nghị, chứa hơn 100 nghìn chữ ký phản đối tái ban hành Đạo luật Kết hợp. Con số này vượt xa số kiến nghị đòi tái ban hành đạo luật.

Vào thời điểm đó, chính phủ Anh sợ sự hình thành của các nghiệp đoàn liên vùng và liên ngành nghề, để tạo thành một tổ chức có thể lật đổ chế độ, hơn là các cuộc thương lượng tập thể chỉ để đòi tăng lương. Vì vậy, họ đã đưa ra một giải pháp hòa hoãn. Ngày 17/06, Quốc hội bắt đầu xem xét dự thảo Đạo luật Kết hợp năm 1825, trong đó cấm mọi hình thức kết hợp, trừ các kết hợp để thương lượng về tiền lương, giá cả và giờ làm. Dự luật này cũng ngăn công nhân hình thành các nghiệp đoàn liên ngành nghề hoặc liên nhà máy. Ngoài ra, dự luật cũng cấm nghiệp đoàn gây sức ép với những công nhân không tham gia nghiệp đoàn, hoặc sẵn sàng nhận mức lương thấp hơn mức mà nghiệp đoàn đưa ra. Đổi lại những nhượng bộ trên, Place đồng ý thuyết phục công chúng chấp nhận dự luật.

4. Kết quả

Phong trào đòi bãi bỏ Đạo luật Kết hợp năm 1799 đã dẫn đến sự ra đời của Đạo luật Kết hợp năm 1825. Văn bản này hợp pháp hóa các hoạt động nghiệp đoàn, dù vẫn đặt ra nhiều giới hạn cho chúng. Nhiều giới hạn trong số này sẽ là đối tượng của các cuộc đấu tranh tiếp theo trong thế kỷ 19.

Ngoài ra, phong trào này đã dẫn đến sự ra đời của tờ Trades Newspaper, do Joseph Robertson làm tổng biên tập và John Gast làm cây bút chủ đạo. Phong trào cũng để lại một kinh nghiệm quan trọng, trong đó giới thợ đã hợp tác liên tầng lớp, liên ngành nghề, liên địa phương để vận động hành lang tại Quốc hội một cách hiệu quả.

Tú Cầu- sinh viên ngành ngôn ngữ Anh- đại học Mở Hà Nội, thành viên Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức

(Thông tin trong bài được lược dịch từ mục “Repeal of Combination Acts” trên trangEncyclopedia.com)

https://www.encyclopedia.com/history/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/repeal-combination-acts

Lịch sử phong trào nghiệp đoàn ở nước Anh – Kỳ 3: Cuộc tổng đình công năm 1820 ở Scotland

Tú Cầu. Liên lạc tác giả: tucau@nghiepdoanbaochi.org

1820pic.jpg

Vào thế kỷ 18, nước Anh trải qua cuộc Cách mạng Công nghiệp, làm khai sinh những nghiệp đoàn đầu tiên. Trong loạt bài này, tôi sẽ điểm lại những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành các nghiệp đoàn ở Anh quốc. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu hơn về lịch sử của phong trào Nghiệp đoàn, và rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích cho phong trào nghiệp đoàn ở Việt Nam.

Kỳ 3: Cuộc tổng đình công năm 1820 ở Scotland

Năm 1820, 60 nghìn thợ thuyền Scotland đã tổ chức bạo động và đình công trong vòng một tuần, để đòi một nước Scotland độc lập khỏi Anh và có quyền phổ thông đầu phiếu. Dù cuộc tổng đình công này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi trước khi bị dập tắt, nó là hệ quả của nhiều luồn tác động phức tạp, đến từ truyền thống dân chủ địa phương của Scotland, các tổ chức cách mạng đã hoạt động trong 3 thập niên trước đó, tình hình xã hội căng thẳng vào đầu thế kỷ 19, và các hoạt động giăng bẫy của cảnh sát.

  1. Truyền thống dân chủ địa phương ở Scotland

Scotland có một truyền thống dân chủ địa phương từ lâu đời. Trong thế kỷ 8 và 9, nước này được lãnh đạo bởi các tộc trưởng và các tiểu vương, do một vị vua đứng đầu, tất cả các vị trí vừa kể đều được bầu lên bởi một hội đồng các tộc trưởng. Sau khi chế độ phong kiến cha truyền con nối được thiết lập vững chắc vào thế kỷ 10, hội đồng Giám mục và Bá tước cố vấn cho nhà vua vẫn tồn tại và thay đổi dần, để tạo thành một Nghị viện đơn viện, nắm quyền chính trị và tư pháp vào năm 1235. Từ năm 1362, nghị viện này bao gồm ba tầng lớp là tăng lữ, chủ đất và đại diện các khu tự trị; có quyền đánh thuế, quyền lập pháp, và quyền hành xử đáng kể trong các lĩnh vực tư pháp, ngoại giao, quốc phòng. Nghị viện này cũng bầu ra một ủy ban chuyên soạn thảo các dự luật để Nghị viện bỏ phiếu thông qua. Trong quá trình Anh xâm chiếm Scotland vào thế kỷ 17, nghị viện Scotland dần bị Hoàng gia Anh thao túng, trước khi bị xóa bỏ.

Tuy nhiên, truyền thống dân chủ địa phương ở Scotland vẫn tiếp tục tồn tại dưới một hình thức khác. Từ năm 1560, Quốc hội Scotland đã quyết định chấp nhận cuộc Cải cách Kháng cách theo đề nghị của John Knox, một người Scotland theo học Jean Calvin ở Geneva. Dần dần, Giáo hội Scotland được tổ chức lại theo một mô hình mới, pha trộn giữa mô hình quản lý Giáo hội mà Calvin áp dụng ở Geneva với truyền thống dân chủ địa phương ở Scotland. Theo đó, mỗi Giáo đoàn sẽ được quản lý bởi ba loại viên chức: các trưởng lão đảm nhiệm việc quản trị, các trưởng lão đảm nhiệm việc giảng dạy (tức mục sư), và các “chấp sự” lo việc kinh tài, thiện nguyện. Các Giáo đoàn nằm gần nhau cử trưởng lão tham gia một ban quản lý cấp vùng, là Đoàn Trưởng lão. Các Đoàn Trưởng lão lại gửi đại diện đến tham dự một ban quản lý cấp quốc gia, là Đại Hội đồng. Các trưởng lão ở mỗi cấp quản lý vừa kể bình quyền với nhau, và ra quyết định bằng cách bỏ phiếu. Mỗi giáo đoàn có quyền chọn mục sư cho mình, nhưng quyết định này phải được Đoàn Trưởng lão phê chuẩn.

Mô hình vừa nêu được gọi là “Giáo hội Trưởng lão”. Do áp dụng mô hình dân chủ địa phương của Scotland, trong đó các đại biểu có quyền bỏ phiếu ngang nhau và tranh luận trước khi ra quyết định, “Giáo hội Trưởng lão” của Scotland khuyến khích quan điểm “bình quyền” và thói quen tranh luận trong dân chúng. Ngoài ra, mỗi Giáo đoàn thường có một trường học để cung cấp nền giáo dục đại trà cho dân chúng, khiến lớp người nghèo ở Scotland có trình độ học vấn và cơ hội thăng tiến cao hơn mức trung bình của châu Âu. Hệ thống trường học này được xem là có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các thành tựu thời Khai sáng của Scotland, và việc tạo ra các “huyền thoại dân chủ”, trong đó trẻ em nghèo có thể học để trở thành ông chủ hoặc nghệ sĩ.

  1. Các tổ chức cách mạng hoạt động trước đó

Vào thế kỷ 18, một số nhóm thợ thủ công – như thợ dệt, thợ đóng giày, thợ rèn và thợ xây – tạo thành một tầng lớp trung lưu thành thị ở Scotland. Khác với giới công nhân hưởng lương và làm việc theo giờ trong các nhà máy lớn của Anh, giới thợ thủ công Scotland vẫn lao động theo hình thức khoán sản phẩm. Vì vậy, họ có thể chọn giờ lao động tùy ý, để có thời gian đọc sách và thảo luận với bạn bè. Từ đầu thập niên 1790, họ chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc cách mạng Pháp, một phần thông qua cuốn “Rights of Man” (1791) của Thomas Paine.

Cũng trong giai đoạn này, giới thợ Scotland thành lập tổ chức Cộng đồng Scotland Thống nhất (The Society of the United Scotmen). Cũng như tổ chức tương tự ở Ireland, hội này đặt mục tiêu thành lập một nước Cộng hòa Scotland độc lập với Anh và có quyền phổ thông đầu phiếu. Thành viên của hội được tổ chức thành các tổ hoạt động bí mật gồm 16 người, mỗi tổ cử đại biểu tham dự các hội nghị cấp cao hơn, và người của tổ này không quen người tổ khác. Trong các hội nghị, đại biểu từ các tổ ra quyết định bằng cách bỏ phiếu, tương tự mô hình Giáo hội Trưởng lão của Scotland. Giữa thập niên 1790, hội này có 3000 thành viên, đông hơn tổng số cử tri Scotland lúc đó. Năm 1797, khi Quốc hội Anh ra lệnh cưỡng bách tòng quân, khiến tâm lý bất mãn ở Scotland dâng cao, hội này gia tăng hoạt động. Họ lên kế hoạch để 50 nghìn quân Hà Lan đổ bộ vào Scotland, để từ đó đánh sang Anh, nhưng thất bại vì bị Anh đánh chặn trên biển. Họ cũng tổ chức một số cuộc bạo động, nhưng bị đàn áp. Sau đó, Cộng đồng Scotland Thống nhất vẫn tiếp tục hoạt động bí mật, và cung cấp một số lãnh đạo cho cuộc tổng đình công năm 1820.

  1. Tình hình xã hội căng thẳng vào đầu thế kỷ 19

Đầu thế kỷ 19, sự bất mãn của giới thợ Scotland tiếp tục dâng cao vì hai vấn đề, là quyền bỏ phiếu và mức sống.

Về quyền bỏ phiếu, chỉ có 1/250 dân số Scotland vào thời điểm đó có quyền này, trong khi giới thợ thuyền đã tạo thành một tầng lớp trung lưu biết đọc, viết và tranh luận chính trị ở các thành thị.

Về mức sống, dưới tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp, thu nhập của thợ dệt đã giảm một nửa trong khoảng thời gian từ năm 1800 đến 1808. Khi giới chủ từ chối tăng lương vào năm 1812, giới thợ đã đình công trong vòng 9 tuần, dưới sự hỗ trợ của một mạng lưới tổ chức tương tự Cộng đồng Scotland Thống nhất. Từ thời điểm đó, chính quyền đã mở các trung tâm hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp, đồng thời tăng cường cài gián điệp vào các tổ chức bí mật của giới thợ và khuyến khích thường dân tố giác, để ngăn chặn các vụ việc tương tự xảy ra. Tuy nhiên, do đợt suy thoái kinh tế sau các cuộc chiến tranh Napoleon, giới thợ tiếp tục tổ chức nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn, như cuộc biểu tình quy tụ 40.000 người để yêu cầu mở rộng quyền bỏ phiếu và bãi bỏ giá ngô cao vào năm 1816.

  1. Các hoạt động giăng bẫy của cảnh sát

Tháng 08/1819, khoảng 60.000 dân Anh đã biểu tình ở quảng trường St.Peter, Manchester, để đòi cải cách Quốc hội nhằm khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế. Kỵ binh Anh đàn áp cuộc biểu tình, khiến 15 người chết và khoảng 400 người bị thương. Do bị kích động bởi sự kiện này, các tổ chức cấp tiến trên khắp nước Anh đều gia tăng hoạt động vào đầu năm 1820. Trong đó, các tổ hoạt động bí mật của giới thợ Scotland đã bầu ra một Ủy ban gồm 28 người, để tổ chức việc huấn luyện quân sự và bầu Chính phủ Lâm thời cho cuộc cách mạng đòi độc lập. Ủy ban giao việc huấn luyện quân sự cho John Baird, một thợ dệt từng đi lính.

Ngày 21/03/1820, cảnh sát phát hiện ra kế hoạch này nhờ cài gián điệp vào một cuộc họp trong quán rượu ở Glasgow. Theo báo cáo của viên cảnh sát Mitchell, thì những người nổi dậy đang âm mưu đòi độc lập cho Scotland và khôi phục Nghị viện Scotland cổ. Mitchell cũng đề nghị dùng mạng lưới gián điệp của cảnh sát để phát động bạo loạn sớm hơn dự định, nhằm dụ các lãnh đạo phong trào ra khỏi nơi trú ẩn. Từ ngày hôm sau, các gián điệp của cảnh sát Scotland bắt đầu phát truyền đơn và tung tin đồn, để loan báo rằng cuộc nổi dậy sẽ diễn ra vào ngày 01/04. Từ ngày thứ Hai, 03/04, 60.000 công nhân và thợ thủ công ở nhiều vùng của Scotland đã tổng đình công để hưởng ứng lời kêu gọi.

Các tổ hoạt động bí mật bắt đầu gấp rút chế tạo vũ khí và huấn luyện quân sự ở các vùng quanh Glasgow. Họ dùng các vật dụng sẵn có từ xưởng nhuộm vải và xưởng rèn để chế tạo giáo và một loại cầu gai để ném vào ngựa. Ngày 04/04, họ tạo thành các đoàn diễu hành, mỗi đoàn có khoảng 30 người, vừa đi vừa kêu gọi thêm người ủng hộ trước khi gặp nhau ở chỗ hẹn. Nhờ mạng lưới gián điệp, cảnh sát nắm được thông tin của các đoàn người này, và bắt hoặc giải tán từng đoàn trước khi họ kịp đến chỗ hẹn. Tuy nhiên, khi cảnh sát áp giải 5 người nổi dậy đến nhà tù Greenock, dân địa phương đã bạo động để cướp ngục, khiến cảnh sát bắn trả, làm 18 dân thường bị chết.

Sau một tuần đàn áp, chính quyền bắt và kết án phản quốc tổng cộng 88 người. Hầu hết số này bị kết án lưu đày, còn 3 người cầm đầu – gồm James Wilson, Andrew Hardie và John Bard – bị xử tử bằng hình thức treo cổ. James Wilson, một thành viên cao tuổi của Cộng đồng Scotland Thống nhất, được cho là thủ lĩnh của cuộc nổi dậy. Một đám đông 20.000 người đã tập hợp để chứng kiến buổi hành hình ông.

  1. Walter Scott giải quyết mâu thuẫn

Năm 1814, Walter Scott xuất bản tiểu thuyết Waverley, phổ biến một hình ảnh lãng mạn về quê hương Scotland của ông. Nhờ đó, năm 1815, ông được mời đến ăn trưa với một hoàng tử mà sau này trở thành Vua George IV. Khi George IV lên ngôi vào năm 1821, Scott đã được phong Nam tước, và trở nên quen thuộc với với quý tộc Scotland. Để hóa giải mâu thuẫn trong cuộc bạo động năm 1820, Walter Scott đã gợi ý George IV đến thăm Scotland, biến ông này thành vua Anh đầu tiên thăm Scotland trong gần 2 thế kỷ.

Theo kịch bản mà Scott dày công chuẩn bị, tháng 08/1822, Vua George IV đã mặc trang phục váy ca-rô truyền thống của Scotland, để diễu hành cùng các quý tộc địa phương của vùng này. Cảnh sát trưởng Stirling cũng tham gia cuộc diễu hành với tư cách một tộc trưởng. Cuộc diễu hành gây chấn động dư luận, và khiến người Scotland tin rằng họ có thể vừa nằm trong Vương quốc Anh, vừa giữ được bản sắc, quyền lợi riêng của dân tộc. Ngoài ra, Walter Scott cũng đề nghị cho giới thợ dệt thất nghiệp của Scotland tham gia một dự án làm đường, để giải quyết sinh kế của họ.

Sau đó, người Scotland tiếp tục vận động đòi cải tổ Quốc hội. Năm 1832, chính quyền ban hành Đạo luật Cải cách Scotland, khiến vùng Glasgow lần đầu có đại biểu trong Quốc hội. Năm 1835, những người bị đi đày sau vụ bạo loạn năm 1820 được ân xá.

Tú Cầu- khoa Ngữ Văn Anh, đại học Mở Hà Nội, thành viên của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam  (tổng hợp)

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn lao động cho sinh viên Việt Nam

Lịch sử phong trào nghiệp đoàn ở nước Anh – Kỳ 2: Đạo luật Kết hợp năm 1799

Tú Cầu. Liên lạc tác giả: tucau@nghiepdoanbaochi.org

T0226.jpg

Vào thế kỷ 18, nước Anh trải qua cuộc Cách mạng Công nghiệp, làm khai sinh những nghiệp đoàn đầu tiên. Trong loạt bài này, tôi sẽ điểm lại những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành các nghiệp đoàn ở Anh quốc. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu hơn về lịch sử của phong trào Nghiệp đoàn, và rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích cho phong trào nghiệp đoàn ở Việt Nam.

Kỳ 2: Đạo luật Kết hợp năm 1799

Vào thế kỷ 18, cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh quốc thu hút một lượng lớn lao động là phụ nữ, trẻ em, dân nông thôn và người nhập cư, đặt họ vào những vai trò mới. Từ bể lao động thiếu tay nghề và bán chuyên nghiệp này, các hội tương trợ nghề nghiệp đã hình thành một cách tự nhiên. Chúng kế thừa nhiều di sản từ những phường hội của thợ thủ công thời Trung Cổ, dù cấu trúc của hai dạng hội này khác nhau. Vì việc thương lượng để đòi tăng lương vẫn bị cấm, dưới tác động của Luật Lao động năm 1351, các tổ chức này đều hoạt động dưới dạng hội kín, đôi khi nhuốm màu sắc kỳ bí.

Cuối thế kỷ 18, cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776 và Cách mạng Pháp năm 1789 ảnh hưởng mạnh đến tình hình chính trị – xã hội của mọi quốc gia châu Âu, trong đó có Anh. Cụ thể, trong nước Anh đã hình thành nhiều nhóm chính trị cấp tiến chịu ảnh hưởng từ phái Jacobin của Pháp. Các nhóm này hoạt động để tăng quyền lực của giới bình dân, cải cách Nghị viện, và giảm quyền lực của Hoàng gia Anh. Ngoài ra, dân Ireland đã thành lập Cộng đồng Ireland Thống nhất, do Wolfe Tone đứng đầu, để đòi nền độc lập và nền Cộng hòa cho Ireland. Tương tự một số nhóm chính trị cấp tiến người Anh, tổ chức này cũng liên kết với người Pháp. Chẳng hạn, tháng 12 năm 1796, một toán quân Pháp do tướng Lazar Hoche dẫn đầu đã định xâm lược Ireland vào đúng lúc nhóm ly khai Ireland nổi dậy, rồi từ đó đánh sang Anh. Tuy nhiên, kế hoạch của họ đã thất bại do thời tiết xấu.

Trong các biến động chính trị diễn ra ở Anh vào thời gian đó, có cả một số cuộc bãi công để đòi tăng lương. Chẳng hạn, tháng 4 năm 1797, toàn bộ thủy thủ hải quân ở Spithead đã đòi tăng lương để thích ứng với lạm phát. Vì vụ việc này xảy ra đúng lúc quân Pháp và đồng minh Hà Lan đang chuẩn bị xâm lược Anh, nó đã khiến chính phủ Anh bị chấn động mạnh, và buộc phải đáp ứng yêu sách của các thủy thủ.

Để ứng phó với các biến động chính trị vừa nêu, trong suốt thập niên 1790, giới quý tộc Anh đã ủng hộ các lực lượng bảo hoàng ở Pháp. Đồng thời, chính phủ Anh của Thủ tướng William Pitt cũng áp dụng một loạt các biện pháp đặc biệt để giữ ổn định chính trị trong nước Anh. Chẳng hạn, họ phát động một chiến dịch tuyên truyền lớn, trong đó họ mô tả cuộc chiến Anh – Pháp như một cuộc đối đầu ý thức hệ, giữa một bên là “trật tự xã hội” của nền Quân chủ Anh, còn bên kia là “tình trạng hỗn loạn” của nền Cộng hòa Pháp. Trong các chiến dịch tuyên truyền, họ cũng luôn gán ghép các thành phần cấp tiến ở Anh với các lực lượng trong cuộc Cách mạng Pháp. Ngoài ra, họ cũng thiết lập một mạng lưới mật vụ trải rộng trên toàn quốc, hoạt động một cách hiệu quả, và khuyến khích người dân thường tố giác các “thành phần cấp tiến” chưa lộ diện.

Trong thập niên 1790, chính phủ Pitt đã ban hành hai văn bản luật để ngăn chặn các cuộc “tụ tập đông người”, hoặc các dạng kết hợp khác có thể gây biến động chính trị. Năm 1795, họ ban hành Đạo luật về Tụ tập Bạo động, trong đó cấm tụ tập trên 50 người, và cấm tổ chức các cuộc họp chính trị để thảo luận về sự bất công của các văn bản luật, Hiến pháp, Chính phủ, hoặc các chính sách của Vương quốc. Năm 1799, họ ban hành Đạo luật Kết hợp, trong đó cấm công nhân kết hợp thành các nghiệp đoàn hoặc các nhóm thương lượng tập thể [1].

Do hai đạo luật vừa nêu, nhiều tổ chức chính trị – xã hội ở Anh phải giải thể để tránh bị phạt, trong khi số khác, bao gồm một số nghiệp đoàn, chuyển sang hoạt động bí mật dưới các vỏ bọc hợp pháp. Chẳng hạn, khi một nghiệp đoàn đa ngành nghề được thành lập ở Anh vào năm 1818, nó được đặt tên là Hội Hảo tâm.

Trong suốt giai đoạn này, các nghiệp đoàn tiếp tục phát triển mạnh ở Anh, và tổ chức nhiều cuộc đình công. Chẳng hạn, năm 1820, 60.000 công nhân đã cùng đình công ở Scotland, nhưng nhanh chóng bị đàn áp.

Tú Cầu- sinh viên ngành ngôn ngữ Anh- đại học Mở Hà Nội, thành viên Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức

Chú thích:

[1] “The Combination Act of 1800”

https://www.marxists.org/history/england/combination-laws/combination-laws-1800.htm

Lịch sử phong trào nghiệp đoàn ở nước Anh – Kỳ 1: Pháp lệnh về Người Lao động năm 1349

Viết bởi Tú Cầu. Liên lạc tác giả: tucau@nghiepdoanbaochi.org

ab749a71b7b8472343ce620414733ae2--black-death-plague.jpg

Vào thế kỷ 18, nước Anh trải qua cuộc Cách mạng Công nghiệp, làm khai sinh những nghiệp đoàn đầu tiên. Trong loạt bài này, tôi sẽ điểm lại những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành các nghiệp đoàn ở Anh quốc. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu hơn về lịch sử của phong trào Nghiệp đoàn, và rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích cho phong trào nghiệp đoàn ở Việt Nam.

Kỳ 1: Pháp lệnh về Người Lao động năm 1349

Từ năm 1348 đến năm 1350, nạn dịch hạch bùng phát ở Anh, giết chết khoảng 30-40% tổng dân số nước này. Do dân số đột ngột suy giảm, nguồn cung nhân công lao động ở Anh giảm mạnh, trong khi nhu cầu của nền kinh tế nông nghiệp ở nước này vẫn rất lớn.

Trước tình hình đó, các chủ đất ở nước Anh phải dối mặt giữa hai lựa chọn: hoặc tăng lương cho nhân công để cạnh tranh với các chủ đất khác trong việc thu hút lao động, hoặc bỏ hoang khu đất canh tác của mình. Do chi phí để thuê lao động tăng, hàng hóa cũng tăng giá theo, khiến xảy ra tình trạng lạm phát. Lạm phát gây thiệt hại cho tầng lớp giàu có của nước Anh, và cho một bộ phận người lao động. Trong khi đó, những người lao động khác lại hưởng lợi bằng cách đòi chủ thuê tăng lương.

Tầng lớp giàu có tỏ ra bức xúc về phong trào đòi tăng lương này, và về việc phải cạnh tranh với nhau để thu hút lao động. Chẳng hạn, John Gower nhận xét rằng nhân công hậu dịch hạch rất “khan hiếm”, “chậm chạp”, “đòi trả nhiều tiền trong khi làm rất ít”.

Trước tình hình đó, ngày 18/06/1349, vua Edward III đã ban hành Pháp lệnh về Người Lao động năm 1349 của Anh. Pháp lệnh này đưa ra nhiều quy định, bao gồm:

_ Mọi người dưới 60 tuổi đều phải lao động

_ Giới chủ không được thuê lao động dư thừa

_ Giới chủ không được trả lương, và người lao động không được nhận lương cao hơn mức ở trước nạn dịch hạch

_ Thực phẩm phải được định giá hợp lý, để không tạo ra lợi nhuận quá cao

_ Không được bố thí, để tránh gây ra sự lười biếng

Năm 1351, vua Edward III tiếp tục ban hành Luật Lao động năm 1351, có nội dung chính tương tự Pháp lệnh về Người Lao động năm 1349. Cả hai văn bản này đều có một hạn chế lớn, là không tính đến các điều kiện kinh tế đang thay đổi sau nạn dịch hạch và trong cuộc Chiến tranh Trăm năm. Vì vậy, hai văn bản không được thực thi nghiêm túc ở hầu hết các vùng, và mức lương nông nghiệp ở Anh đã tăng gấp đôi từ năm 1350 đến năm 1450. Bệnh dịch hạch được cho là đã thay đổi hoàn toàn kết cấu xã hội Anh, theo hướng tăng quyền cho các tầng lớp lao động. Đây là một tiền đề để hình thành các phong trào nghiệp đoàn ở Anh trong thế kỷ 18.

Tú Cầu-sinh viên ngành ngôn ngữ Anh, đại học Mở Hà Nội, thành viên Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức

Chú thích:

[1] “What was the Economy Like After the Black Death?” – The Plague and England, Cardiff University

https://web.archive.org/web/20070430031619/http://www.cf.ac.uk/hisar/teach/history/projects/plague/economy.html

[2] “ORDINANCE of LABOURERS, 1349” – Britania.com

http://www.britannia.com/history/docs/laborer1.html

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng: lời bạt về công trình của Hồ Ngọc Đại

LỜI DẪN:
Sau khi viết lời bạt dưới đây, khiêm tốn dưới dạng một lời bình dưới chân các bài đã đăng, tôi định thôi, không bàn đến chuyện này nữa, nhất là tôi có tâm trạng bất an về thái độ của một số trí thức Viêt Nam trong tranh luận về học thuật. Tôi tự bảo có lẽ từ rày nên dè chừng, không nói hết sự thật vì có khả năng tôi sẽ mất đi những bạn bè mà tôi hằng chia sẻ những giá trị cao đẹp bấy lâu nay. Nhưng lòng tôi vẫn chưa yên lòng, tự bảo làm sao đây với lương tri một nhà khoa học, một trí thức dấn thân về những bất trắc của xã hội Việt Nam ngày nay mà giáo dục là sở trường của một nhà giáo như tôi?

Thế là tôi nhận được trực tiếp qua thư điện tử một bài viết mới của nhà giáo lão thành Trần Minh Quốc, rất tích cực trong thảo luận về Công Nghệ Giáo Dục ( sau đây sẽ gọi tắt là CNGD), một đề tài nóng bỏng hiện nay, vẫn chưa được đúc kết trên các diễn đàn.

Vì lý do rộng đường dư luận, tôi quyết định đăng lại lời bạt của tôi, sau đó là nguyên văn bài viết của nhà giáo Trần Minh Quốc.

Nguyễn Đăng Hưng
_________________________________________________________________
LỜI BẠT
Nguyễn Đăng Hưng

Hai bài tôi viết về Công Nghệ Giáo Dục (CNGD) đã được bạn đọc đón nhận ra ngoài sự chờ đợi của tôi ! Tôi rất cám ơn sự nhiệt tình của bạn đọc.
Ngược lại cũng có những phản ứng bất ngờ ! Thí dụ có một vị vốn cũng là giảng viên đại học miền Trung, bất chợt bỏ bóng đá người, oánh tôi dưới thắt lưng một cách rất thiếu văn hóa !
Bị cộng đồng mạng đồng loạt phản ứng, ông giảng viên ĐH miền Trung kia đã xóa bài tệ hại. Lời xin lỗi không thấy đâu hết! Vậy là coi như cho qua ! Chuyện tử tế của phe phản biện xã hội cũng không có!
Một ông trí thức khác trách tôi nói liều không đọc sách ông Hồ Ngọc Đại !
Tôi xin nhắn nhủ ngài trí thức tiếng tăm đó là tôi vốn người ngoại đạo, không phải là nhà âm ngữ học, cũng không phải là nhà nghiên cứu về GS Hồ Ngọc Đại !
Tôi chỉ phản biện một cách chân thực cái tôi biết, thí dụ như cách dạy toán cách tân là rất tai hại, không nên. Nội chuyện này cũng đủ nên đặt vấn đề với CNGD !
Ngoài ra, tôi có trích dẫn và phản biện những tuyên bố trên đài mà ai cũng thấy từ GS Hồ Ngọc Đại, những mâu thuẫn không thể chối cãi giữa nói và làm, những sơ sót trên sách Tiếng Việt lớp 1, CNGD…
Tôi nào phản biện tất cả sách ông Đại viết, có thể có chỗ rất hợp lý, ngược lại điều mà GS Đại nói trên đài…
Vậy là bạn tốt của GS Đại, ngài trí thức nên khuyên GS Đại, đưa ra một bản đính chính, rút lại những gì còn mập mờ chưa rõ, sửa chữa những sơ sót, hoàn thiện sách quan trọng nhất của ông để học sinh nhờ !…
Cũng nên khuyên ông Đại nên phát biểu khiêm tốn hơn, cân nhắc hơn, nhất quán hơn, để cho dân chúng có thiện cảm hơn!
Tôi luôn luôn đánh giá GS Hồ Ngọc Đại là một trí thức tâm huyết với giáo dục, có thiện ý thay đổi tích cực nền giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Đăng Hưng 16/9/2018

Lỗi tại bố mẹ, lỗi tại thầy cô

Một ngày nọ, nhà giáo Nguyễn Văn Khải nhận được yêu cầu bán bóng đèn 60 phân. Ông buồn vì người thầy mua bóng đèn bừa bãi như thế sẽ làm hỏng mắt các học sinh. Các nhà giáo đi mua bóng đèn mà không biết mua nhầm bóng đèn sẽ làm cho  học sinh bị cận và phải đeo kính.

Thầy Đào Quang Thực không cô đơn!

42088787_295290861284368_1026972305911185408_n.jpg
Ảnh 1: Thầy Thực về Hà Nội biểu tình phản đối Formosa 5/2016

Nghe tin thầy thực bị bắt, bị khởi tố theo điều 79: “Hoạt động lật đổ” từ hôm 5/10/2017 qua Hội Giáo chức Chu Văn An, nhưng phải đến tận 1/2/2018 chúng tôi mới tìm được manh mối để lên thăm nhà Thầy.

Hoà Bình, cái tỉnh của núi rừng. Và khi chúng tôi thực sự đến mới thấy hết những con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu. Xe chúng tôi phải dừng nhiều lần vì lầy lội, và vì để hỏi thăm đường.

Và khi bước chân vào nhà thầy, qua sự dè dặt, lo ngại của vợ thầy (cũng là một cô giáo), và qua những ánh mắt tò mò, dò xét của những người xung quanh, chúng tôi cảm nhận rõ cái sự “khác người” của thầy giữa vùng quê mà thầy sống, và nỗi khổ của gia đình thầy khi có một chủ nhà khác người như thế.

42139062_295290874617700_1654230190475182080_n
Ảnh 2: Chúng tôi đến thăm nhà thầy 1/2/2018

Quả thật lúc đầu tôi nản đến nỗi muốn quay ra ngay để khỏi làm phiền gia đình, nhưng rồi cố nán lại để giải thích cho gia đình biết sự chính nghĩa của thầy.

Cũng dễ hiểu, ở một vùng miền núi cách biệt như nhà thầy, thời sự, chính trị ít ai biết đến, internet lại càng là điều xa lạ, thì việc thầy Thực “hoạt động lật đổ chính quyền” và bị bắt, là một việc vô cùng nghiêm trọng, như một tiếng bom nổ giữa ban ngày. Khâm phục thầy thì lại càng thương thầy và gia đình, đơn độc chịu đựng những sách nhiễu, áp lực từ công an và chính quyền. Thầy như một ngôi sao cô đơn nhưng vẫn sáng.
(Tuy là một vùng quê nghèo, nhưng chếch bên phải của nhà thầy là một dinh thự hoành tráng, hỏi ra thì đó là một nhà quan).

Nhưng thầy Thực chỉ khác người trong vùng bởi hành động đứng dậy đấu tranh, chứ trong cuộc sống đời thường thì thầy được cả làng, nhất là các học trò quý mến, kính trọng, bởi lối sống mẫu mực, nhiệt tình và hết lòng với những người xung quanh, đặc biệt với học sinh. Thầy thường xuyên giúp đưa đón các học trò đến trường, cho các cháu ăn cơm ở nhà mình. Lúc bị bắt thầy cũng vừa giúp đón học sinh về.

Mới đây thấy một tấm hình thầy tham gia biểu tình phản đối Formosa ở Nhà hát lớn Hà Nội năm 2016, mới thấy thầy đã thiệt thòi, khó khăn, cô đơn và nỗ lực như thế nào. Muốn được biểu tình thầy phải từ Hoà Bình về tận Hà Nội, mà cho đến khi bị bắt nào mấy ai biết thầy. Thầy không có người đồng hành chia sẻ, không được bênh vực, bảo vệ, đùm bọc như những người đấu tranh ở nơi có đông người tham gia. Nhưng ý chí của thầy sắt đá, tâm hồn thầy đầy hoài bão về những điều tốt đẹp cho quê hương.

“Tôi đấu tranh đòi tự do, dân chủ, và quyền con người cho nhân dân tôi. Tôi đấu tranh cho đất nước tôi được sống trong môi trường trong lành. Tôi không ân hận”. Thầy đã nói vậy trước bản án 14 năm tù, bình thản mỉm cười, hẹn đặt tên cho cháu nội, và dặn các con chăm sóc cây cối trong vườn, coi đó như một cuộc dạo chơi, dẫu trong người đang mang đầy bệnh tật. Cảm phục và thương mến thầy biết mấy!

Thầy đã không còn cô đơn, giờ đây cả gia đình đứng bên thầy, tự hào về thầy. Hơn nửa năm trước, khi chúng tôi đến thăm, vợ thầy e ngại không dám chụp hình chung – thì vài tháng sau, khi tôi bị đánh vì đi biểu tình phản đối luật đặc khu, cả nhà thầy đã từ Hoà Bình xuống nhà thăm, và cô ấy đã không ngần ngại chụp hình, (sự chuyển biến ấy là món quà quý giá đối với tôi hôm đó).

Ảnh 3: Gia đình thầy Thực thăm nhà tôi khi nghe tin tôi bị đánh, 6/2018
Ảnh 3: Gia đình thầy Thực thăm nhà tôi khi nghe tin tôi bị đánh, 6/2018

Thầy đã không còn cô đơn. Chúng tôi sẽ luôn đồng hành cùng thầy và gia đình, bởi CHÚNG TA LÀ MỘT GIA ĐÌNH! ❤️🌹

Nhà tranh đấu Nguyễn Thúy Hạnh/fb

Nghiệp đoàn độc lập là gì?

Một buổi họp của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam- hình minh họa bởi Ty Lê
Một buổi họp của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam- hình minh họa bởi Ty Lê

Bản thân của hai chữ “nghiệp đoàn” đã cho chúng ta một định nghĩa rất chuẩn xác: là đoàn thể của những người cùng một nghề nghiệp.

Một nghiệp đoàn đúng nghĩa phải là do chính người lao động bầu ra, đại diện cho người lao động và đấu tranh cho quyền và lợi ích của người lao động.

Khi nói đến nghiệp đoàn , người ta không chỉ nghĩ là nghiệp đoàn của công nhân, mà nó là tập hợp của tất cả những ngành nghề được hoạt động trong quốc gia đó. Ví dụ: nghiệp đoàn giáo chức, nghiệp doàn hàng không, nghiệp đoàn thợ mộc…

Và một điều quan trọng nhất, nghiệp đoàn phải là một tổ chức xã hội dân sự chuyên nghiệp và phi chính trị. Đó là điều chủ yếu để phân biệt với công đoàn, là tập hợp của những công nhân, của những người lao động nằm dưới sự chỉ đạo của nhà nước và đảng. Chính vì thế, nó không do người lao động trực tiếp bầu nên, vì thế không đại diện cho người lao động.

Và trong rất nhiều trường hợp, họ không đấu tranh cho quyền lợi của người lao động mà thường họ đứng về phía chủ nhân.

Trên thực tế, trong suốt quá trình thành lập và hoạt động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã chứng minh cho điều đó (Tất cả những cuộc đình công của công nhân từ trước đến nay đều là những cuộc đình công tự phát, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam chưa bao giờ hướng dẫn công nhân biểu tình đình công để đòi hỏi quyền lợi cho họ) . Ngoài ra, Điều 1 chương 1 Luật Lao động cũng đã khẳng định Tổng liên đoàn lao động Việt Nam là một cơ quan chính trị của Đảng và nhà nước: “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ;”

Vì thế, chúng tôi chọn danh từ “nghiệp đoàn” thay vì “công đoàn” để nói lên tính độc lập của nghiệp đoàn và đồng thời để phân biệt với công đoàn của nhà nước.

Nguồn: Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam

Nghiệp đoàn giáo chức độc lập sẽ bảo vệ những giáo viên nữ khỏi đi tiếp khách.

Ảnh: Trưởng phòng Giáo dục huyện Hồng Lĩnh Lê Bá Thiềm, người được cho là đã điều động các nữ giáo viên ở Hà Tĩnh đi làm lễ tân, tiếp rượu quan khách.

Khi bị chất vấn bởi báo chí, Trưởng phòng Giáo dục Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) Lê Bá Thiềm – người được cho đã điều động một số cô giáo trong huyện làm lễ tân, tiếp rượu quan khách, đã nói một câu tỏ rõ mình là một tay cao cờ:

‘Giáo viên nào phản ánh như thế cứ trực tiếp đối thoại (đối chất)’.

Ông ấy đã chiếu đúng thế bí của các nữ giáo viên: Trước quyền lực ai cũng yếu ớt vì đơn lẻ.

Vậy nên, cho tới lúc này, nhiều ngày sau khi sự việc xảy ra, chưa một ai trong số các nữ giáo viên dám đứng ra trước công luận, đường đường chính chính tố cáo hành xử tệ hại của ông Trưởng phòng và những cấp trên của ông ta ở Hồng Lĩnh.

Ngay cả khi nhận được sự khích lệ từ các nhà báo, đa số nữ giáo viên này hẳn đều đang nghĩ: ‘Nhà báo đến viết bài rồi đi, nhưng mình vẫn sẽ là giáo viên ở cái xứ Hồng Lĩnh này mãi, liệu có yên ổn không, ngay cả khi có thể khiến tay Trưởng phòng kia mất chức? Hay là chưa được vạ thì má đã sưng? Thôi thì đành im lặng vậy, có phải mỗi mình bị vậy đâu.’

Vậy là cuối cùng ai nấy đều giữ sự ấm ức trong im lặng. Bất công cũng được nuôi dưỡng theo cách đó.

Giả định này, nếu đúng thực tế, gợi ý rằng, sự vào cuộc của báo chí, dẫu rất quan trọng, song vẫn chỉ giúp giải quyết phần ngọn của vấn đề khi sự tình vỡ lở, chứ không xử lý được nguyên nhân gốc rễ để ngăn chặn những điều tệ hại.

Nhưng mà nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này là gì?

Nhiều người trả lời đơn giản là vì những lãnh đạo như ông Thiềm thiếu đạo đức, vô giáo dục và coi thường phụ nữ nên mới hành xử như vậy.

Chưa vội đánh giá lý giải trên, thử điểm qua thêm vài câu hỏi nữa:

1, Sự việc ép giáo viên nữ có ngoại hình ưa nhìn phải đi tiếp khách, tiếp rượu nhân các kỳ lễ lạt chỉ diễn ra trong ngành giáo dục huyện Hồng Lĩnh? Hay chỉ riêng ở tỉnh Hà Tĩnh? Hay là của cả nước?

2, Sự việc này chỉ xảy ra trong ngành giáo dục, hay còn trong các ngành nghề, lĩnh vực khác của khu vực công, khi mà các nữ nhân viên có vẻ ngoài dễ nhìn thường bị yêu cầu phải đi tiếp khách – điều vốn không được quy định trong mô tả công việc của họ, và nằm ngoài ý muốn của họ?

Nếu câu trả lời cho tất cả câu hỏi trên đều là ‘Không’: Sự việc trên KHÔNG CHỈ xảy ra ở Hồng Lĩnh, cũng KHÔNG CHỈ trong ngành giáo dục mà ở khắp các cơ quan của những lãnh vực khác nhau trên cả nước, thì có thể chúng ta sẽ phải đối mặt với một câu hỏi lớn hơn: Vì sao đa số những người có quyền hành ở xã hội chúng ta đều hành xử như vậy?

Hay, nếu gọi cách hành xử trên là phi đạo đức, thì câu hỏi sẽ là vì sao những kẻ có quyền hành ở nước ta lại phi đạo đức trên một diện rộng như thế?

Đơn giản thôi, ấy là vì quyền lực của họ không bị kiềm chế/đối trọng.

Lord Acton, vài trăm năm trước đã nói một câu khó có thể bắt bẻ: “Quyền lực có xu hướng gây hủ hóa. Quyền lực tuyệt đối, hủ hóa tuyệt đối”.

Ai, tổ chức nào trong ngành giáo dục Hồng Lĩnh có thể đối trọng lại quyền lực của ông Lê Bá Thiềm, trưởng phòng giáo dục huyện này?

Mà cũng chưa cần tới cấp trưởng phòng giáo dục, nội trong một trường học hiện nay, ai, tổ chức nào có thể đối trọng lại quyền lực của hiệu trưởng?

Đây mới thực sự là nguồn cơn của nhiều điều tệ hại xảy ra mà kẻ chịu thiệt bao giờ cũng là mỗi người lao động đơn lẻ.

Thế giải pháp là gì? 

Bản chất mối quan hệ giữa ông trưởng phòng giáo dục (và các hiệu trưởng) với các cô giáo là giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động đang lạm dụng quyền lực để bắt ép người lao động phải làm những việc ngoài hợp đồng.

Người sử dụng lao động luôn có ưu thế hơn trong mối quan hệ với mỗi người lao động đơn lẻ (nhờ nắm quyền về lương thưởng, thuyên chuyển công tác…), nên để đối trọng lại quyền lực này người lao động cần phải kết hợp với nhau thành nghiệp đoàn.

Sức mạnh của nghiệp đoàn nằm ở khả năng khiến cho người sử dụng lao động phải trả giá bằng thiệt hại to lớn một khi dám xâm phạm vào lợi ích chính đáng của mỗi thành viên trong nghiệp đoàn.

Thử hình dung, cũng trong tình huống Trưởng phòng Lê Bá Thiềm có văn bản điều động đi tiếp khách như trên, giả sử các giáo viên ở Hồng Lĩnh có một nghiệp đoàn giáo chức thực sự độc lập do chính họ điều hành. Nghiệp đoàn này, sau khi xét thấy yêu cầu của ông Trưởng phòng là không thể chấp nhận được, đã ra quyết định sẽ bãi khóa để phản đối. Toàn bộ giáo viên ở Hồng Lĩnh ngay ngày hôm sau hưởng ứng bằng cách không đến trường khiến hệ thống giáo dục huyện này ngưng trệ. Nghiệp đoàn tuyên bố giáo viên sẽ chỉ trở lại trường cho tới khi nào Trưởng phòng Thiềm rút lại văn bản và xin lỗi.

Thêm nữa, một khi nghiệp đoàn giáo chức huyện Hồng Lĩnh có liên kết với tổng nghiệp đoàn giáo chức Hà Tĩnh và cả nước, họ có thể hành động ở một mức độ cao hơn – một cuộc bãi khóa của giáo viên toàn quốc đòi cách chức Lê Bá Thiềm và điều tra liệu các quan khách có hành vi lạm dụng tình dục hay chẳng hạn – nếu xét thấy văn bản của ông ấy xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự nghề nghiệp của họ. Chính phủ, nếu không muốn hệ thống giáo dục quốc gia bị ngừng trệ, sẽ buộc phải xuống tay ngay với những cán bộ như ông Thiềm.

Thế thì, chỉ sau một lần nhớ đời như vậy, không chỉ ông Thiềm và các hiệu trưởng mà cả các cấp trên của ông Thiềm và các quan chức giáo dục khác cũng phải dặn dò nhau không làm gì trái với các điều khoản trong hợp đồng lao động đã ký với giáo viên. Những điều tệ hại cứ theo đó mà được ngăn chặn.

Đọc tới đây, hẳn nhiều người sẽ nói: Lại nghiệp đoàn độc lập chứ gì, Trump đắc cử Tổng thống Mỹ rồi, không có TPP đâu, đừng mơ về nó nữa.

Không nên nghĩ vậy, TPP hay nước Mỹ không phải là điều kiện cũng chẳng hề là động lực để người Việt đòi quyền tự do nghiệp đoàn.

Phẩm giá của từng cá nhân người lao động, và quyền lợi chính đáng của họ – chẳng hạn ở đây, là quyền được yên ổn đứng trên bục giảng rồi về với chồng con của các cô giáo Hồng Lĩnh, chứ không phải ngả nghiêng với chén rượu bên đám quan chức – mới chính là nguyên nhân và động lực của tự do nghiệp đoàn – nơi mà trong đó những người lao động đơn lẻ tìm thấy sức mạnh to lớn hơn khi dựa vào nhau để bảo vệ nhau.

Mà người lao động là ai? – Là các cô giáo ở Hồng Lĩnh, là bạn, là tôi và cha mẹ anh em bạn bè của chúng ta, chứ còn ai nữa.

PS 1: Các ông chồng – dù công việc là gì, gồm cả bộ đội, công an – nếu có vợ là giáo viên, mà đặc biệt là giáo viên có nhan sắc, có thể tìm thấy ở đây một lý do để ủng hộ nghiệp đoàn độc lập – thứ có thể bảo vệ phẩm giá của vợ họ và hạnh phúc gia đình của họ một cách dài hạn, vì trong sự việc vừa qua ở Hồng Lĩnh, nhiều cô giáo đã phản ánh gia đình họ lục đục vì chồng không chấp nhận nên đã ghen tuông, xô xát. 

PS 2: Khi nói giá như các cô giáo ở Hồng Lĩnh có một nghiệp đoàn giáo chức độc lập, điều đó có nghĩa là công đoàn hiện tại của các cô, dù đang thu phí của các cô bằng 2% lương hàng tháng, nhưng đã không làm gì để bảo vệ các cô. Tệ hại hơn, Phòng Giáo dục Hồng Lĩnh còn thông qua Công đoàn để nhờ lựa các cô giáo trẻ, đẹp.

Nguyễn Anh Tuấn/fb

Bức “tâm thư” đẫm nước mắt gửi Thủ tướng của 500 giáo viên mất việc

Kính gửi: Bác Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chúng cháu là tập thể giáo viên hợp đồng (GVHĐ) dài hạn huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk. Chúng cháu biết bác rất bận rộn với các công việc trọng đại của đất nước, nhưng xin bác hãy dành một chút thời gian của mình để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của hơn 500 GVHĐ đang chuẩn bị lâm vào tình cảnh mất việc và mất niềm tin vào hướng giải quyết của UBND huyện Krông Pắk, khi UBND huyện đã ra thông báo cho các trường chấm dứt hợp đồng với tất cả GVHĐ trên toàn huyện trước ngày 30-10-2018.

Kính thưa bác! Khi chúng cháu bước chân vào cổng trường sư phạm chúng cháu rất vui mừng vì đã chạm tới ước mơ của mình và càng vui mừng hơn khi ra trường được cầm trong tay quyết định hợp đồng lao động (HĐLĐ) dài hạn do Chủ tịch UBND huyện Krông Pắk ký. Gần 10 năm giảng dạy, chúng cháu đã cống hiến phần lớn tuổi thanh xuân cho nền giáo dục huyện nhà.

Khi bước chân vào nghề, chúng cháu đã gặp rất nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần, có những bạn bỏ lại sau lưng gia đình và quê hương để công tác, có những bạn có khi phải đánh đổi cả mạng sống của mình trên đường đến trường ở vùng III. Với mức lương 640.000 đồng/tháng nhưng chúng cháu vẫn kiên nghị bám lớp bám trường với hy vọng huyện sẽ tổ chức xét tuyển vào thời gian sớm nhất để được chính thức ngành, cống hiến hết tâm lực cho ngành, đồng thời ổn định cuộc sống.

Ngày 9-3, UBND huyện Krông Pắk đã gửi công văn hỏa tốc chấm dứt toàn bộ hợp đồng đối với GVHĐ mà không cho ai bày tỏ bất kỳ ý kiến trong cuộc họp. Cuộc họp chỉ diễn ra 20 phút mà quyết định số phận của hơn 500 con người gây bức xúc, phẫn nộ.

Đến ngày 11-3, UBND tỉnh lại gởi công văn hỏa tốc tạm dừng quyết định trên của UBND huyện để tìm giải pháp nhân văn hơn. Chúng cháu vui mừng chưa được bao lâu thì đến ngày 5-9, ngày cả nước vui mừng chào đón lễ khai giảng năm học mới thì UBND huyện gửi công văn yêu cầu tất cả các trường chấm dứt hợp đồng đối với GVHĐ, hạn cuối cùng trước ngày 30-10.
Từ năm 2010-2018, qua 3 đời chủ tịch huyện đã ký dôi dư hơn 500 GVHĐ. Sau đó lại chính chủ tịch UBND huyện lại ký quyết định thôi việc các giáo viên này. Lỗi này không thuộc về GVHĐ mà thuộc về người ra quyết định. Người ký sai chịu nhận quyết định cảnh cáo còn chúng cháu giờ đây chuẩn bị mất việc. Có những GVHĐ đang mang thai khi nghe tin đã không chịu được cú sốc dẫn đến sẩy thai rồi mất con.

500 con người và 500 gia đình sẽ ra sao?

Đây có phải là giải pháp nhân văn nhất của UBND huyện và UBND tỉnh đối với GVHĐ chưa hay chỉ nhân văn đối với lãnh đạo UBND huyện Krông Pắk?

Mong muốn tột cùng của chúng cháu là hằng ngày được đứng trên bục giảng nhưng nếu đã không thể thì phải có giải pháp nhân văn để chúng cháu ổn định cuộc sống trong thời gian gần nhất.
Thời gian qua báo chí, truyền hình đã vào cuộc rất nhiều nhưng không thể can thiệp, nay chúng cháu khẩn cầu Thủ tướng Chính phủ vào cuộc tìm hiểu và có cách xem xét hợp tình, hợp lý, nhân văn hơn nhằm mang lại niềm tin vào sự công bằng, dân chủ cho chúng cháu vào tạo niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước đối với toàn xã hội.

Một lần nữa chúng cháu khẩn cầu bác mang lại sự công bằng cho hơn 500 con người. Chúng cháu xin chân thành tri ân!

42150699_295493147930806_6756971867237515264_n.jpg