TS. Phạm Đình Bá: Nghĩ ngược về dạy và học

Tôi đi vượt biên để tránh cái lối giáo dục nhồi sọ của đảng nhưng lúc nào cũng bị ác mộng về những gì phải bị học khoảng sau năm 1975. Thường có khi nhớ lại những ngày đi học khi đạo đức trong học tập bị nhầm lẫn với đạo đức về tuân thủ theo đảng. Đây là những ác mộng có khi lập đi lập lại suốt 46 năm nay.

Gần đây, một số thanh niên Trung Quốc đang từ chối ý tưởng về cuộc sống làm việc 9-9-6, thay vào đó họ chọn “nằm thẳng” (1). Phong trào thời điểm hiện tại ở Trung Quốc là “nằm thẳng”, theo đó chủ trương nằm xuống thay vì làm việc chăm chỉ. Ngày càng có nhiều thanh niên Trung Quốc từ chối một cuộc sống và văn hóa làm việc cạnh tranh liên tục. “Nằm thẳng” bác bỏ văn hóa “9-9-6” khuyến khích mọi người làm việc 12 giờ mỗi ngày sáu ngày một tuần. “Chỉ khi nằm xuống, con người mới có thể trở thành thước đo của vạn vật”, tuyên ngôn “nằm thẳng” lập luận. 

Có phải chăng đã đến lúc chúng ta nghĩ ngược về giá trị trong dạy và học, trái ngược với những gì đảng đã nhồi sọ vào chúng ta trong hơn 70 năm qua?

Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944), hiệu trưởng một loạt trường tiểu học ở Nhật Bản và là một nhà cải cách giáo dục, đã lập luận cho quan điểm của mình rằng giáo dục nên tiến hành thông qua đối thoại thay vì “ép” thông tin vào học sinh. Ông cho rằng triết lý nhân văn lấy học sinh làm trung tâm này đã biến “mục đích của giáo dục” trở thành một nỗ lực “đưa học sinh đến hạnh phúc.” Ông khẳng định, giáo dục nên hướng tới “tạo ra giá trị” cho cá nhân và xã hội.

Giữa những năm 1930-1934, Makiguchi đã soạn thảo tài liệu về “Hệ thống giáo dục tạo giá trị” (value creating education system) (2). “Tôi gần như bị phân tâm bởi mong muốn mãnh liệt để ngăn chặn tình trạng tồi tệ hiện nay để thế hệ tiếp theo không bị đọa đầy – mười triệu trẻ em và học sinh buộc phải chịu đựng những đau đớn của sự cạnh tranh gay gắt, khó khăn để vào được trường tốt, địa ngục thi cử, và đấu tranh cho tìm việc làm sau khi tốt nghiệp.” 

Makiguchi chịu ảnh hưởng bởi công trình của nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim – ý tưởng rằng giáo dục nên được hiểu như một quá trình xã hội hóa, phát triển ở trẻ em những phẩm chất và năng lực cần thiết để sống như những thành viên đóng góp cho xã hội (3).

Các mục tiêu mà xã hội tìm kiếm phải phù hợp với các mục tiêu của cá nhân để phát triển cá nhân. Các mục tiêu tương ứng [của xã hội và cá nhân], được hiểu một cách xác thực, không liên quan đến việc biến cái này thành phương tiện để hiện thực hóa cái kia. Điều tự nhiên là việc đạt được các mục tiêu cần thiết cho sự tồn tại liên tục của cái này nên được cái kia chấp nhận.

Nói cách khác, nhà nước chỉ tồn tại bởi vì công dân của nó tồn tại; xã hội chỉ tồn tại nhờ các cá nhân. Sự trưởng thành và phát triển của các cá nhân mang lại sự hưng thịnh, đầy đủ và phát triển của xã hội. Ngược lại, sự suy giảm của cá nhân kéo theo sự suy giảm của trạng thái, mất nội lực của xã hội và quốc gia. Xã hội và quốc gia hưng thịnh nhờ sự đoàn kết của các thành phần cấu thành – cá nhân. Xã hội và quốc gia sẽ suy yếu bởi sự chia rẽ giữa cá nhân; và không còn tồn tại thông qua sự phân tán của cá nhân.

Makiguchi lập luận rằng mục tiêu của giáo dục phải phù hợp với mục tiêu của cá nhân và xã hội mà họ hình thành. Mục tiêu hướng tới mà các cá nhân phấn đấu là hạnh phúc; vì vậy đây cũng phải là mục tiêu của xã hội. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục phải là đạt được hạnh phúc.

Ngoài “hạnh phúc”, không có từ nào diễn tả đầy đủ và chính xác mục tiêu của đời sống mà giáo dục cần thực hiện. “Từ kinh nghiệm của bản thân tôi trong nhiều thập kỷ qua và từ việc cân nhắc câu hỏi này trong thời gian đó, tôi tin rằng từ ‘hạnh phúc’ mang lại cách diễn đạt thực tế, đơn giản và phù hợp nhất cho mục tiêu cuộc sống mà tất cả mọi người mong muốn và tìm kiếm.”

Triết lý giáo dục để tạo ra giá trị của Makiguchi nhấn mạnh đến năng lực tự chủ của người học. Đối với Makiguchi, trẻ em không phải là những chiếc bình rỗng để chứa đầy những kiến thức mà người lớn chỉ định cho chúng. Ông tôn trọng trẻ em và cho rằng chúng đến lớp đã có kinh nghiệm, kiến thức và khả năng học hỏi.

Mục đích của giáo dục không phải là chuyển giao kiến thức; nó là hướng dẫn quá trình học tập, trang bị cho người học phương pháp sống. Nó không phải là việc buôn bán thông tin từng phần; nó là để cho phép tiếp thu các phương pháp học tập của riêng mình; đó là việc cung cấp chìa khóa để mở kho kiến thức. Thay vì khuyến khích học sinh chiếm đoạt kho tàng trí tuệ do người khác khám phá, chúng ta nên tạo điều kiện cho chúng tự thực hiện quá trình khám phá và phát minh tùy vào khả năng từng cá nhân.

Makiguchi kêu gọi các giáo viên hãy quan sát kỹ thực tế trải nghiệm hàng ngày trên lớp của họ. Theo quan điểm của ông, bất kỳ lý thuyết giáo dục hiệu quả nào cũng phải được “xây dựng” từ những bằng chứng ghi chép cẩn thận của thực tiễn thực tế. “Nếu bạn suy ngẫm sâu sắc về trải nghiệm hàng ngày của mình, xác nhận hồ sơ thực tế về thành công và thất bại, phân tích kỹ lưỡng quá trình này, bạn sẽ có thể khám phá ra những chân lý thực sự quý giá.”

Do đó, Makiguchi kêu gọi các giáo viên “khiêm tốn nhìn nhận và đảm nhận vai trò hỗ trợ và hỗ trợ các hoạt động của người học như một người trợ giúp, hướng dẫn hoặc cố vấn”. Trong khi nhấn mạnh những giới hạn cố hữu về vai trò của giáo viên, Makiguchi không hề tìm cách hạ thấp tầm quan trọng hoặc những thách thức liên quan đến việc hoàn thành vai trò của các thầy cô.

Theo ông, trong tất cả các sứ mệnh của cuộc sống, dạy học là một bài tập về năng lực kỹ thuật, về tính nghệ thuật, ở mức độ khó cao nhất; chỉ những người có tài năng và phẩm chất bậc nhất mới có thể thành công trong việc dạy học. “Tôi căn cứ vào khẳng định này trên thực tế rằng nghề dạy học là một sứ mệnh và đối tượng của cuộc sống, một kho tàng vượt trội mà không có thứ gì có thể thay thế được.”

BS. Nguyễn Đan Quế: Không phải là đổi mới, không phải là cách mạng, mà là…

Điều này hoàn toàn thuộc về tinh thần của cá nhân. 

Thần thái cuộc đấu tranh của dân tộc ta là: sự nổi dậy của cá nhân.

Xã hội thay đổi khi tinh thần các thành viên thay đổi.

Xã hội chỉ là danh từ chung chỉ đám đông hàng nhiều triệu người thế thôi, nhưng không có thực chất. Cá nhân mới có tâm thức, có khả năng thay đổi, tiến hóa. Tâm thức thay đổi, cấu trúc xã hội bắt buộc phải thay đổi theo. Ngược lại là không thể. Thường chúng ta không nhận ra thực tại này, chúng ta luôn nghĩ là phải tìm cách trực tiếp cải tạo xã hội, thay đổi bộ máy cầm quyền, thay đổi luật pháp…

Thực ra, Cá Nhân Nổi Dậy mới là cơ bản của cuộc đấu tranh của dân tộc ta ngày hôm nay và là khía cạnh cần được khai phá.

THAY ĐỔI Ý THỨC

Từ đó mới có nguồn năng lượng mới thuần khiết khi tham gia vào hoạt động trong xã hội. Chúng ta phải hủy bỏ cái cũ — hệ tư tưởng lỗi thời, nhắm mắt theo những tín điều xuẩn ngốc, tuân lệnh kẻ cầm quyền thối nát tham nhũng — và cùng nhau thoát ra với tư thế là con người mới với đôi mắt trong sáng, với những giá trị mới. Đoạn tuyệt hẳn với quá khứ. Đó là ý nghĩa của nổi dậy.

Cũng nên phân biệt ba từ: Đổi mới, cách mạng và cá nhân nổi dậy.

Đổi mới là cải sửa, làm mới lại căn nhà cũ, như quét vôi lại, sơn cửa, thay cánh  cổng mới…nhưng cấu trúc ban đầu vẫn giữ nguyên. 

Cách mạng thì thay đổi nhiều hơn, xây lại tường mới, lên thêm hai ba tầng, nhưng cái cũ không bị phá hủy hoàn toàn, vẫn còn là phần nền của cái mới.

Nổi dậy cá nhân là sự đoạn tuyệt của chính mỗi cá nhân với tất cả những cái cũ. Và bắt đầu cái mới hoàn toàn trên sự hỗn mang đó. 

TRÁCH NHIỆM/ BỔN PHẬN VÀ SỰ TỈNH TÁO.

Cộng sản kiểm soát mọi hoạt động xã hội, mọi khía cạnh cuộc sống người dân. Chúng luôn đề cao trách nhiệm, và đòi hỏi bổn phận nơi người dân.

Nhưng dưới ách độc tài toàn trị, điều cần đến là sự tỉnh táo, chứ không phải là trách nhiệm/bổn phận. Thật thế: nên nhớ bổn phận ở đây được tạo ra bởi xã hội độc tài cộng sản, và khổ nỗi đây lại chính là cách thức tinh vi của sự nô lệ. Cộng sản dậy cái gì là đúng và cái gì là sai ngay từ khi đứa bé chưa có nhận thức. Tất cả những ý tưởng đó lâu ngày trở thành hiển nhiên và đương nhiên con người cảm thấy là có trách nhiệm/bổn phận đối với cái đúng/sai theo kiểu cộng sãn lập trình. Chính vì thế mà con người dưới chế độ cộng sản không bao giờ có thể phát triển về mặt ý thức một cách đúng đắn được. Nên ý thức về trách nhiệm/bổn phận chỉ là sự thay thế giả của ý thức thực và nếu thỏa mãn với cái giả thì con người không bao giờ nghĩ về sự thật nữa.

Lớn lên và trong suốt cuộc đời, cho đến khi xuống mồ, cộng sản luôn luôn tận dụng tối đa truyền thanh, truyền hình, báo chí, khẩu hiệu, ngay cả các chương trình giải trí… liên tục điều kiện hóa tối đa con người, bắt phải phục tùng tuân theo chúng, buộc chấp nhận những giáo điều của cộng sản như triết lý sống trong đời. Khó và rất ít ai có thể thoát ra!

TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Gây ra tình trạng kìm nén, ấm ức. Đây là chiến lược cơ bản của cộng sản và là phương cách ghê gớm nhất trong tay chúng. Kìm nén là cách để đẩy con người vào vòng nô lệ tinh thần và tâm lý. Phương pháp luận là đơn giản: Biến bạn chống lại chính bạn. Đơn giản nhưng lại tạo ra những phép mầu. Khi con người chống lại chính mình thì có nhiều điều buộc phải xuất hiện. Tiên khởi con người sẽ yếu đi, không còn mạnh như trước. Trước đó con người là duy nhất, là toàn bộ; bây giờ con người thuộc về tập thể, thuộc về đám đông. Nếu nhìn vào bên trong chính mình, bạn sẽ thấy mình bị lạc trong đám đông, không còn nhận ra bản thể đích thực của mình. Sức mạnh cá nhân bị tổn hại, con người thật bị chia để chống lại chính nó, nên không thể làm gì với sự toàn bộ nữa. Thí dụ khi Trung Quốc công bố ‘hình lưỡi bò’ chiếm gần trọn Biển Đông: một số phần trong người bạn chống, một số phần lại muốn để ‘đảng và nhà nước lo’ và vài phần khác lại thờ ơ. Nếu bạn tính đi biểu tình chống Trung Quốc, thì những phần không muốn cho bạn đi sẽ liên tục ‘nói thì thầm’ là bạn sai, không đúng, không chính xác. Phần thờ ơ sẽ đóng vai thầy đời dậy khôn rằng bạn nghe những người không hiểu sự phức tạp về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Cho nên khi Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam bị lên án là ‘hèn với giặc, ác với dân’, bạn không có thái độ dứt khoát, không dám lên tiếng chống lại nó.

Cộng sản cố tình  diệt tính toàn vẹn, sự toàn bộ, sức mạnh của con người nhằm nô lệ con người, nhằm nô lệ dân tộc ta. Và đây là sự nô lệ rất tinh vi về tâm lý, về tinh thần, và không cần còng tay, dây xích và nhà giam. Và bắt đầu ngay khi mới sinh ra, liên tục suốt đời, không bỏ qua một giây phút nào.

Tương tự, chúng còn đặt ra những luật lệ cứng rắn, ‘quái đản’ về cách hành xử: Phải làm điều này, không được làm điều kia . Thí dụ những luật lệ gọi là vi phạm an ninh quốc gia như điều 79, 88, 258 của bộ luật hình sự, với những điều luật lời văn mập mờ, chả có gì là liên quan đến an ninh quốc gia cả. Nhưng vì tâm thần phân liệt, không phân biệt được đúng sai, và không hiểu sự thực là đâu, bạn không dám có thái độ phản kháng.

NGƯỜI NỔI DẬY

Những người hoạt động cho Việt Nam là những người nổi dậy. Nổi dậy ra khỏi cái cũ, giống như con rắn lột xác, thoát bỏ hẳn bộ da cũ, vĩnh viễn.

Mới đầu ít, tăng dần, mỗi ngày số người nổi dậy một đông hơn khi mà internet phát triển và thế thống trị của Cộng sản đi xuống thảm hại. 

Ngày mà dân tộc ta, nhất là giới trẻ, vứt bỏ toàn bộ sự vô nghĩa của trách nhiệm/bổn phận, để con người đích thực bên trong của mình xuất hiện ra bên ngoài thì chính là lúc xã hội thay đổi.  Đến nay thời gian đang chin mùi cho một sự thay đổi như thế:  một cuộc nổi dậy khắp nơi, một cuộc tổng nổi dậy trong toàn xã hội. Đó sẽ là ngày Dân Tộc Việt Nam Mới ra đời.

CHÌA KHÓA

Nên nhớ, thông minh tỉnh táo không phải là suy nghĩ hay là sự hiểu biết. Thực tế, người ta thường nghĩ quá nhiều. Vấn đề là làm sao ngừng nghĩ và nhìn thẳng vào hoàn cảnh mà chúng ta đang phải đối mặt. Không có ý nghĩ thì không có rào cản, không có bụi trong mắt, có thế mới có thể thấy rõ ràng. Với sự rõ ràng này và sự tỉnh táo không ràng buộc, không lựa chọn (ngu trung với chế độ). Sự thực, sự đúng xuất hiện ngay, không cần nỗ lực. Toàn bộ nhận biết của bạn đơn giản chỉ cho bạn đến thẳng điều thiện, điều đúng. Đây là vấn đề nhận biết không bị điều kiện hóa: Bạn sẽ đứng dậy. Bạn sẽ lột xác. Điều này gần giống như ánh sáng. Phòng đang tối, chỉ một đốm lửa nhỏ đủ để bóng tối biến đi, bạn biết ngay cửa ở đâu. Kế đó bạn chỉ đơn giản là đi ra ngoài. Trước, bạn băn khoăn không biết xoay sở làm sao ra? Hay một cách chính xác hơn là: Khi không có những đám mây (tâm trí) thì mặt trời sẽ rọi sáng bầu trời, bạn không cần nghĩ ‘Mặt trời ở đâu?’

Không cần tuân theo chủ nghĩa nào, giáo điều nào, hay lãnh tụ nào. Hãy trở thành sự hướng dẫn của chính cuộc đời mình: Đấy mới là chân giá trị của con người. Điều đó biến bạn thành con sư tử, không còn là con cừu nữa.

Rắc rối là ở chỗ: chúng ta  đã bị lập trình bởi cộng sản trong nhiều thập kỷ qua. 

Sự thực chỉ xuất hiện bên trong bạn. Không ai khác có thể trao điều đó cho bạn./. 

Nguyễn Quang Duy – Chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng

Được BBC tiếng Việt phỏng vấn về bản chất tham nhũng tại Việt Nam kinh tế gia Bùi Kiến Thành cho biết trong thời kỳ kháng chiến, đời sống khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên không có tham nhũng.

Đến 30/4/1975 đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, vào miền Nam, tận mắt thấy xã hội tư sản, cán bộ cộng sản mới nảy sinh ham muốn nhà cao cửa rộng, cuộc sống xa hoa, nên:

“Đạo đức cách mạng đã bị phá vỡ, tinh thần và lối sống hưởng thụ đã ngự trị, tư tưởng chính trị suy thoáị, đạo đức dần dần phai nhạt…, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài.

Cách suy nghĩ của ông Bùi Kiến Thành làm người đọc dễ hiểu lầm về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và bản chất của chủ nghĩa (tự do) cá nhân.

Vì ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, ngày 6/9/1950 Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân trang Tổng cục Cung cấp đã bị xử bắn tại Thái Nguyên về tội tham nhũng:

“…Châu đã dùng quyền lực ‘ban phát’ ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp công quỹ, cứ mỗi cái màn cấp cho bộ đội Châu ăn bớt 2 tấc vải xô, nên bộ đội cứ ngồi lên là đầu chạm đình màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào, nhiều người biết đấy nhưng không dám ho he…”

Đó là phát súng đầu tiên mở màn phong trào Chỉnh Huấn Chỉnh Quân, sau đó trên báo Nhân Dân cũng xuất hiện khá nhiều bài chống tham ô lãng phí.

Sau khi tiếp thu miền Bắc các văn kiện Đại Hội đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ tệ nạn tham nhũng hoành hành tại miền Bắc Việt Nam.

Trong dân gian lưu truyền những câu ca dao về tệ nạn tham nhũng như:

“Mỗi người làm việc bằng hai / Để cho cán bộ mua đài, mua xe / Mỗi người làm việc bằng ba / Để cho chủ nhiệm xây nhà, lát sân”; hay

“Thủ kho to hơn thủ trưởng / Vào nhà thủ trưởng tưởng là kho / Nhà thủ kho to hơn nhà thủ trưởng.”

Như thế, tham nhũng và tư lợi đã có ngay khi đảng Cộng satn mới cầm quyền vì hệ thống cộng sản vận hành theo cách tóm thâu quyền lực và ban phát quyền lợi cho đảng viên trung thành.

Ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 đảng Cộng sản tước đoạt nhà cửa và tài sản của người dân miền Nam rồi phân chia cho cán bộ như chiến lợi phẩm chính là một hình thức ban phát quyền lợi hay thưởng công cho những đảng viên trung thành.

Đảng Cộng sản “hư thối” vì ai?

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành còn nhìn vào mặt trái của chủ nghĩa cá nhân đơn giản hóa vấn nạn tham nhũng bằng cách ví von:

“Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, tôi thấy, như đang là một thùng táo, mà trong đó đã có quá nhiều quả hư thối, nếu không dứt khoát loại bỏ, thì cả thùng sẽ bị tiêu diệt.

“Hay cũng như một quả mít trên cây, bị sâu chích thối hết một phần, nếu không kiên quyết cắt bỏ phần thối, thì cả trái sẽ thối hết và tự nó sẽ rụng, mà không cần đến một ‘thế lực phản động’ nào rung cây, phá hoại cả.”

Theo tôi nếu nhặt được các quả táo hư hay cắt bỏ được phần thối của quả mít mà giải quyết được tình trạng tham nhũng và vô số những tiêu cực khác thì đảng Cộng sản đã làm rồi không phải đợi đến ngày nay.

Ngày 8/3/2016 tại “Hội nghị tổng kết phòng chống tham nhũng và lãng phí” Thiếu tướng công an Phan Anh Minh cho biết theo Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị thì việc theo dõi và xét xử đảng viên là chuyện nội bộ của đảng Cộng sản:

“Công an không được quyền tổ chức trinh sát đảng viên nên không thể phát hiện được tham nhũng”.

Nên thực chất các cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả vụ Đại tá Trần Dụ Châu bị xử tử trong thời kháng chiến chống Pháp nói bên trên, chỉ là những cuộc thanh trừng nội bộ đảng Cộng sản.

 Văn hóa giả dối

Trong bài phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành có nhắc đến “đạo đức cách mạng” của hai nhân vật là “thần tượng” của ông Thành.

Thứ nhất là bà Nguyễn thị Bình, Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại Hội Đàm Paris, người mà trong một thời gian dài đã được đồn thổi là con gái của cụ Nguyễn An Ninh.

Cho đến mãi sau này khi con cháu cụ Nguyễn An Ninh lên tiếng bà Nguyễn thị Bình có tập kết ra Bắc nhưng không tham gia vào các hoạt động của cộng sản.

Lúc ấy mới có thông tin “chính thức” về người mà ông Thành nói đến tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa cháu kêu cụ Phan Chu Trinh là ông ngoại (không rõ thông tin này có thật không).

Nhân vật thứ hai là Hồ Chí Minh, những người như ông Hoàng Tùng, ông Đoàn Duy Thành, ông Bùi Tín và cả guồng máy của đảng Cộng sản trong một thời gian dài đã tạo ra nhiều huyền thoại khác nhau nhằm che đậy việc ông Hồ ra lệnh xử tử điền chủ Nguyễn thị Năm.

Nhờ những thông tin từ các huyền thoại tôi mới biết đến bà Nguyễn thị Năm và nhờ đó mới phát hiện bài “Địa chủ ác ghê” của C.B. (Của Bác) đăng trên báo Nhân Dân.

Tôi đã công bố tài liệu này trên trang talawas ngày 25/1/2007, trong bài viết ”Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất.

Đến năm 2014 qua tác phẩm “Đèn Cù” tác giả Trần Đĩnh, từng làm việc cho báo Nhân Dân, đã xác nhận bài “Địa chủ ác ghê” do chính ông Hồ viết.

Tác giả Trần Đĩnh còn cho biết: ông Hồ đã “che mặt, bịt râu” đến tham dự cuộc đấu tố và cuộc xử bắn bà Nguyễn thị Năm.

Tôi nhắc đến Cải cách ruộng đất vì nó đã tiêu diệt cả tầng lớp nho sĩ và trí thức tại miền Bắc, nó phá vỡ nền móng tín ngưỡng và văn hóa truyền thống Việt Nam, phá vỡ mọi nền tảng giúp giảm thiểu nạn tham nhũng tại miền Bắc trước đây.

Tự do cá nhân

Tôi có thể tự tin mà nói rằng miền Bắc đã được miền Nam giải phóng từ một xã hội đơn điệu từ cách ăn mặc, sinh hoạt đến cách suy nghĩ để ngày càng tự do và đa dạng hơn.

Ngày nay các ước muốn tự do cá nhân như tự do cư trú, đi lại, làm ăn buôn bán, đến việc riêng tư, ăn nói, thờ phụng và nhiều quyền tự do khác của người dân cả hai miền Bắc Nam đã không còn bị nhà cầm quyền cộng sản giới hạn hay cấm đoán như trước đây.

Nói rõ hơn là đảng Cộng sản không còn khả năng kiểm soát hay họ chỉ còn đủ năng lực tập trung vào việc kiểm soát chính trị và bảo vệ chế độ.

Người dân Việt và nhất là tầng lớp thanh niên sinh viên những người trẻ đã được thưởng thức trái ngọt của tự do cá nhân càng ngày càng tránh xa đảng Cộng sản, nên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải nhìn nhận tình trạng “chán Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” tại Việt Nam.

Nhưng vì thiếu tự do chính trị nên xã hội mới bộc phát những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, thiếu minh bạch trong thu chi tiền từ thiện, mê tín dị đoan và rất nhiều tật hư, thói xấu phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem sự liên đới giữa tự do cá nhân và tự do chính trị ra sao.

Tự do được phân loại thành tự do cá nhân (đã được kể ra ở phần trên) và tự do chính trị.

Tự do chính trị bao gồm các quyền lập hiến, quyền tự do bầu cử, ứng cử, lập đảng chính trị, đối lập, báo chí, ngôn luận, biểu tình… những quyền mà người Việt chưa có.

Tự do chính trị thường được gọi là tự do dân chủ vì nhờ đó mới có được một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.

Từ đó mới có được một hệ thống luật pháp công minh chống lại tham nhũng và những tiêu cực do tự do cá nhân gây ra.

Luật pháp công minh cũng giúp bảo vệ những quyền tự do cá nhân không để nhà nước hay nhân viên nhà nước lạm quyền hay tước quyền mà người dân đã giành được.

Đổi mới chính trị

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành có nhắc đến Đại hội VI (1986), một Đại Hội mà đảng Cộng sản đã phải công khai tuyên bố “đổi mới không thì chết”, sau đó chính Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Trần Xuân Bách đã phải nhìn nhận rằng thay đổi chính trị là điều tất nhiên:

“Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”

Trong khi một người cộng sản như ông Trần Xuân Bách nhìn nhận đảng Cộng sản phải thay đổi cả chính trị lẫn kinh tế, thì thành phần trí thức và chính trị gia Mỹ theo chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) và thành phần thiên cộng lại cổ vũ việc công nhận thể chế cộng sản và thương mãi tự do với các nước theo cộng sản.

Họ dựa trên một giả thuyết vô cùng đơn giản là khi Mỹ và các quốc gia Tây Phương mở cửa giao thương thì cộng sản sẽ có “thiện chí” tự thay đổi để chấp nhận tự do dân chủ.

Trên thực tế đảng Cộng sản Trung Hoa đã không nới lỏng tự do chính trị mà còn sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng bá chủ hoàn cầu.

Những sai lầm về mặt tư tưởng của chủ nghĩa tân tự do và toàn cầu hóa gây cho nước Mỹ ngày càng tụt hậu, công nhân mất việc, giới trẻ không có việc làm, xã hội phân hóa, chính trị rối ren, mất quyền kiểm soát các tổ chức quốc tế và lề luật chung cho toàn thế giới.

Hiện nay, tôi thấy Hà Nội một bên thì cậy nhờ Trung Quốc, bên kia thì dựa vào phía Mỹ để sống còn nên con đường đi tới của quốc gia đang bế tắc.

Trong 30 năm qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn phải vay mượn quốc tế mà chi tiêu với nhiều sai trái, lãng phí và tham nhũng, cứ xem vụ đường sắt Cát Linh – Hà Đông thì rõ.

Nay, đến lúc họ phải trả cả tiền vốn lẫn tiền lời, nên họ đang rơi vào tình trạng thiếu ngoại tệ để trả nợ.

Bị các chủ nợ quốc tế kiểm soát nên đảng Cộng sản không thể lộ liễu in tiền như thập niên 1980, dẫn đến tình trạng ngân sách cứu trợ đã công bố nhưng thiếu tiền mặt để chi và thiếu cả ngoại tệ để mua thuốc chủng ngừa Covid 19.

Khiến nhà cầm quyền phải lập Quỹ Vaccine phòng chống Covid-19 xin từ tiền quà sáng của đứa trẻ đến tiền hưu bổng của cụ già, điều này đã nói rõ thực trạng và thực lực của đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần có tự do chính trị

Theo ông Bùi Kiến Thành thì “Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, có thể coi như là một thứ virus nguy hiểm hơn cả Covid-19.”, nên tôi nhận thấy lối thoát là phải lấy tự do chính trị làm thuốc ngừa tham nhũng và các tiêu cực do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Nói đến tự do chính trị thì phải trở lại các điều mà Đảng Cộng sản sau này gạt bỏ, gồm quyền lập hiến và các quyền chính trị được ghi rõ trong Hiến Pháp năm 1946.

Các hiến pháp sau này chỉ là những bản sao các Cương lĩnh của đảng Cộng sản, đều đã không được mang ra trưng cầu dân ý, vì thế muốn giải quyết những bế tắc tại Việt Nam thì phải bắt đầu lại từ đầu.

Người dân Việt trong và ngoài nước phải giành lại quyền lập hiến, bầu lên một Quốc Hội Lập Hiến, soạn một Hiến Pháp, xây dựng một thể chế tam quyền phân lập, soạn ra những điều luật mới chống tham nhũng và chống lại mọi tiêu cực xã hội do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Đây là con đường duy nhất để có thể đưa đất nước Việt Nam đến tự do, dân chủ, giàu mạnh, bảo toàn chủ quyền quốc gia.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

16/6/2021

Văn hóa Việt đạo!

Văn hóa Việt đạo là tinh hoa văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Tinh thần Việt đạo được xây dựng trên ba trụ cột căn bản: THIÊN – ĐỊA – NHÂN

Đối với THIÊN, con người phải biết kính trời, tức là nghiêm kính các đấng thần linh. Các đấng thần linh tuy vô hình nhưng uy lực linh nghiệm vô cùng, bởi thế mới có câu: “Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu” (dịch nghĩa: ‘lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt’). Thuyết nhân quả cũng từ đó mà sinh ra.

Đối với ĐỊA, con người phải biết bảo vệ và gìn giữ.

Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đó là nhiệm vụ của con người có tổ quốc.

Gìn giữ tức là khi làm một việc gì, con người cũng phải biết nương tựa vào thiên nhiên. Nương tựa thiên nhiên là khi con người muốn làm gì cũng phải tính đến việc duy trì hiện trạng bao gồm đất đai, thổ nhưỡng, môi trường sống của muôn loài. Các hành vi phá hoại môi trường như khai mỏ, ngăn sông, chặt phá cây rừng một cách bừa bãi… đều phạm vào tội: “nhất phá Sơn Lâm, nhì đâm Hà Bá”, đó là trọng tội.

Đối với NHÂN, biểu hiện của con người có giáo dục để tiếp thu tinh hoa văn hóa Việt đạo, khi ứng xử với các mối quan hệ xã hội, họ biết đặt tình cảm theo các mức độ quan trọng khác nhau:

1/Tổ quốc trên hết.

2/Gia đình gồm: tổ tiên, ông bà, cha mẹ

3/Bà con dòng họ từ thân đến sơ

4/các mối quan hệ bạn bè đối tác

Tình yêu Tổ quốc là thiêng liêng cao cả, bởi có tổ quốc mới có gia đình và bản thân con người. Các mối quan hệ còn lại theo đó được xây dựng từ thân đến sơ như trên đã nói.

Bởi các lẽ trên, theo tôi, người Việt theo tinh thần văn hóa Việt đạo đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá các dân tộc trên thế giới đó là những con người nhân bản; Ngược lại, những kẻ rắp tâm hủy hoại truyền thống Việt đạo, tôn thờ chủ thuyết ngoại lai vô thần, bất kính trời đất, bất hiếu tổ tiên ông bà, cha mẹ đều là những kẻ vong bản.

Từ vong bản đến vong nô rồi vong quốc là con đường tất yếu của những kẻ mù quáng. Bọn chúng là một bè lũ “bán nước cầu vinh”. Tương lai không xa sẽ bị lịch sử phán xét!

Nguồn FB Đặng Phước

Cờ Vàng trong xã hội đa văn hóa tại Úc và vụ nhóm du học sinh xúc phạm lá cờ.

Tác giả: Nguyễn Quang Duy – gửi từ Melbourne, Úc Đại Lợi

Trên trang của Viện Bảo Tàng Quốc Gia Úc (The National Museum of Australia) có bài viết “Chấm dứt chính sách nước Úc của người da trắng” (End of the White Australia policy), với bức hình lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh lá cờ các quốc gia khác, và Thủ tướng Úc Harold Gorden, bên cạnh ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Cao Kỳ và lãnh đạo các quốc gia khác trong Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO).

Tại sao bức hình với lá cờ Vàng được lấy làm biểu tượng cho việc chấm dứt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Úc?

Tại sao việc xúc phạm lá cờ Vàng cần được hiểu đến nơi đến chốn?

Chúng ta có gì để học hỏi từ chủ nghĩa đa văn hóa tại Úc (Multiculturalism)?

Xin được ngắn gọn giải thích các câu hỏi nói trên trong bài viết dưới đây.

Tết Việt tại Úc

Hình thành chủ nghĩa quốc gia Úc

Cuối thế kỷ thứ 19, người Úc bắt đầu bàn luận để hình thành một chủ nghĩa quốc gia, vừa ôn hòa đấu tranh giành độc lập từ nước Anh, vừa xây dựng một nước Úc độc lập và thịnh vượng.

Lúc ấy, lên đến 90% dân số Úc là người da trắng, có nguồn gốc từ hai sắc tộc Anh và Ái Nhĩ Lan, đều nói tiếng Anh, theo Thiên Chúa Giáo và cùng gốc văn hóa Anglo Saxon.

Dân số khi ấy chỉ trên 3 triệu người, nên người Úc da trắng lo sợ là người Á Châu sẽ di cư cướp công ăn việc làm và xóa bỏ văn hóa và tôn giáo của họ.

Vì thế, ngay khi được Anh Quốc trao trả độc lập, năm 1901 Chính phủ Úc đã ban hành các Đạo luật xác định nước Úc của người da trắng.

Chủ nghĩa quốc gia nước Úc thuộc người da trắng là một chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vì những người Úc thuộc các sắc dân Á châu và hải đảo Thái Bình Dương đang sống tại Úc bị đối xử khác biệt với người Úc da trắng, và có trên 250 bộ tộc thổ dân không được xem là công dân Úc, không được đối xử bình đẳng hay được đi bầu.

Chính sách di dân và đồng hóa

Sau thế chiến thứ 2 Chính phủ Úc thay đổi cách suy nghĩ, với một dân số chỉ trên 7 triệu nếu bị quốc gia khác xâm lăng người Úc khó có thể bảo vệ và muốn đất nước phát triển cần phải có di dân.

Chính phủ Úc thay đổi chính sách di trú bắt đầu nhận di dân từ các quốc gia Âu châu, đồng thời đề ra chính sách đồng hóa và chính sách hội nhập, buộc di dân phải chấp nhận Anh ngữ là ngôn ngữ sinh hoạt và chấp nhận văn hóa của người Úc da trắng.

Nhiều di dân từ các quốc gia Âu châu không cảm thấy nước Úc là “ngôi nhà” để họ định cư nên về lại Âu Châu và hậu quả người từ Âu châu không còn muốn di dân đến Úc.

Kết thúc chủ nghĩa nước Úc của người da trắng

Sau Thế Chiến thứ 2, Trung Hoa lục địa, rồi Bắc Hàn và Bắc Việt lọt vào tay cộng sản, du kích quân cộng sản nổi dậy khắp các quốc gia Đông Nam Châu Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia).

Chính phủ Úc tin rằng phải tích cực ngăn chặn được sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á châu nên thay đổi chính sách quốc phòng gia nhập Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO), xem Úc như một quốc gia có lợi ích gắn liền với Châu Á.

Chính phủ Úc gởi 60,000 binh sĩ Úc tham chiến tại miền Nam Việt Nam, với 521 binh sĩ hy sinh và chừng 3,000 binh sĩ bị thương.

Như vậy, lá cờ Vàng ba sọc đỏ không chỉ là di sản của người miền Nam Việt Nam, mà còn là di sản là một phần của lịch sử nước Úc nên mới được Viện Bảo tàng Quốc Gia Úc chính thức ghi nhận.

Chủ nghĩa đa văn hóa (Multiculturalism)

Khi chủ nghĩa quốc gia nước Úc của người da trắng chấm dứt thì cần có một hệ tư tưởng mới làm nền tảng xây dựng văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế, chính trị và nhất là luật pháp cho nước Úc.

Chính phủ Úc từng bước xây dựng chủ nghĩa đa văn hóa nhìn nhận mọi công dân Úc bình đẳng về quyền và trách nhiệm, nên công nhận mọi tư tưởng, cách sống, văn hóa của từng cá nhân.

Nhưng đồng thời mỗi cá nhân phải chấp nhận và tôn trọng văn hóa của các thành viên khác trong xã hội và sinh hoạt trong phạm vi mà luật pháp Úc cho phép.

Mỗi cá nhân lại thuộc về một hay nhiều văn hóa khác nhau, như một người có thể thuộc về một nhóm văn hóa sắc tộc và đồng thời thuộc về nhóm văn hóa của người đồng tính, hay trẻ em có cha mẹ thuộc hai sắc tộc có thể được ảnh hưởng bởi 2 nền văn hóa khác nhau.

Cùng một sắc tộc lại có nhiều nhóm văn hóa khác nhau như người Việt tới Úc từ miền Nam hay miền Bắc, hay người thổ dân có đến hơn 200 văn hóa bộ tộc khác nhau.

Nói cách khác trong xã hội đa văn hóa mỗi người mỗi khác, nên một người muốn được người khác tôn trọng và được xã hội tôn trọng, thì họ phải tôn trọng sự khác biệt của người khác và của xã hội.

Ngày nay Chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành chủ nghĩa quốc gia cho nước Úc, nhưng đương nhiên vẫn còn những điều chưa được hoàn mỹ cần tiếp tục tìm ra những giải pháp cụ thể và tránh bị tái diễn như trường hợp của nhóm học sinh xúc phạm cờ Vàng trong ngày 30/4/2021 vừa qua.

Cộng đồng Người Việt tự do tại Úc

Sau khi chủ nghĩa nước Úc của người da trắng bị bãi bỏ, người Đông Timor, người Lebanon và người Việt là 3 nhóm tị nạn đầu tiên được nhận đến Úc định cư, khi ấy chủ nghĩa đa văn hóa còn rất sơ khai.

Người Việt tị nạn đã nhanh chóng thích ứng với chủ nghĩa đa văn hóa, lập hội đoàn sinh hoạt, tổ chức hội chợ Tết, xây Chùa, lập Trung tâm sinh hoạt Công giáo, Hội Thánh Tin Lành, mở trường dạy tiếng Việt, tổ chức tết Trung Thu, mở khu vực buôn bán và tổ chức biểu tình biểu lộ chính kiến.

Các sinh hoạt về văn hóa, giáo dục, thương mãi và chính trị của người Việt tị nạn nói trên đều không được cho phép trong giai đoạn chủ nghĩa nước Úc của người da trắng còn tồn tại.

Đặc biệt, người Việt tị nạn luôn tìm mọi cách để vinh danh lá cờ Vàng, nên đến nay đã có tới 10 thành phố và hầu như tất cả các chính trị gia Úc công nhận cờ Vàng vừa là di sản và vừa là biểu tượng của người Việt tự do.

Người Việt tị nạn xem nước Úc như một miền đất mới nên sẵn sàng nhận bất cứ công việc, từ làm ở nông trại đến các hãng xưởng, nhiều người đi học lại, nhanh chóng mua nhà hay mở doanh nghiệp.

Sự thành công của người Việt tị nạn đã thúc đẩy các Chính Phủ Úc sau này hoàn chỉnh các chính sách đa văn hóa, xây dựng thành công một nước Úc với trên 200 bộ tộc thổ dân và cả trăm cộng động sắc tộc từ khắp nơi trên thế giới đến định cư.

Ba bài viết dưới đây về Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc xin gởi đến bạn đọc:

Vụ xúc phạm cờ Vàng

Ngày 30/4 được người Việt tị nạn xem là ngày Quốc Hận, ý nghĩa ở đây không phải là hận thù mà là hận chính mình đã không làm tròn trách nhiệm để quê nhà lọt vào tay cộng sản nên phải bỏ nước ra đi.

Hận như thế không mang bản chất bạo động như tổ chức tấn công tòa Đại Sứ cộng sản hay tấn công những du học sinh.

Nhưng ngày 30/4 năm nay một nhóm học sinh từ Việt Nam sang đã xúc phạm lá cờ Vàng, với những hành vi và lời lẽ đầy bạo động, đe dọa và hận thù làm dấy lên tranh luận từ nhiều phía.

Ngay khi nhận được thông tin về hành vi phạm pháp của nhóm học sinh, Cộng Đồng đã viết thư và gởi video đến trường Trung Học Marrickville.

Nhà trường đã thấy rõ mức độ nghiêm trọng nên đã đình chỉ việc học và quyết định đuổi nhóm học sinh này, cũng như đã chuyển cho cảnh sát điều tra.

Trong phạm vi luật lệ hiện hành, cảnh sát đang truy tố tội hủy hoại tài sản cộng đồng và tiến hành điều tra xem đây là hành động của cá nhân hay có tổ chức hoặc chính quyền đứng đằng sau thu xếp hay xúi dục.

Cộng Đồng còn xét thấy nhóm học sinh vi phạm chính sách đa văn hóa Úc nên có bổn phận phải làm rõ vấn đề, tránh những hành vi phạm pháp tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho nước Úc.

Bởi thế Cộng Đồng mới làm việc với chính giới Úc, đích thân ông David Elliott Bộ Trưởng Cảnh Sát tiểu bang New South Wales đã điều động đơn vị Chống Khủng Bố và Hận Thù mở cuộc điều tra và hồ sơ đã được chuyển sang Bộ Nội Vụ để thẩm vấn và điều tra các đối tượng.

Cộng Đồng cho biết đã vận động được trên 16,000 chữ ký, vào ngày thứ ba 24/5/2021 đã chính thức gửi văn thư đến Tổng Trưởng Di Trú Alex Hawke để yêu cầu xem xét hủy visa của nhóm học sinh.

Nói một cách dễ hiểu, một người đến nhà bạn ở tạm, nhưng lại vừa phá hoại vừa xúc phạm đến giá trị di sản của gia đình bạn, việc đuổi người này là việc không có gì phải bàn cãi, nhưng nước Úc có luật pháp nên ngay cả đuổi người thuê nhà cũng phải đuổi cho đúng với luật pháp.

Còn một rừng thông tin và tranh cãi trên các mạng xã hội, thì vừa biểu hiện phong cách “đa văn hóa” lại vừa nói lên sự quan tâm của dư luận đối với sự kiện xúc phạm lá cờ Vàng.

Việt Nam một xã hội đa văn hóa…

Trước năm 1945, sự khác biệt về văn hóa và chính trị giữa 3 miền Bắc, Trung và Nam đã rất lớn, chưa kể có trên 50 các sắc tộc thiểu số với đặc thù văn hóa rất khác biệt.

Trong thời Việt Nam Cộng Hòa sự khác biệt về văn hóa và chính trị cũng đã được tôi trình bày qua bài viết “Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975?”.

Cho đến 30/4/1975, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản còn miền Nam theo chủ nghĩa tự do, và di sản đó cho đến nay vẫn để lại sự khác biệt giữa Bắc và Nam rõ rệt.

Hai thành phố Sài Gòn lẫn Hà Nội đều tiếp nhận những đợt di dân nên nhìn chung cả hai đều là những thành phố đa văn hóa.

Nhưng văn hóa ở Sài Gòn rất khác với văn hóa ở Hà Nội và văn hóa các vùng miền trên đất nước Việt Nam, nên nhìn chung xã hội Việt Nam cũng là một xã hội đa văn hóa.

Trong khi ấy thì hệ thống chính trị vẫn đơn nguyên (nghĩ một chiều) và độc đảng nên càng ngày khoảng cách giữa đảng Cộng sản và người dân càng xa cách.

Thể chế từ chính trị đến pháp luật tại Việt Nam vẫn khô cứng, bảo thủ và giới lãnh đạo tìm mọi mưu mô né tránh cải cách chân thực nên bộ máy càng ngày càng lỗi thời trước sức tiến của xã hội ngày một đa dạng.

Già rồi vẫn nghèo…

Ngày nay chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành nền tảng tư tưởng được nhiều quốc gia trên thế giới, như Úc, Canada, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Anh,… giúp các quốc gia này vừa xây dựng một xã hội khoan dung và đoàn kết, vừa để thu hút người trẻ di dân.

Trong khi ấy do những chính sách lạc hậu tại Việt Nam, những làn sóng người Việt không ngừng bỏ nước ra đi tìm đến những xứ sở tự do, nơi mà mọi người được đối xử bình đẳng và được tôn trọng.

Ở mỗi miền đất mới người Việt lại học hỏi để thích ứng với văn hóa ở xứ người, nên có thể thấy người Việt ở Úc suy nghĩ và cách sống rất khác với người Việt ở Việt Nam, và khác với người Việt ở các xứ sở khác trên thế giới.

Việt Nam hiện đang đối đầu với nạn “chưa giàu đã già”, nói đúng hơn là “già rồi vẫn nghèo”, vì người già càng ngày càng đông trong khi người trẻ, kể cả những người là con em của đảng viên đảng cộng sản, rất muốn bỏ nước ra đi.

Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không chịu nhìn nhận xã hội đa văn hóa thì đừng nói đến việc người trẻ ở hải ngoại trở về, mà phải nghĩ đến việc người trẻ bằng mọi giá sẽ tiếp tục bỏ nước ra đi.

Bài học từ nước Úc

Nước Úc đã thành công trong việc chuyển đổi từ chủ nghĩa quốc gia phân biệt chủng tộc nước Úc của người da trắng sang chủ nghĩa quốc gia đa văn hóa (Multiculturalism) là một bài học cho người Việt tìm hiểu và học hỏi.

Chấp nhận chủ nghĩa đa văn hóa là chấp nhận nối kết mọi tư tưởng, tình cảm, truyền thống, ước mong, ý hướng trong tâm trí của mọi người Việt từ khắp nơi trên thế giới, còn quan tâm đến vận mệnh quốc gia và dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

1/6/2021

Bs. Nguyễn Đan Quế – Bàn về giáo dục nhân bản

Tôi muốn nói ‘chút xíu thôi’ về thế nào là một nền Giáo Dục Nhân bản. Tôi thật sự không muốn vì thấy chưa phải lúc. Khổ nỗi đây lại là cơ bản nhất.

Bàn về Giáo Dục Nhân Bản, chỉ nghe không thôi đã đủ thấy khó. Cho nên, theo tôi, người nghe phải là những người, không những trong nghành giáo dục, mà còn có những quan tâm, ưu tư đặc biệt về giáo dục và đang tìm tòi một hướng đi mới cho nền giáo dục Việt nam. Hướng này là xu thế tất yếu của thời đại, chứ không phải sản phẩm tưởng tượng của trí tuệ. 

Sở dĩ tôi ngần ngại chưa bàn đến nền Giáo Dục Nhân Bản vào lúc này là ví chế độ cộng sản và những nhà lãnh đạo cộng sản còn ngồi tại vị đó. Trong khi chúng ta bàn một vấn đề mà vấn đề đó đòi phải có thay đổi toàn bộ cách điều hành xã hội từ kinh tế – văn hoá cho đến sinh hoạt chính trị ở tầm mức quốc gia.

Nhiều nhất, có thể nói trong lúc này là về một mơ ước. Nhưng không phải mơ có được nền giáo dục giống của Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô hay bất kỳ quốc gia nào khác.

Mà là giấc mơ của nhân loại về một nền Giáo Dục Nhân Bản.

Nói là mơ, nhưng lại không mơ đâu!

Mà chính là hướng đi tất yếu của giáo dục phổ quát cho nhân loại, mọi dân tộc trong tương lai. Thật vậy, khoa học hiện đại (cơ học lượng tử ra đời vào khoảng giữa thế kỷ 20) đã đưa nhân loại lần đầu tiên đến với quan niệm triết lý mới về con người: Tinh thân và vật chất là 2 mặt của sinh năng. Sinh năng là một phần của vũ trụ năng (từ vụ nổ Big Bang và vũ trụ hiện còn đang tiếp tục dãn nở). Tinh thần – vật chất hiện hữu cùng một lúc, hỗ tương tác động và có thể hoán chuyển qua sinh năng. Nói như thế, Đông – Tây đúng lý ra đã phải là 2 mặt của nền văn minh nhân loại (như 2 mặt của một đồng tiến). Do đó, Nhân Bản Hóa xã hội loài người là tất yếu, trong đó Giáo Dục Nhân Bản giữ vai trò cốt lõi.

Trước khi nói về nền Giáo Dục Nhân Bản, thiết tưởng cần nói qua nền giáo dục hiện nay.

Chủ nghĩa cộng sản theo đuổi nền giáo dục đào tạo công cụ cho chế độ và nền văn hoá nô dịch nhằm điều kiện hóa tối đa con người trong khuôn khổ duy vật của chủ nghĩa Mác.

Thứ giáo dục áp chế này khiến con người trở nên cứng nhắc với những giáo điều, làm mất tự do cũng như nhân phẩm, khiến không thể thay đổi hay tiến hoá được. Thứ giáo dục, đã đào tạo sai lạc nhiều thế hệ, hậu quả là văn hoá suy đồi, không có đức độ, thì làm sao xã hội không càng ngày càng xuống dốc, con người không càng ngày càng tha hoá, hư hỏng, chỉ biết tham lam, bóc lột lẫn nhau. Nhờ đảng cán bộ trở nên giầu có, chỉ có dân chúng thiệt thòi, nông dân – công nhân nai lưng bán sức lao động mà không đủ sống, sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm.

Chủ nghĩa cộng sản kinh điển, hay tư tưởng (?) Hồ Chí minh chỉ là những xác chết, những thây ma. Trong khi đời sống xã hội luôn linh động, phát triển.

Bộ chính trị đảng cộng sản Việt nam nghĩ rằng họ sẽ tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn của xã hội trong kinh điển thì họ đã sai lầm lớn!

Vấn đề không phải là cải tổ nền giáo dục – văn hoá mác xít tai hại này, mà chúng ta phải đấu tranh đòi hủy bỏ toàn bộ, chấm dứt ngay việc nhồi nhét vào đầu học sinh sinh viên những quan niệm trừu tượng hay những mớ kiến thức chuyên môn.

Nền giáo dục mới mang tính Nhân Bản, Khoa Học, Đại Chúng, Khai Phóng và Sáng Tạo. Ngắn gọn ta có thể nói:

– Tính Nhân Bản

Phát triển đồng đều và tối đa có thể tiềm năng cá nhân về cả hai mặt tinh thần lẫn vật chất vì là hai mặt của sinh năng (‘đẻ’ ra sự sống). Phát triển cân bằng này mới là yếu tố quan trọng cho cá nhân mưu cầu hạnh phúc.

– Tính khoa học

Khoa học Tây phương giúp giải thích những hiện tượng của thế giới tự nhiên bên ngoài qua những thí nghiệm, những công thức toán học.

Khoa học Đông phương là sự tìm hiểu bản chất thực sự bên trong của con người, là sự tìm hiếu vào bản thể mình: “Tôi là ai?” qua những huấn luyên thực nghiệm, qua trải nghiệm.

– Tính đại chúng

Ngày nay với internet có thể phổ biến các bài giảng, bài huấn luyện đến quần chúng ở hang cùng ngõ hẻm trên toàn quốc, kể cả vùng sâu, vùng núi, hay hải đảo. Giáo dục không còn là chỉ dành riêng cho người có tiền, có quyền, con ông cháu cha.

– Tính khai phóng

Chúng ta thừa kế và hưởng thụ gia sản nhân loại truyền qua bao thế kỷ, nhưng hoàn toàn không bị bó hẹp trong những hiểu biết đó. Nền giáo dục Nhân Bản luôn luôn khai mở ra cho thế hệ trẻ những bệ phóng để có thể lao vào và hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng nhất trong một đời người. Đó là:

– Tính sáng tạo

Trong công việc hàng ngày, hay trong nghệ thuật hay cao cấp hơn trong khám phá đại vũ trụ cũng như tiểu vũ trụ (con người), mỗi hành động của chúng ta đều luôn luôn mang tính khám phá, chứ không phải máy móc. Thế giới ở trong ta (sống với xã hội), nhưng ta không ở trong thế giới (đời sống nội tâm riêng).

Tính sáng tạo sẽ đưa đến NHÂN LOẠI MỚI với NỀN VĂN MINH MỚI trên căn bản triết lý mới về con người.

Nền tảng giáo dục mới Nhân Bản là đào tạo giới trẻ thành những con người hiểu về mình và môi trường mình đang sống; ý thức tương quan giữa người với người và giữa người với môi trường ấy.

Mục đích của nền giáo dục Nhân Bản là khêu gợi và phát triển tính Nhân Bản tiềm ẩn có sẵn trong mỗi con người, sống phù hợp với các qui luật của thiên nhiên, và trở thành những người có lòng tốt, có lòng vị tha, biết cảm thông, biết hướng thượng. Không bao giờ khêu gợi, kích thích những nhược điểm hay tật xấu trong con người.

Phần lớn con người Việt Nam trải qua bao năm chinh chiến, lại chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đầy thù hận, nên rất khó thay đổi. Cho nên:

Cần nhắm vào tuổi thơ dễ uốn nắn.

Dù cho đứa trẻ gặp bất hạnh nhưng nếu được giáo dục đúng thì chính khổ đau này giúp trẻ thêm kiên nhẫn, chịu đựng và thương những người cùng cảnh ngộ. Dù cho sinh ra trong nhung lụa sung sướng, trẻ cũng không trở thành một người ích kỷ, tự đắc hay dễ dãi với bản thân mình.

Nếu khi còn nhỏ, trẻ được giáo dục kỹ lưỡng về luân lý, đạo đức, được vun trồng săn sóc cẩn thận thì sau này khi trưởng thành, tiếp xúc với đủ mọi ảnh hưởng tốt xấu, có thể đương đầu với điều xấu vì biêt phân biệt và đủ sức chống lại những cám dỗ.

Tóm lại nền Giáo Dục Nhân Bản làm cho con người phát triển toàn diện trong môi trường đang sống.

Một vị thầy theo đúng nghĩa không phải là người có nhiều kiến thức hay ăn nói lưu loát; mà phải là người dìu dắt đứa trẻ như bạn đồng hành, thích nghi với sự nẩy nở của trẻ, dậy bảo đúng với khả năng tiếp nhận của trẻ, không ỷ vào uy quyền để áp chế. Con người ai cũng ghét điều làm họ sợ, nên mệnh lệnh, đe doạ không bao giờ là giáo dục chân chính được.

Vì giáo dục là một nghệ thuật nên nhà giáo dục còn phải có tâm hồn của một nghệ sĩ, rộng mở với thiên nhiên, vui buồn với thế thái nhân tình, biết hoà nhịp cùng thời đại.

Nhà giáo dục phải có tự do trong việc đào tạo, huấn luyện những tâm hồn còn non dại, ngây thơ này. Chỉ những người có đức hạnh cao mới nên theo nghề thầy.

Giáo dục dự phần quan trọng trong phát triển xã hội. Con người nhìn cuộc đời ra sao tuỳ thuộc rất nhiều ở sự giáo dục của người đó.

Giáo dục không phải là bức rào ngăn cách con người, mà là một cây cầu nối liền con người với nhau.

Giáo dục là khai mở trái tim cũng như khối óc, tiềm lực con người được khai phóng, khả năng sáng tạo của con người có thể tuôn chẩy góp phần xây dựng một nền văn minh mới toả rộng khắp nơi.

Nếu con người biết sống đúng ý nghĩa của một con người, thì tương lai nhân loại ắt phải huy hoàng chứ không thể nào khác đi được.

HIỆN TẠI Khó khăn nhất nằm ở chỗ:

Lực lượng giáo chức Việt Nam phải nhận biết nền giáo dục Mác – Lê là vũng bùn lầy, mới ngừng không tranh đua nữa và nhất là muốn bước ra, rời bỏ nó. Đại đa số giáo chức ở chỗ riêng tư đều nói: nền giáo dục hiện tại là gàn dở, nghĩa là các vị đó còn không gàn dở. Chính lực lượng giáo chức phải làm cuộc cách mạng giáo dục Nhân Bản này, chứ không phải ai khác.

Lực lượng giáo chức phối hợp cùng hàng triệu sinh viên nạn nhân là động lực chính yếu chống lại và lật đổ bọn cán bộ quản lý giáo dục: Đó là hướng đấu tranh để cho ra đời nền giáo dục Nhân Bản tại Việt Nam.

Nói như thế đã tạm đủ những nét chính của nền giáo dục mới.

Tóm lại, Giáo Dục Nhân bản nhằm rèn luyện thân thể cũng như tinh thần, để con người có thể nhận biết, tỉnh thức và trưởng thành qua mỗi kinh nghiệm sống. Từ đó, khai phóng mọi khổ đau và vui sướng của cuộc đời.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng cuộc sống mang tính biện chứng, nó tồn tại qua hai mặt đối lập. Không hạnh phúc nào mãi mãi, bằng không hạnh phúc sẽ mất hết ý nghĩa. Bất hạnh kế liền hạnh phúc như ngày và đêm. Mọi vui sướng đều có nỗi đau riêng của nó, và mọi nỗi đau đều có vui sướng riêng của nó.

Thế nên “ngay bây giờ và ngay tại đây”, bất cứ ở đâu bất cứ lúc nào, con người Nhân Bản luôn sống chính xác một cách mãnh liệt, vì biết rõ quá khứ là chuyện đã xẩy ra rồi, và khoảnh khắc tới không ai có thể biết là gì.

Sau những giấc mơ thật đẹp như thế về giáo dục, chúng ta đành trở lại thực tế phũ phàng đang ngự trị trên quê hương mình để cùng nhau chiến đấu cho một thể chế mới với nền giáo dục Nhân Bản.

http://vnqvn.blogspot.com/2021/05/ban-ve-giao-duc-nhan-ban.html#more

Ts. Phạm Đình Bá – Bạn nên học thứ bạn yêu thích hay lấy bằng để có việc làm?

Câu hỏi nầy thường được tranh luận trong các gia đình có con sắp vào đại học. Các cuộc tranh luận nầy có thể xảy ra bất cứ ở đâu, khi người Việt ở quê nhà hay định cư ở nước ngoài. Mức độ mà cha mẹ lắng nghe ý kiến của con thì có thể lên xuống và dao động rất nhiều, tùy từng gia đình và tùy theo mức độ kiên định trong lập trường của những người trẻ. Bên dưới là kinh nghiệm về tranh luận chung quanh câu hỏi nầy ở Anh, với hy vọng là kinh nghiệm từ một nước khác có thể kích động các suy nghĩ trong việc tranh luận về câu hỏi nầy trong các gia đình người Việt.

Hai sinh viên người Anh với tên tắt là AW và KP tranh luận xem bạn nên làm theo cái đầu hay trái tim khi nói đến việc chọn ngành học của mình.

Chọn ngành học ở trường đại học là một trong những quyết định lớn nhất mà bạn sẽ làm khi còn trẻ. Vì vậy, làm thế nào để bạn quyết định những gì phù hợp với bạn? Bạn có nên làm theo trái tim mình và dấn thân vào điều gì đó mà bạn thực sự đam mê, bất kể nó có thể dẫn bạn đến đâu. Một cách khác là bạn nên chọn một ngành học với một lộ trình nghề nghiệp an toàn hơn? Bên dưới đây hai sinh viên AW và KP tranh luận cả hai mặt của sự lựa chọn.

AW nói: ‘Hãy học những gì bạn yêu thích’

Hãy hỏi một sinh viên rằng họ sẽ học gì nếu được đảm bảo công việc mơ ước của họ và có khả năng câu trả lời sẽ không tương ứng với những gì họ thực sự chọn. Điều này thường là do khát vọng của họ đã bị giảm bớt bởi những người “hiểu đời”, thường nhất là cha mẹ chọn cho con.

Hầu hết lời khuyên về ngành học nào chỉ tập trung hoàn toàn vào việc kiếm được việc làm trong tương lai. Nhiều cha mẹ không khuyến khích con theo đuổi những sở thích trừu tượng bởi vì, rõ ràng, những triển vọng của các bằng trong các ngành trừu tượng thường được coi là không thực tế. Các ngành trừu tượng thí dụ như là triết học, mỹ thuật, nhân văn, và văn học. Các ngành thực dụng thí dụ như là kinh doanh, tiếp thị, y học, điều dưỡng, kỹ thuật và khoa học máy tính, cùng những ngành khác.

Nhưng liệu có thực sự đáng để học một ngành mà bạn không thích trên cơ sở là cái bằng đó có thể làm tăng cơ hội tìm được việc làm của bạn không? Chuyện tìm việc làm thành công hay không là do rất nhiều yếu tố và có thể phụ thuộc vào thời điểm và cơ hội, với sự không xác thực như vậy, tại sao bạn không thử học ngành mà bạn yêu thích?

Một số người – cụ thể là cha mẹ thường không đồng tình với khái niệm cần theo đuổi những gì bạn yêu thích bất chấp rủi ro – nhưng tôi tin rằng nó hợp lý hơn là chỉ tập trung vào việc học để có việc làm.

Quan tâm đến điều bạn đam mê thực sự là cách chắc chắn nhất để bạn trở thành xuất sắc trong việc làm suốt đời của bạn. Nếu bạn học ngành bạn theo vì bạn chỉ muốn có việc làm, thì đó có thể là bạn không trung thực với chính mình. Như Steve Jobs người chủ nổi tiếng của hãng phone Apple đã nói, “cách duy nhất để làm được công việc tuyệt vời là yêu thích những gì bạn làm”.

Về lâu dài, quyết định theo học ngành học mà bạn lựa chọn nhìn chung có lợi hơn. Các yếu tố như hạnh phúc trong đời sống về lâu dài và cảm giác thỏa mãn khi làm việc mình yêu thích thường không được coi trọng trong quyết định chọn ngành học, mặc dù lý ra các yếu tố nầy cần được xem xét và cẩn trọng trong các quyết định chọn ngành học và lựa chọn nghề nghiệp. Các yếu tố “hạnh phúc” trong đời sống này cũng không chỉ dựa trên thu nhập – các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có rất ít mối tương quan giữa mức lương của mọi người và sự hài lòng trong công việc của họ nói riêng và hạnh phúc trong đời sống nói chung.

Thực tế là, có rất ít lý do để không theo đuổi những gì bạn thực sự muốn. Bạn luôn có thể đạt được thành tích trong ngành học mà bạn yêu thích và nếu bạn không làm được điều đó, người khác sẽ làm được. Tôi tin rằng bạn phải đưa ra quyết định trung thực cho chính mình, bởi vì nếu bạn lựa chọn ngành học theo những ý tưởng từ bên ngoài, bạn có thể hối tiếc trong tương lai, hay bạn sẽ hối tiếc khi thấy những người cùng tuổi và có khả năng như bạn xuất sắc trong công việc mà bạn mơ ước.

KP nói: ‘Hãy thực tế’

Đại học là để làm một cái gì đó bạn yêu thích, phải không? Chà, không hoàn toàn như vậy. Chọn học một thứ bạn đam mê có thể không mang lại lợi ích như bạn nghĩ.

Khi bạn học đại học về cơ bản là bạn đang đầu tư: một khoản đầu tư có giá trị lên đến (và đôi khi hơn) 600 triệu đồng VN mỗi năm. Đây là số tiền rất lớn mà thường xuyên là bạn và gia đình bạn phải gánh chịu.

Bạn không cần phải biết nhiều về đầu tư để biết rằng mục đích của mọi việc đầu tư là tạo ra lợi nhuận. Bằng cấp của bạn là một khoản đầu tư lâu dài mà bạn được hưởng lợi từ kiến thức. Tuy nhiên, đầu tư tiền mà một ngày nào đó bạn phải trả lại có nghĩa là lợi nhuận của bạn cần phải xem xét là chuyện tiền bạc để trả lại cả vốn lẫn lời của việc đầu tư. Nói cách khác, lợi nhuận từ bằng cấp bạn đạt được không chỉ đơn thuần là học thuật và kiến thức. Bạn phải nghĩ đến việc bạn làm gì với bằng cấp của bạn để tạo dựng đời sống không lo về tiền bạc bởi bạn có việc làm.

Vì vậy, nếu bạn có năng khiếu về các con số và có khả năng để học các kỹ năng thực tế nhưng lại có niềm đam mê thực sự với chơi đàn thì việc chọn học các ngành âm nhạc ở trường đại học có thể là một sai lầm. Bạn có thể thấy mình không biết phải làm gì với bằng âm nhạc sau khi tốt nghiệp và tự nhận thấy rằng mình có khả năng làm các công việc thực tế mà bạn thấy dễ tìm việc, nhưng bạn lại không có bằng cấp để chứng minh điều đó.

Có sự khác biệt giữa sở thích và thế mạnh nghề nghiệp của bạn. Nếu bạn nghĩ rằng bạn thực sự có thể đột phá thành công trong ngành âm nhạc hiện đại thì thật tuyệt, nhưng nếu nghệ thuật chỉ là thứ bạn thích vào vài đêm trong tuần, có lẽ nên xem xét lại lựa chọn học âm nhạc của bạn.

Nếu bạn hiện đang chọn một khóa học ở trường đại học, hoặc đang nghĩ đến việc thay đổi khóa học của mình, lời khuyên của tôi dành cho bạn rất đơn giản: đừng nhầm lẫn sở thích của bạn với triển vọng nghề nghiệp của bạn. Chọn lựa ngành học theo sở trường của bạn, không phải đam mê của bạn. Nếu bạn đủ may mắn để có cả hai trùng lặp như là một thì tuyệt vời. Nhưng hãy nhớ rằng với công việc phù hợp và tiền bạc ổn định, bạn sẽ luôn có thời gian cho những điều bạn thích, bất kể bạn đã học chúng ở trường đại học hay chưa.

Nguồn: Aimee Wragg and Kerry Provenzano. Should you study something you love or a degree that will get you a job?

https://www.theguardian.com/education/2014/aug/27/study-what-you-love-or-what-will-get-you-a-job

Xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra chương trình đào tạo nghề nghiệp theo hướng “phát triển năng lực người học” như thế nào?

Theo Facebook Đặng Phước

Note: đầu năm học 2020 – 2021, trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk có công văn đề nghị các khoa, phòng ban chức năng rà soát lại lại chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành giáo dục mầm non. Chúng tôi được khoa phân công đọc và rà soát lại toàn bộ nội dung chương trình sau đó đã góp ý chỉnh sửa mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, số lượng tín chỉ, phân phối chương trình, thời lượng cho các module mà chúng tôi đảm nhận … Tuy nhiên, hội đồng khoa học nhà trường dưới sự chủ trì của ông hiệu trưởng Nguyễn Trọng Hòa đã bác bỏ tất cả.

Vừa qua, tại hội nghị khoa GDMN bàn việc thống nhất chương trình đào tạo liên thông từ hệ Trung cấp Sư phạm mầm non lên cao đẳng sư phạm mầm non. Sau khi rà soát lại 2 chương trình đào tạo, chúng tôi phát hiện có tình trạng bất cập đó là một số môn học ở hệ trung cấp sư phạm Mầm non có nội dung và thời lượng lớn hơn chương trình cao đẳng sư phạm mầm non hiện hành.

Tại cuộc hội thảo, sau khi được nghe các ý kiến của các tổ chuyên môn, bà phó hiệu trưởng Vũ Thị Thanh Hiển và ông Lê Văn Huy -phó trưởng phòng đào tạo – quản lý khoa học đã thống nhất sẽ đề nghị nhà trường rà soát lại toàn bộ chương trình nhằm đảm bảo tính khoa học, đạt mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra đáp ứng được yêu cầu nhân lực ngành Mầm non cho xã hội.

Để đảm bảo tính pháp lý, sau khi tôi nhận được quyết định ban hành chương trình đào tạo hệ CĐSP ngành GDMN năm học 2020-2021 của ông hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, hôm nay tôi đăng lại toàn bộ bản góp ý của nhóm giảng viên Nhà trường đã quan tâm đến chất lượng đào tạo để rộng đường dư luận.

Văn bản này chúng tôi đã gửi cho hội đồng khoa học vào ngày 26 tháng 8 năm 2020, tuy nhiên ngoài việc không tiếp thu, chúng tôi không được nhà trường phản hồi.

Sau đây là toàn bộ nội dung văn bản góp ý:

1/ Đặt vấn đề:

Xây dựng chương trình đào tạo của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp tức là lập kế hoạch nhằm đào tạo người lao động đáp ứng các chuẩn mực nhu cầu của xã hội. vì thế, việc đặt mục tiêu đào tạo, công bố chuẩn đầu ra là một việc làm mang tính khoa học, chính xác.

2/cơ sở khoa học:

2.1 Khái niệm cơ bản về mục tiêu đào tạo:

+Mục tiêu đào tạo là một “tuyên bố chính xác” những gì mà người học có thể làm được sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Hay nói cách khác, mục tiêu đào tạo “vừa là đích đến vừa là thước đo các giá trị” mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp.

+Mục tiêu đào tạo còn định hướng người dạy lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp đồng thời xác định công cụ đánh giá các kết quả học tập của người học.

Trên cơ sở đó, mục tiêu đào tạo phải được diễn đạt bằng những động từ có thể xác định và đo đạc được, cần tránh những từ chung chung mơ hồ như: “nắm được”, “hiểu được” , “nhớ được”…

2.2 Ý nghĩa việc xây dựng chương trình theo hướng phát triển năng lực người học

Hiện nay, ngành GD&ĐT Việt Nam đang chủ trương đào tạo lao động theo hướng phát triển năng lực, vì thế việc xây dựng mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được khuyến khích sử dụng thang nhận thức Bloom theo sáu mức độ: 1. Nhớ (Remembering); 2. Hiểu (Understanding); 3. Vận dụng (Applying); 4. Phân tích (Analyzing); 5. Tổng hợp (Synthesizing); 6. Đánh giá (Evaluating)

Để áp dụng thang Bloom vào xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo , khi áp dụng 6 cấp độ nhận thức, người ta thường sử dụng các động từ mà người học sẽ chủ động thực hiện được sau khi chiếm lĩnh được nội dung đào tạo, các từ khóa theo cấp độ nhận thức được sử dụng đó là:

1. Nhớ: Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Nêu, gọi tên, nhận diện, nhắc lại, liệt kê…

2. Hiểu: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: trình bày, mô tả, Giải thích, Phân biệt, Khái quát hóa, Cho ví dụ, So sánh…

3. Vận dụng: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Vận dụng, Áp dụng, Tính toán, Chứng minh, Giải thích, Xây dựng…

4. Phân tích: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Phân tích, Lý giải, So sánh, Lập biểu đồ, Phân biệt, Hệ thống hóa…

5. Tổng hợp: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Thiết lập, Tổng hợp, Xây dựng, Thiết kế, Đề xuất, báo cáo, so sánh, sáng tác, tổ chức,….

6. Đánh giá:  Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Đánh giá, Cho ý kiến, Bình luận, phê bình, tranh luận, lập luận, lựa chọn, ước tính, định giá…

3/Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình của các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hiện nay:

3.1. Các căn cứ xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học:

Thời gian qua, Bộ GD&ĐT tổ chức tập huấn trong công tác xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn đào tạo mới ban hành tại Quyết định Số: 17/VBHN-BGDĐT, ngày 15 tháng 5 năm 2014, trong đó tại Khoản 1, Điều 2 Quyết định này có nêu: “Chương trình đào tạo cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình” (Hết trích)

Tuy nhiên, hiện một số cơ sở đào tạo xây dựng chương trình đào tạo theo kiểu chắp vá, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” nên việc đặt ra mục tiêu đào tạo một cách mơ hồ, không xác định được

3.2. Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo của nhà trường

3.2.1 Về mục tiêu:

Theo chúng tôi, mục tiêu đào tạo theo dự thảo đề cương là chưa phù hợp bởi:

a/ Mục tiêu còn dùng những động từ mơ hồ, không xác định, không thể dùng công cụ để đánh giá được “hiểu”; “nắm”:

Ví dụ:

*Mục tiêu chung:

“Đào tạo cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; có hiểu biết cơ bản và hệ thống về sự phát triển của trẻ; tổ chức và phát triển chương trình giáo dục mầm non hiệu quả; có năng lực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn giáo dục mầm non”

*Mục tiêu cụ thể

+ Về kiến thức:

PO1: Hiểu biết về kiến thức giáo dục đại cương để vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GDMN.

PO2: Nắm vững hệ thống kiến thức khoa học GDMN để thực hiện tốt công tác chuyên môn.

PO3: Hiểu biết đầy đủ về mục tiêu, nội dung chương trình GDMN, phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục và sự phát triển của trẻ em ở các cơ sở GDMN.

PO4: Áp dụng có hiệu quả kiến thức khoa học GDMN vào việc tổ chức và đánh giá các hoạt động giáo dục trẻ các đối tượng khác nhau bao gồm cả trẻ dân tộc thiểu số, trẻ có nhu cầu đặc biệt ở tất cả các nhóm tuổi, các loại hình trường, lớp mầm non.”

+ Về kỹ năng:

PO5: Lập kế hoạch định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân và điều kiện thực tế.

PO6: Tổ chức, thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Quan sát, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ; đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kế hoạch giáo dục; phân tích và đánh giá hiệu quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Giao tiếp với trẻ; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển và học tập của trẻ; hợp tác và giao tiếp với đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng trong hoạt động giáo dục; tuyên tuyền khoa học giáo dục, vận động xã hội hóa GDMN” (Hết trích)

b/ Đề xuất sửa chữa mục tiêu phù hợp theo hướng phát triển năng lực người học:

*Mục tiêu chung:

Sinh viên cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non sau khi tốt nghiệp đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ có đầy đủ năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, áp dụng được một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chương trình đào tạo vào thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi một cách khoa học, hiệu quả. Tích cực nghiên cứu khoa học nhằm cải tiến các biện pháp, phương pháp dạy học nâng cao chất lượng công tác giáo dục mầm non

*Mục tiêu cụ thể:

PO1: Trình bày được khái quát về các kiến thức giáo dục đại cương; áp dụng các kiến thức đó một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn giáo dục mầm non

PO2: Áp dụng được hệ thống kiến thức khoa học của ngành giáo dục mầm non trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ

PO3: khái quát được mục tiêu, nội dung chương trình, Phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục mầm non tại các cơ sở giáo dục mầm non.

PO4: Áp dụng được các kiến thức khoa học giáo dục mầm non vào hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đối với các đối tượng khác biệt như dân tộc, vùng miền, độ tuổi, đặc điểm bẩm sinh di truyền…khi được giáo dục trong các loại hình trường lớp mầm non khác nhau.

Về kỹ năng:

PO5: Có kỹ năng lập kế hoạch(năm,tháng, chủ đề, học kỳ…) nhằm định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân theo điều kiện thực tế.

PO6: Có kỹ năng thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Có kỹ năng quan sát có chủ đích, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ, làm chủ được cảm xúc bản thân trong hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch giáo dục, kết quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Có kỹ năng giao tiếp sư phạm, tham gia nghiên cứu khoa học đồng thời áp dụng các kiến thức khoa học giáo dục nhằm tuyên tuyền, vận động xã hội hóa GDMN

PO9: Có kỹ năng hát, múa, thể dục thể thao và làm được các sản phẩm tạo hình phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. ( “PO9”- chúng tôi đề xuất thêm)

3.2.2 Về Chuẩn đầu ra

a/ Các mục chưa phù hợp:

PLO1: Nội dung chung chung, chưa cụ thể hóa:“Có khả năng vận dụng được kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính trị, khoa học tự nhiên vào thực tiễn GDMN”

PLO4: mơ hồ không xây dựng được thang giá trị làm công cụ đánh giá:

“Hiểu và vận dụng được kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành vào hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

PLO1: Áp dụng được các kiến thức khoa học cơ bản vào thực tiễn GDMN

PLO4: khái quát hóa và áp dụng được hệ thống kiến thức cơ sở ngành giáo dục, chuyên ngành mầm non vào các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi

3.2.3. Về phần “chuẩn bị của giảng viên” :

a/ Các nội dung chưa phù hợp:

Phần này trong bảng mô tả chỉ nêu chung chung, không cụ thể gây khó khăn cho ban giám hiệu nhà trường đặt ra tiêu chí tuyển chọn giảng viên, cụ thể:

Chẳng hạn, ý thứ nhất “Trang bị những kinh nghiệm dạy học khác nhau” Viết như thế là rất mơ hồ, không cụ thể

Theo chúng tôi nên thay thế tiêu đề này bằng tên gọi “Yêu cầu giảng viên”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

*Yêu cầu của giảng viên

1/ Có trình độ chuẩn thạc sỹ ngành sư phạm trở lên đối với các chuyên ngành khoa học đại cương; trình độ cử nhân sư phạm trở lên đối với các ngành học thuộc các chuyên ngành năng khiếu như âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục thể chất.

2/Khảo sát nhằm xác định, đánh giá một cách toàn diện các dạng học phần mà giảng viên tham gia giảng dạy.

3/Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tương tác sư phạm một cách hiệu quả trong quá trình tổ chức dạy học

4/khảo sát và xác định được đặc điểm các đối tượng sinh viên trong lớp học mà mình phụ trách

5/nghiên cứu áp dụng đầy đủ các quy chế của ngành giáo dục đối với sinh viên trong quá trình dạy học

6/Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dạy học bao gồm: giáo trình, bài giảng, đề cương chi tiết học phần… Thông báo kịp thời cho sinh viên về lịch trình, kế hoạch dạy học để cùng phối hợp một cách hiệu quả.

4/Kết luận:

Việc xây dựng và chỉnh sửa mục tiêu, chuẩn đầu ra của đề cương theo hướng phát triển năng lực người học đồng thời xác định yêu cầu của giảng viên, sinh viên trong thực hiện qui trình đào tạo là một việc làm khoa học mang tính khách quan và thường xuyên nhằm hướng đến cung cấp cho xã hội sản phẩm do nhà trường đào tạo một cách tốt nhất, được thị trường lao động chấp nhận là nhiệm vụ chính trị sống còn của nhà trường!

Trên tinh thần đó chúng tôi mạnh dạn góp ý, đề xuất với Hội đồng khoa học và Hiệu trưởng nhà trường xem xét điều chỉnh cho phù hợp với quan điểm đào tạo hiện nay!

Nhóm GV thực hiện: Đặng Đăng Phước – Xuân Thái Tuấn – Nguyễn Văn Vinh

Tưởng Năng Tiến – Khi Đoàn Thanh Niên Đến Tuổi Chín Mươi

Đã có thời mà mọi phẩm chất tốt đẹp nhất của con người, và đất nước, đều “qui” ráo về cho … Bác: Người là hiện thân của cần, kiệm, liêm, chính. Người là biểu tượng cho độc lập – tự do – hạnh phúc. Người là biểu trưng cho sự minh triết, và tài ba về mọi mặt: thơ, văn, báo chí, âm nhạc …!

Tên họ, cũng như râu tóc, của Người cũng thể hiện sự hài hoà và nhân ái: Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên bác Hồ. Đêm qua em mơ gặp bác Hồ/Râu Bác dài tóc bác bạc phơ. Ngay cả đến đôi dép lê dưới chân cũng thế, cũng gần gũi và thân thương hết biết luôn (Đôi dép đơn sơ/ Đôi dép bác Hồ) dù đã đôi lần Người dặm phải cứt. Cả cứt Tầu lẫn cứt Liên Xô. Cái thời mà nửa nước Việt “thương râu nhớ dép” (theo như cách nói của nhà văn Võ Phiến) tuy có kéo dài lâu nhưng không vĩnh viễn. Sau khi Nam Bắc hòa lời ca, nước nhà thống nhất, dân chúng của cả hai miền có cơ hội so sánh nên nhận thức của họ bắt đầu chuyển biến: Đả đảo Thiệu Kỳ mua cái gì cũng có. Hoan hô Hồ Chí Minh mua cây đinh cũng phải xếp hàng.

Rồi ra, ngay cả đám nhi đồng cũng đánh mất sự ngây thơ (và cũng bắt đầu cảm thấy bất an) nên không giữ được tính vô tư nữa: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ. Chân Bác đạp xích lô. Em thấy Bác em kêu xe khác…

Với thời gian mỗi lúc Bác một bớt thiêng thì đã đành rồi. Đành đoạn hơn nữa là dân chúng không chỉ mang Bác ra dè bỉu, bêu riếu mà còn đổ thừa cho Người về mọi bất cập trong cuộc sống hằng ngày. Mới đầu năm, đầu tháng mà đã nghe FB Hung Do lên tiếng càm ràm : “Việt nam là nước duy nhất trên thế giới, dạy lớp thanh niên: ‘Sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại’, chứ không là: ‘sống làm việc theo hiến pháp, pháp luật.’ Và cũng là nước duy nhất thống kê các vụ đánh nhau trong những ngày tết. ‘Hơn 1.200 người nhập viện vì đánh nhau, 5 người chết trong 3 ngày đầu Tết Canh Tý’, báo NLĐ.

Còn năm nay Tân Sửu. 4 ngày nghỉ Tết có 2.778 ca cấp cứu do… đánh nhau. Trong 4 ngày nghỉ Tết đã có 2.778 ca cấp cứu tai nạn do đánh nhau, trong số đó có 1.173 ca phải nhập viện điều trị, theo dõi và 7 trường hợp tử vong.”

Mà nào chỉ có thế! Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có một lực lượng hùng hậu, với hơn 7 triệu đoàn viên, được mệnh danh là Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.“ Tổ chức này – theo Wikipedia tiếng Việt – do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện… được coi là vườn ươm đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý tương lai cho Đảng Cộng sản Việt Nam, là cánh tay nối dài của nhà nước. Đoàn Thanh niên được tổ chức và vận hành theo mô hình hành chính từ trung ương xuống đến cấp xã, phường với đầy đủ chức danh thuộc biên chế ăn lương nhà nước.” Không hiểu Bác và Đảng rèn luyện ra sao, và trả lương lậu thế nào mà đất Việt Nam lại trở thành một nơi có hơi nhiều thanh niên đi rải đinh hay bắt trộm chó làm kế sinh nhai. Xứ sở này cũng có không ít thiếu nữ tìm mọi cách đi ra nước ngoài để  làm ô sin hay để bán thân (với giá rất bèo) nếu họ không có cái cơ may được làm công nhân xuất khẩu, hay làm dâu xứ lạ.

Nông nỗi hiện nay được ban giảng huấn của Trường Đại Học Lâm Nghiệp (Viet Nam National University of Forestry) biện bạch một cách giản dị và gọn ghẽ như chơi: “Nhiều năm qua các thế lực thù địch đã dùng nhiều phương tiện, thủ đoạn để tác động vào đối tượng này. Do vậy, một số thanh niên đã phai nhạt lý tưởng mà một số người gọi là chứng ‘nhạt đảng, khô đoàn, chán chính trị.”

Đổ thừa cho “thế lực thù địch” về hiện tượng “nhạt đảng, khô đoàn, chán chính trị” nghe (hơi) có vẻ trẻ con và không được thuyết phục gì cho lắm. Vấn đề được một thanh niên Việt Nam, bạn Đoàn Huyên, lý giải một cách sống động và cụ thể hơn (nhiều) qua diễn đàn BBC: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu thanh niên Việt Nam phải có lý tưởng đúng đắn.  “Các bạn phải có niềm tin vào đất nước, vào Đảng, chế độ của chúng ta, không có niềm tin chúng ta không có thành công”.

Còn Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề nghị mỗi hội viên thanh niên phải là một đại sứ về đạo đức lối sống.

Nhưng kính thưa, chẳng cần hô hào làm gì, các chú các bác cứ làm gương đi, chúng cháu sẽ tin, sẽ theo. Chứ như lâu nay, nhìn “lên” tấm gương chói lọi của cha ông chú bác, thấy bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh, chủ tịch bí thư tỉnh thành, tổng giám đốc, trưởng phòng… lũ lượt vào tù vì tham nhũng như một dòng sông bất tận, năm sau cao hơn năm trước, chúng cháu chẳng biết tại sao phải tin, mà tin vào cái gì?

Để tránh nguy cơ “bỏ Đảng, bỏ Đoàn sẽ thành phong trào,” Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đã thay thế “niềm tin” bằng những trò chơi kích dục. Sáng kiến này tuy cũng khá hào hứng nhưng xem chừng không nhận được sự đồng tình. Blogger Giang Nam: “Hồi này dư luận, công luận nước ta có rất nhiều cơn bão liên tục chồng lên nhau, trong đó có cả cơn bão những trò chơi dung tục do Đoàn viên (Đoàn TNCS HCM) tổ chức… Khi xem các Clip tôi thấy người chơi có nhiều bạn mặc nguyên đồng phục Đoàn TNCS lại rất hào hứng, phấn khích với những trò bệnh hoạn này, chủ yếu nhắm vào những bộ phận nhạy cảm của nữ hoặc nam. Phải chăng đó là phép màu chống ‘khô’ để nhanh chóng làm ‘ướt’ Đoàn!”

Blogger Kim Dung: “Cư dân mạng tuần qua ồn ào, phẫn nộ với những clip, hình ảnh về các trò chơi của người Việt trẻ. Có những hình ảnh chủ Blog chỉ còm hai chữ: Bệnh hoạn.”

Tình trạng “bệnh hoạn” của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh ngó bộ không còn thuốc chữa nên trước khi rời ghế CTQH, bà Nguyễn Thị Kim Ngân  có hiến diệu kế (“thiềm thừ thoát xác”) biến cái Đoàn ăn hại này thành ra Bộ Thanh Niên & Thể Thao. Coi như xóa bài làm lại!

Đây quả là một sáng kiến trên cả tuyệt vời nếu xét về ngân sách cũng như tổ chức vì tiền thì đã có sẵn rồi (và khi trở thành Bộ thì đội ngũ cán bộ chắc chắn sẽ bớt lỏng lẻo hơn) nhưng hiệu quả thì e hoàn toàn không có gì bảo đảm. Tất cả các cơ quan đoàn thể của nhà nước hiện hành ở Việt Nam đều theo chủ trương nhất quán là đục khoét ngân quỹ càng nhiều càng tốt (và đều hoạt động theo phương châm xuyên suốt hành dân là chính) chứ chả mang lại lợi ích gì cho bất cứ ai, ngoài chính nó. Cái Đoàn Thanh Niên sống đến tuổi chín mươi, vẫn cứ phải bú bầu để sống, chả thể nào qua một đêm (biến thành cái Bộ) mà cai ngay được sữa. Có đổi tên là gì chăng nữa thì cũng vẫn chừng đó khuôn mặt ăn hại và đái nát thôi. 

Một thanh niên Việt Nam, bạn Võ Ngọc Ánh, đã “chốt” lại sự việc qua diễn đàn BBC như sau – vào hôm 4 tháng 5 năm 2020: “Tổ chức Đoàn đã hạn chế sự suy tư của thanh niên cho một xã hội dân chủ, tự do, công bình…  Đoàn Thanh niên là cánh tay nối dài đắc lực của đảng. Tôi không tham gia Đoàn vì lẽ đó… Cái người trẻ Việt Nam cần hôm nay không phải có thêm Bộ Thanh Niên mà là cởi trói về tư tưởng để họ hiểu thế nào, tự do, dân chủ, văn minh…” Với chế độ hiện hành thì “cởi trói cho dân” chả khác nào tự sát nên các bạn đừng mong đợi thế. Phải tự cởi trói thôi, nếu muốn được sống cho đàng hoàng tử tế !

Tưởng Năng Tiến

Nguồn: (http://viendongdaily.com/sttd-tuong-nang-tien-doan-thanh-nien-den-tuoi-chin-muoi-v3gB5Pg2.html)

Thông cáo của Khối nghiệp đoàn Viêm Việt!

Kính thưa các Nghiệp đoàn thành viên và quý vị độc giả!
Sau hơn 3 năm hoạt động, Khối nghiệp đoàn Viêm Việt đã làm cầu nối cho các nghiệp đoàn lao động tự do của người Việt Nam trong nước và hải ngoại hình thành nhằm tạo tiền đề xây dựng phong trào lao động theo tinh thần triết lý Việt tộc.

Khối nghiệp đoàn Viêm Việt là nghiệp đoàn của các kỹ sư, y sĩ, người lao động tự do và cả sinh viên nỗ lực đòi lại nhân phẩm và nâng cao các quyền lợi dân sinh cho mọi tầng lớp con người. 


Đến thời điểm này, chúng tôi xét thấy sứ mệnh đó đã kết thúc. Khối nghiệp đoàn Viêm Việt tuyên bố giải tán các nghiệp đoàn thành viên, nhằm  nhường chỗ cho các tổ chức lao công thế hệ sau tiếp tục phát huy những tiền đề của Viêm Việt để phát triển một cách mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong giai đoạn mới.

Riêng các thành viên của Viêm Việt từ nay có thể làm việc độc lập trong tư cách cá nhân của riêng mình hoặc tham gia các tổ chức lao công khác để duy trì và phát huy ngọn lửa tinh thần Dân tộc

Với những lý do đó, chúng tôi xin gửi thông báo này cho các đoàn viên cũng như qúy vị thân hữu được biết.

Xin cảm ơn Viện nghiên cứu Việt Mỹ đã đăng thông cáo này trên trang “Nghiệp đoàn Giáo chức Việt Nam”, kính chào tạm biệt!

Chúc quý vị nhiều sức khỏe và thành công. Trân trọng!

Ngày 16 tháng 03 năm 2021

Thay mặt nghiệp đoàn Viêm Việt

Chủ tịch

Ngọc Lê

Tổng thư Ký

Mây Phạm