Bs. Nguyễn Đan Quế – Bàn về giáo dục nhân bản

Tôi muốn nói ‘chút xíu thôi’ về thế nào là một nền Giáo Dục Nhân bản. Tôi thật sự không muốn vì thấy chưa phải lúc. Khổ nỗi đây lại là cơ bản nhất.

Bàn về Giáo Dục Nhân Bản, chỉ nghe không thôi đã đủ thấy khó. Cho nên, theo tôi, người nghe phải là những người, không những trong nghành giáo dục, mà còn có những quan tâm, ưu tư đặc biệt về giáo dục và đang tìm tòi một hướng đi mới cho nền giáo dục Việt nam. Hướng này là xu thế tất yếu của thời đại, chứ không phải sản phẩm tưởng tượng của trí tuệ. 

Sở dĩ tôi ngần ngại chưa bàn đến nền Giáo Dục Nhân Bản vào lúc này là ví chế độ cộng sản và những nhà lãnh đạo cộng sản còn ngồi tại vị đó. Trong khi chúng ta bàn một vấn đề mà vấn đề đó đòi phải có thay đổi toàn bộ cách điều hành xã hội từ kinh tế – văn hoá cho đến sinh hoạt chính trị ở tầm mức quốc gia.

Nhiều nhất, có thể nói trong lúc này là về một mơ ước. Nhưng không phải mơ có được nền giáo dục giống của Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô hay bất kỳ quốc gia nào khác.

Mà là giấc mơ của nhân loại về một nền Giáo Dục Nhân Bản.

Nói là mơ, nhưng lại không mơ đâu!

Mà chính là hướng đi tất yếu của giáo dục phổ quát cho nhân loại, mọi dân tộc trong tương lai. Thật vậy, khoa học hiện đại (cơ học lượng tử ra đời vào khoảng giữa thế kỷ 20) đã đưa nhân loại lần đầu tiên đến với quan niệm triết lý mới về con người: Tinh thân và vật chất là 2 mặt của sinh năng. Sinh năng là một phần của vũ trụ năng (từ vụ nổ Big Bang và vũ trụ hiện còn đang tiếp tục dãn nở). Tinh thần – vật chất hiện hữu cùng một lúc, hỗ tương tác động và có thể hoán chuyển qua sinh năng. Nói như thế, Đông – Tây đúng lý ra đã phải là 2 mặt của nền văn minh nhân loại (như 2 mặt của một đồng tiến). Do đó, Nhân Bản Hóa xã hội loài người là tất yếu, trong đó Giáo Dục Nhân Bản giữ vai trò cốt lõi.

Trước khi nói về nền Giáo Dục Nhân Bản, thiết tưởng cần nói qua nền giáo dục hiện nay.

Chủ nghĩa cộng sản theo đuổi nền giáo dục đào tạo công cụ cho chế độ và nền văn hoá nô dịch nhằm điều kiện hóa tối đa con người trong khuôn khổ duy vật của chủ nghĩa Mác.

Thứ giáo dục áp chế này khiến con người trở nên cứng nhắc với những giáo điều, làm mất tự do cũng như nhân phẩm, khiến không thể thay đổi hay tiến hoá được. Thứ giáo dục, đã đào tạo sai lạc nhiều thế hệ, hậu quả là văn hoá suy đồi, không có đức độ, thì làm sao xã hội không càng ngày càng xuống dốc, con người không càng ngày càng tha hoá, hư hỏng, chỉ biết tham lam, bóc lột lẫn nhau. Nhờ đảng cán bộ trở nên giầu có, chỉ có dân chúng thiệt thòi, nông dân – công nhân nai lưng bán sức lao động mà không đủ sống, sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm.

Chủ nghĩa cộng sản kinh điển, hay tư tưởng (?) Hồ Chí minh chỉ là những xác chết, những thây ma. Trong khi đời sống xã hội luôn linh động, phát triển.

Bộ chính trị đảng cộng sản Việt nam nghĩ rằng họ sẽ tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn của xã hội trong kinh điển thì họ đã sai lầm lớn!

Vấn đề không phải là cải tổ nền giáo dục – văn hoá mác xít tai hại này, mà chúng ta phải đấu tranh đòi hủy bỏ toàn bộ, chấm dứt ngay việc nhồi nhét vào đầu học sinh sinh viên những quan niệm trừu tượng hay những mớ kiến thức chuyên môn.

Nền giáo dục mới mang tính Nhân Bản, Khoa Học, Đại Chúng, Khai Phóng và Sáng Tạo. Ngắn gọn ta có thể nói:

– Tính Nhân Bản

Phát triển đồng đều và tối đa có thể tiềm năng cá nhân về cả hai mặt tinh thần lẫn vật chất vì là hai mặt của sinh năng (‘đẻ’ ra sự sống). Phát triển cân bằng này mới là yếu tố quan trọng cho cá nhân mưu cầu hạnh phúc.

– Tính khoa học

Khoa học Tây phương giúp giải thích những hiện tượng của thế giới tự nhiên bên ngoài qua những thí nghiệm, những công thức toán học.

Khoa học Đông phương là sự tìm hiểu bản chất thực sự bên trong của con người, là sự tìm hiếu vào bản thể mình: “Tôi là ai?” qua những huấn luyên thực nghiệm, qua trải nghiệm.

– Tính đại chúng

Ngày nay với internet có thể phổ biến các bài giảng, bài huấn luyện đến quần chúng ở hang cùng ngõ hẻm trên toàn quốc, kể cả vùng sâu, vùng núi, hay hải đảo. Giáo dục không còn là chỉ dành riêng cho người có tiền, có quyền, con ông cháu cha.

– Tính khai phóng

Chúng ta thừa kế và hưởng thụ gia sản nhân loại truyền qua bao thế kỷ, nhưng hoàn toàn không bị bó hẹp trong những hiểu biết đó. Nền giáo dục Nhân Bản luôn luôn khai mở ra cho thế hệ trẻ những bệ phóng để có thể lao vào và hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng nhất trong một đời người. Đó là:

– Tính sáng tạo

Trong công việc hàng ngày, hay trong nghệ thuật hay cao cấp hơn trong khám phá đại vũ trụ cũng như tiểu vũ trụ (con người), mỗi hành động của chúng ta đều luôn luôn mang tính khám phá, chứ không phải máy móc. Thế giới ở trong ta (sống với xã hội), nhưng ta không ở trong thế giới (đời sống nội tâm riêng).

Tính sáng tạo sẽ đưa đến NHÂN LOẠI MỚI với NỀN VĂN MINH MỚI trên căn bản triết lý mới về con người.

Nền tảng giáo dục mới Nhân Bản là đào tạo giới trẻ thành những con người hiểu về mình và môi trường mình đang sống; ý thức tương quan giữa người với người và giữa người với môi trường ấy.

Mục đích của nền giáo dục Nhân Bản là khêu gợi và phát triển tính Nhân Bản tiềm ẩn có sẵn trong mỗi con người, sống phù hợp với các qui luật của thiên nhiên, và trở thành những người có lòng tốt, có lòng vị tha, biết cảm thông, biết hướng thượng. Không bao giờ khêu gợi, kích thích những nhược điểm hay tật xấu trong con người.

Phần lớn con người Việt Nam trải qua bao năm chinh chiến, lại chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đầy thù hận, nên rất khó thay đổi. Cho nên:

Cần nhắm vào tuổi thơ dễ uốn nắn.

Dù cho đứa trẻ gặp bất hạnh nhưng nếu được giáo dục đúng thì chính khổ đau này giúp trẻ thêm kiên nhẫn, chịu đựng và thương những người cùng cảnh ngộ. Dù cho sinh ra trong nhung lụa sung sướng, trẻ cũng không trở thành một người ích kỷ, tự đắc hay dễ dãi với bản thân mình.

Nếu khi còn nhỏ, trẻ được giáo dục kỹ lưỡng về luân lý, đạo đức, được vun trồng săn sóc cẩn thận thì sau này khi trưởng thành, tiếp xúc với đủ mọi ảnh hưởng tốt xấu, có thể đương đầu với điều xấu vì biêt phân biệt và đủ sức chống lại những cám dỗ.

Tóm lại nền Giáo Dục Nhân Bản làm cho con người phát triển toàn diện trong môi trường đang sống.

Một vị thầy theo đúng nghĩa không phải là người có nhiều kiến thức hay ăn nói lưu loát; mà phải là người dìu dắt đứa trẻ như bạn đồng hành, thích nghi với sự nẩy nở của trẻ, dậy bảo đúng với khả năng tiếp nhận của trẻ, không ỷ vào uy quyền để áp chế. Con người ai cũng ghét điều làm họ sợ, nên mệnh lệnh, đe doạ không bao giờ là giáo dục chân chính được.

Vì giáo dục là một nghệ thuật nên nhà giáo dục còn phải có tâm hồn của một nghệ sĩ, rộng mở với thiên nhiên, vui buồn với thế thái nhân tình, biết hoà nhịp cùng thời đại.

Nhà giáo dục phải có tự do trong việc đào tạo, huấn luyện những tâm hồn còn non dại, ngây thơ này. Chỉ những người có đức hạnh cao mới nên theo nghề thầy.

Giáo dục dự phần quan trọng trong phát triển xã hội. Con người nhìn cuộc đời ra sao tuỳ thuộc rất nhiều ở sự giáo dục của người đó.

Giáo dục không phải là bức rào ngăn cách con người, mà là một cây cầu nối liền con người với nhau.

Giáo dục là khai mở trái tim cũng như khối óc, tiềm lực con người được khai phóng, khả năng sáng tạo của con người có thể tuôn chẩy góp phần xây dựng một nền văn minh mới toả rộng khắp nơi.

Nếu con người biết sống đúng ý nghĩa của một con người, thì tương lai nhân loại ắt phải huy hoàng chứ không thể nào khác đi được.

HIỆN TẠI Khó khăn nhất nằm ở chỗ:

Lực lượng giáo chức Việt Nam phải nhận biết nền giáo dục Mác – Lê là vũng bùn lầy, mới ngừng không tranh đua nữa và nhất là muốn bước ra, rời bỏ nó. Đại đa số giáo chức ở chỗ riêng tư đều nói: nền giáo dục hiện tại là gàn dở, nghĩa là các vị đó còn không gàn dở. Chính lực lượng giáo chức phải làm cuộc cách mạng giáo dục Nhân Bản này, chứ không phải ai khác.

Lực lượng giáo chức phối hợp cùng hàng triệu sinh viên nạn nhân là động lực chính yếu chống lại và lật đổ bọn cán bộ quản lý giáo dục: Đó là hướng đấu tranh để cho ra đời nền giáo dục Nhân Bản tại Việt Nam.

Nói như thế đã tạm đủ những nét chính của nền giáo dục mới.

Tóm lại, Giáo Dục Nhân bản nhằm rèn luyện thân thể cũng như tinh thần, để con người có thể nhận biết, tỉnh thức và trưởng thành qua mỗi kinh nghiệm sống. Từ đó, khai phóng mọi khổ đau và vui sướng của cuộc đời.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng cuộc sống mang tính biện chứng, nó tồn tại qua hai mặt đối lập. Không hạnh phúc nào mãi mãi, bằng không hạnh phúc sẽ mất hết ý nghĩa. Bất hạnh kế liền hạnh phúc như ngày và đêm. Mọi vui sướng đều có nỗi đau riêng của nó, và mọi nỗi đau đều có vui sướng riêng của nó.

Thế nên “ngay bây giờ và ngay tại đây”, bất cứ ở đâu bất cứ lúc nào, con người Nhân Bản luôn sống chính xác một cách mãnh liệt, vì biết rõ quá khứ là chuyện đã xẩy ra rồi, và khoảnh khắc tới không ai có thể biết là gì.

Sau những giấc mơ thật đẹp như thế về giáo dục, chúng ta đành trở lại thực tế phũ phàng đang ngự trị trên quê hương mình để cùng nhau chiến đấu cho một thể chế mới với nền giáo dục Nhân Bản.

http://vnqvn.blogspot.com/2021/05/ban-ve-giao-duc-nhan-ban.html#more

Ts. Phạm Đình Bá – Bạn nên học thứ bạn yêu thích hay lấy bằng để có việc làm?

Câu hỏi nầy thường được tranh luận trong các gia đình có con sắp vào đại học. Các cuộc tranh luận nầy có thể xảy ra bất cứ ở đâu, khi người Việt ở quê nhà hay định cư ở nước ngoài. Mức độ mà cha mẹ lắng nghe ý kiến của con thì có thể lên xuống và dao động rất nhiều, tùy từng gia đình và tùy theo mức độ kiên định trong lập trường của những người trẻ. Bên dưới là kinh nghiệm về tranh luận chung quanh câu hỏi nầy ở Anh, với hy vọng là kinh nghiệm từ một nước khác có thể kích động các suy nghĩ trong việc tranh luận về câu hỏi nầy trong các gia đình người Việt.

Hai sinh viên người Anh với tên tắt là AW và KP tranh luận xem bạn nên làm theo cái đầu hay trái tim khi nói đến việc chọn ngành học của mình.

Chọn ngành học ở trường đại học là một trong những quyết định lớn nhất mà bạn sẽ làm khi còn trẻ. Vì vậy, làm thế nào để bạn quyết định những gì phù hợp với bạn? Bạn có nên làm theo trái tim mình và dấn thân vào điều gì đó mà bạn thực sự đam mê, bất kể nó có thể dẫn bạn đến đâu. Một cách khác là bạn nên chọn một ngành học với một lộ trình nghề nghiệp an toàn hơn? Bên dưới đây hai sinh viên AW và KP tranh luận cả hai mặt của sự lựa chọn.

AW nói: ‘Hãy học những gì bạn yêu thích’

Hãy hỏi một sinh viên rằng họ sẽ học gì nếu được đảm bảo công việc mơ ước của họ và có khả năng câu trả lời sẽ không tương ứng với những gì họ thực sự chọn. Điều này thường là do khát vọng của họ đã bị giảm bớt bởi những người “hiểu đời”, thường nhất là cha mẹ chọn cho con.

Hầu hết lời khuyên về ngành học nào chỉ tập trung hoàn toàn vào việc kiếm được việc làm trong tương lai. Nhiều cha mẹ không khuyến khích con theo đuổi những sở thích trừu tượng bởi vì, rõ ràng, những triển vọng của các bằng trong các ngành trừu tượng thường được coi là không thực tế. Các ngành trừu tượng thí dụ như là triết học, mỹ thuật, nhân văn, và văn học. Các ngành thực dụng thí dụ như là kinh doanh, tiếp thị, y học, điều dưỡng, kỹ thuật và khoa học máy tính, cùng những ngành khác.

Nhưng liệu có thực sự đáng để học một ngành mà bạn không thích trên cơ sở là cái bằng đó có thể làm tăng cơ hội tìm được việc làm của bạn không? Chuyện tìm việc làm thành công hay không là do rất nhiều yếu tố và có thể phụ thuộc vào thời điểm và cơ hội, với sự không xác thực như vậy, tại sao bạn không thử học ngành mà bạn yêu thích?

Một số người – cụ thể là cha mẹ thường không đồng tình với khái niệm cần theo đuổi những gì bạn yêu thích bất chấp rủi ro – nhưng tôi tin rằng nó hợp lý hơn là chỉ tập trung vào việc học để có việc làm.

Quan tâm đến điều bạn đam mê thực sự là cách chắc chắn nhất để bạn trở thành xuất sắc trong việc làm suốt đời của bạn. Nếu bạn học ngành bạn theo vì bạn chỉ muốn có việc làm, thì đó có thể là bạn không trung thực với chính mình. Như Steve Jobs người chủ nổi tiếng của hãng phone Apple đã nói, “cách duy nhất để làm được công việc tuyệt vời là yêu thích những gì bạn làm”.

Về lâu dài, quyết định theo học ngành học mà bạn lựa chọn nhìn chung có lợi hơn. Các yếu tố như hạnh phúc trong đời sống về lâu dài và cảm giác thỏa mãn khi làm việc mình yêu thích thường không được coi trọng trong quyết định chọn ngành học, mặc dù lý ra các yếu tố nầy cần được xem xét và cẩn trọng trong các quyết định chọn ngành học và lựa chọn nghề nghiệp. Các yếu tố “hạnh phúc” trong đời sống này cũng không chỉ dựa trên thu nhập – các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có rất ít mối tương quan giữa mức lương của mọi người và sự hài lòng trong công việc của họ nói riêng và hạnh phúc trong đời sống nói chung.

Thực tế là, có rất ít lý do để không theo đuổi những gì bạn thực sự muốn. Bạn luôn có thể đạt được thành tích trong ngành học mà bạn yêu thích và nếu bạn không làm được điều đó, người khác sẽ làm được. Tôi tin rằng bạn phải đưa ra quyết định trung thực cho chính mình, bởi vì nếu bạn lựa chọn ngành học theo những ý tưởng từ bên ngoài, bạn có thể hối tiếc trong tương lai, hay bạn sẽ hối tiếc khi thấy những người cùng tuổi và có khả năng như bạn xuất sắc trong công việc mà bạn mơ ước.

KP nói: ‘Hãy thực tế’

Đại học là để làm một cái gì đó bạn yêu thích, phải không? Chà, không hoàn toàn như vậy. Chọn học một thứ bạn đam mê có thể không mang lại lợi ích như bạn nghĩ.

Khi bạn học đại học về cơ bản là bạn đang đầu tư: một khoản đầu tư có giá trị lên đến (và đôi khi hơn) 600 triệu đồng VN mỗi năm. Đây là số tiền rất lớn mà thường xuyên là bạn và gia đình bạn phải gánh chịu.

Bạn không cần phải biết nhiều về đầu tư để biết rằng mục đích của mọi việc đầu tư là tạo ra lợi nhuận. Bằng cấp của bạn là một khoản đầu tư lâu dài mà bạn được hưởng lợi từ kiến thức. Tuy nhiên, đầu tư tiền mà một ngày nào đó bạn phải trả lại có nghĩa là lợi nhuận của bạn cần phải xem xét là chuyện tiền bạc để trả lại cả vốn lẫn lời của việc đầu tư. Nói cách khác, lợi nhuận từ bằng cấp bạn đạt được không chỉ đơn thuần là học thuật và kiến thức. Bạn phải nghĩ đến việc bạn làm gì với bằng cấp của bạn để tạo dựng đời sống không lo về tiền bạc bởi bạn có việc làm.

Vì vậy, nếu bạn có năng khiếu về các con số và có khả năng để học các kỹ năng thực tế nhưng lại có niềm đam mê thực sự với chơi đàn thì việc chọn học các ngành âm nhạc ở trường đại học có thể là một sai lầm. Bạn có thể thấy mình không biết phải làm gì với bằng âm nhạc sau khi tốt nghiệp và tự nhận thấy rằng mình có khả năng làm các công việc thực tế mà bạn thấy dễ tìm việc, nhưng bạn lại không có bằng cấp để chứng minh điều đó.

Có sự khác biệt giữa sở thích và thế mạnh nghề nghiệp của bạn. Nếu bạn nghĩ rằng bạn thực sự có thể đột phá thành công trong ngành âm nhạc hiện đại thì thật tuyệt, nhưng nếu nghệ thuật chỉ là thứ bạn thích vào vài đêm trong tuần, có lẽ nên xem xét lại lựa chọn học âm nhạc của bạn.

Nếu bạn hiện đang chọn một khóa học ở trường đại học, hoặc đang nghĩ đến việc thay đổi khóa học của mình, lời khuyên của tôi dành cho bạn rất đơn giản: đừng nhầm lẫn sở thích của bạn với triển vọng nghề nghiệp của bạn. Chọn lựa ngành học theo sở trường của bạn, không phải đam mê của bạn. Nếu bạn đủ may mắn để có cả hai trùng lặp như là một thì tuyệt vời. Nhưng hãy nhớ rằng với công việc phù hợp và tiền bạc ổn định, bạn sẽ luôn có thời gian cho những điều bạn thích, bất kể bạn đã học chúng ở trường đại học hay chưa.

Nguồn: Aimee Wragg and Kerry Provenzano. Should you study something you love or a degree that will get you a job?

https://www.theguardian.com/education/2014/aug/27/study-what-you-love-or-what-will-get-you-a-job

Câu chuyện giáo dục: Ai đã biến đứa trẻ 10 tuổi thành con thú hoang?

Theo (CAO) đưa tin: “Ngày 25-12, Công an H.Kông Chro, Gia Lai đã tạm giữ Đinh Th. (SN 2010, sống lang tang tại xã Đăk Kơ Ning, Kông Chro) là nghi phạm trong vụ án bắn 3 người trong 1 gia đình bị thương”(hết trích)

Cháu Định.Th cùng tang vật


Đọc câu chuyện tôi không cầm được nước mắt, có lẽ ai trong chúng ta cũng đau lòng nếu biết được câu chuyện này!
Vì sao một đứa trẻ 10 tuổi sinh ra nơi miền rừng núi tỉnh Gia Lai tên  Đinh.Th đã dùng súng tự chế để sát hại gia đình chị gái ruột thịt của mình, nguyên nhân vì đâu?
Theo bài báo của CAO cho hay, cháu Đinh.Th mồ côi cha từ bé, bị mẹ bỏ rơi đi lấy chồng khác, cháu có chị gái và anh rể nhưng gia đình chị gái cũng quá nghèo khổ, túng thiếu quanh năm nên không cưu mang được em mình. Đinh.Th vì thế không được học hành. Hàng ngày cậu bé đi làm thuê kiếm sống, những lúc không ai thuê thì cậu lang thang đi tìm cái ăn, có khi túng quá làm liều ăn cắp vặt của làng xóm để có cái cho vào miệng chống đói…. Và cứ mỗi lần như thế thì bị chị gái la mắng, cái sự căm hận người chị ruột thịt của mình ngày càng lớn dần trong nhận thức non nớt của cháu. Có lẽ cháu nghĩ, đối với nó, hiện ngoài chị gái ra thì nó không còn có ai là ruột thịt, chị nó đã hất hủi nó như vậy coi như nó tuyệt vọng, không còn nơi nương tựa … 
Sự đời thường ông bà hay nói “thương nhau lắm, cắn nhau đau”, nỗi căm hận chị gái đã xâm chiếm lấy tâm hồn non nớt của nó, và nó đã ra tay dùng súng quyết đoạt mạng gia đình chị mình, may thay cả 3 người không chết.
 Than ôi, có đau đớn nào bằng, xót xa nào bằng?
Khi xảy ra vụ việc đau lòng, lúc bấy giờ cả xã hội mới giật mình tỉnh thức nhưng đã quá muộn. Cán bộ địa phương thì xem như mình vô can nhưng hãy bình tâm đặt các câu hỏi:
1/Nó mồ côi cha từ bé, nó bị mẹ nó bỏ rơi thì cả làng, cả xã có biết không? Chắc có biết.
2/Chị gái nó con đông không đủ khả năng cưu mang nó. Nó cô độc, thất học đói ăn lang thang làm thuê khắp nơi, thậm chí đói quá phải đi ăn trộm vặt để sống, chính quyền địa phương biết không? Chắc chắn là biết!
3/ Chính quyền địa phương và các cơ quan đoàn thể như đoàn thanh niên, nông dân, phụ nữ … đã có hành động thiết thực nào giúp đỡ cho gia đình chị gái nó để chăm sóc nuôi dưỡng nó hay chưa? Có lẽ là chưa!
4/Tại sao nó có súng và biết dùng súng? Súng đó của ai, dùng vào mục đích gì? Chắc chắn chính quyền địa phương phải biết.
Nếu trả lời xong bốn câu hỏi đó thì chúng ta có thể xác định được nguyên nhân từ đâu và trách nhiệm thuộc về ai?
 Cả xã hội quay lưng với nó thì nó biến thành con thú hoang kể cũng không có gì lạ! Nó chính là nạn nhân của xã hội vô tâm, vô cảm hôm nay!  Thật thương tâm cho hoàn cảnh của cháu bé! 

30/12/2020

Phúc Điền

Cái “tâm” của giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết đã từng là đại biểu quốc hội nhiều nhiệm kỳ. Ông chính là tổng chủ biên kiêm chủ biên sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 theo chương trình mới đang áp dụng gồm 23 đầu sách hiện nay

Status của GS. Thuyết và bài tập đọc “Hai con ngựa”

Theo nhóm biên soạn sách Lớp 1 cho rằng đây là bộ sách tốt nhất (?) Vậy mà tại sao ông lại để cho cháu nội ông đi học bậc tiểu học tận bên Singapore xa xôi? Làm sách giáo khoa ra chỉ để dạy con cháu người khác mà không dạy cho cháu mình thì có khác nào người trồng rau, nuôi heo, nuôi gà… chỉ để bán chứ không ăn sản phẩm do mình làm ra? Đó là điều mà các bậc phụ huynh muốn chất vấn ông!

Thử đọc một trang sách Tiếng Việt 1, có câu chuyện “Hai con ngựa” thì thấy rằng chuyện phỏng theo truyện của nhà văn Lép Tôn-Xtôi nhưng đã thay đổi nội dung làm sai lạc mục đích và ý nghĩa cốt truyện, đó là điều đáng nói.

Không biết chủ ý của nhóm tác giả thế nào, nhưng theo tôi, với cách dạy này sẽ làm cho trẻ nhận thức lệch lạc đó là:

1/ Trong xã hội luôn có giai cấp áp bức bóc lột độc ác (Bác nông dân)

2/kẻ bị bóc lột (ngựa) phải biết so đo, tính toán, gian xảo để đối phó với người đã nuôi mình.

Cách dạy này chỉ có thể hình thành nhân cách trẻ lưu manh, lọc lừa mà thôi!

Đặng Phước

Có nên dạy trẻ biết đọc, viết trước khi vào lớp 1?

Đặng Phước

Ngày 03/10/2020, Báo VnEpress có bài “Lớp 1 học nhàn vì con tôi biết chữ từ lớp chồi” trong đó bài báo tổng hợp ý kiến của các phụ huynh có con vào học Lớp 1 với bộ SGK theo chương trình mới, đa số các ý kiến độc giả đều cho rằng cần phải cho con học trước mới theo kịp chương trình, có phụ huynh còn hối hận vì đã không biết để cho con mình học trước (?) Có phụ huynh chia sẻ: “Cháu nhà tôi năm nay vào lớp 1 mà học cũng rất nhàn vì bé đã học đọc viết từ lớp chồi rồi. Tôi cho học trước chẳng phải ham thành tích gì, mà do đã thấy trước cái tình trạng vô lớp 1 là cô trò sẽ chạy đua nước rút”

Ảnh minh họa (sưu tầm)

Vậy có nên dạy trẻ biết đọc, biết viết trước khi vào lớp Một? Nguyên nhân nào phụ huynh bắt con mình phải biết đọc, biết viết trước khi vào lớp Một? Chúng ta cùng kiến giải dưới lăng kính của những nghiên cứu đã được công bố của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới.

Trước hết, theo các nhà giáo dục học, người ta chia thời kỳ phát triển của con người thành nhiều giai đoạn, trong đó trẻ em lứa tuổi mầm non (<6 tuổi) gọi là giai đoạn trước tuổi học.

Xét về đặc điểm phát triển tâm sinh lý độ tuổi, các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng lứa tuổi mầm non là lứa tuổi chơi để học, có nghĩa là mọi hoạt động mà trẻ tìm hiểu khám phá từ môi trường sống để làm quen chuẩn bị hành trang hoà nhập vào đời sống xã hội được tổ chức dưới dạng các trò chơi, những mẫu chuyện kể, những tình huống nhẹ nhàng vừa sức do cô giáo tạo ra để trẻ tập ứng xử nhằm hình thành nhân cách ban đầu cho các cháu …

Riêng về chữ viết, lứa tuổi mầm non không đặt ra vấn đề dạy trẻ ghép từ hoặc viết chữ. Đến độ tuổi lớp Lá (5- 6 tuổi) thông qua các trò chơi, cô giáo hướng dẫn cho trẻ tập làm quen với mặt chữ và tập đồ (tập tô) các nét của chữ viết để rèn luyện dần hoạt động của cơ tay và dần hình thành kỹ năng cầm bút và tư thế ngồi đúng phương pháp. Tại sao như vậy? Bởi vì ở lứa tuổi này, sức tập trung chú ý của trẻ còn thấp, hệ cơ xương còn mềm yếu … nếu bắt trẻ ngồi nhiều sẽ gây mệt mỏi dẫn đến ngồi sai tư thế ngồi và cầm bút rất dễ gây hậu quả xấu cho sự phát triển bình thường của trẻ như vẹo xương sống, lệch xương vai …. Thật là sai lầm và độc ác khi bắt trẻ ngồi còng lưng viết chữ chỉ để thoả mãn mong muốn của người lớn mà cướp mất tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên của trẻ.

Con tôi thời còn học mẫu giáo ở trường công lập, đến khi cháu học lớp Lá (5 – 6 tuổi) cô giáo hướng dẫn tập đồ nét chữ, trong khi những trẻ khác cô giao cho đồ 3 trang vở, riêng con tôi, tôi yêu cầu cô chỉ cho cháu tập đồ 1 trang mà thôi, chủ yếu cho cháu chơi. Có một sự khác biệt, con trai tôi thuận tay trái, cô giáo bảo nên sửa đổi cho cháu cầm bút sang tay phải nhưng tôi không đồng ý, tôi bảo cứ để cháu làm theo cách của nó. Để hướng dẫn cho con, tôi mua quyển sách: “Khi con bạn thuận tay trái” của tác giả Igor Makariev (Biên dịch: Thanh Hương) đọc và photo trang sách hướng dẫn trẻ thuận tay trái cầm bút để gửi cho cô giáo và đề nghị cô giáo hướng dẫn cho cháu cách cầm bút theo nội dung của sách. Ở tuổi mẫu giáo con tôi học như vậy cho đến khi lên lớp 1, vài tuần đầu cháu học thua các bạn nhưng khoảng tuần thứ 4 trở đi cháu đã theo kịp lớp và tiến bộ dần.

Các bậc phụ huynh nên biết, Bộ Giáo dục & Đào tạo qui định nhiệm vụ của trường tiểu học mà cụ thể là giáo viên dạy lớp 1 phải dạy trẻ tập viết, tập đọc. Tuy nhiên, điều đáng buồn, theo trào lưu hiện nay, phụ huynh muốn con mình hơn con người khác nên chạy đua cho trẻ học chữ sớm, lâu dần tính phổ biến càng rộng rãi, thành ra cô giáo dạy lớp 1 mặc nhiên coi việc học sinh vào lớp 1 phải “biết đọc, biết viết” là chuyện đương nhiên nên hễ có học sinh vào lớp 1 mà chưa biết đọc, biết viết sẽ bị cô phàn nàn, đó chính là nguyên nhân gây áp lực làm cho phụ huynh phải thuê giáo viên dạy trẻ học sớm trước tuổi học.

Có một điều thật oái ăm, ngành Giáo dục VN bao nhiêu lần cải cách là bấy nhiêu lần thay sách. Chẳng hạn, vào đầu năm học 2020-2021, toàn xã hội bức xúc khi Bộ GD&ĐT chỉ đạo đưa vào sử dụng bộ sách Lớp 1 theo chương trình mới gồm 23 đầu sách, tổng cộng là 807.000 đồng. Sách nhiều tiền nhưng chỉ dùng một lần rồi bỏ, thật lảng phí vô cùng!

Thôi thì cứ tạm bỏ qua chuyện giá cả đắt rẻ, nếu chỉ đề cập số lượng, dung lượng của sách thử hỏi với tư duy non nớt của trẻ, làm sao tiêu hoá hết khối lượng kiến thức trong 23 đầu sách? Điều này gây áp lực rất lớn cho học sinh, từ đó kéo theo sự lo lắng của phụ huynh lo sợ con mình không theo kịp chương trình học tập nên phải cho con học sớm hơn so với tuổi qui định. Ngoài ra, với trọng lượng của 23 quyển sách đó, học sinh lớp 1 mang vác đến trường thế nào?

Như vậy, với việc qui định trẻ Lớp 1 phải học bộ sách giáo khoa 23 quyển theo chương trình mới theo qui đinh của Bộ GD&ĐT chính là nguyên nhân trực tiếp buộc trẻ phải mang vác nặng ảnh hưởng sự phát triển sinh lý bình thường của trẻ, đó cũng là nguyên nhân gián tiếp buộc trẻ phải học đọc và viết chữ trước tuổi học như trào lưu của xã hội Việt Nam hiện nay là đang bách hại con trẻ.

Nếu xét về khía cạnh đạo đức thì đó chính là tội ác!

BỨC TRANH CỦA TRẺ NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?

[BỨC TRANH CỦA TRẺ NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?]

Có một bài tập về việc vẽ tranh miêu tả dành cho học sinh lớp 2, giáo viên Mỹ thuật này đã cho đề tài và đánh giá bài làm của học sinh mình một cách thiếu logic và duy ý chí. Tôi xin có mấy ý như sau:
1/ Về đề tài: Giáo viên khơi gợi sự tưởng tượng của học sinh khi các cháu ở tuổi già. Tuy nhiên, việc đặt ra độ tuổi cụ thể như 100 là thiếu logic. Vì hiện nay ở Việt Nam, có bao nhiêu người có tuổi thọ là 100? Tại sao không cho một đề tài mở: Hãy vẽ một bức tranh miêu tả bản thân khi em về già?
2/ Về cách vẽ tranh miêu tả của học sinh: Theo tôi, nó không có gì sai. Bởi tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện đang còn thấp, những ai có độ tuổi là 100 hầu hết đã trở thành người thiên cổ.
Việc cháu Nguyễn Trọng Thuý nghĩ rằng bản thân sẽ qua đời vào lúc 100 tuổi không có gì sai cả! Đây là một suy nghĩ có cơ sở!
Theo tôi, việc đánh giá bài làm này chỉ có 2 điểm là sự áp đặt thiếu logic và duy ý chí của giáo viên Mỹ thuật!
30/6/2020
Đặng Phước

Đánh giá công trình nghiên cứu trước khi đăng lên các tạp chí khoa học

peer-review-cartoon-nick-kim-400px

Hình minh họa từ Peer Review

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada.

Đánh giá bởi đồng nghiệp ngang hàng liên quan đến một bản thảo nghiên cứu trải qua sự xem xét kỹ lưỡng của các chuyên gia trong cùng lĩnh vực nghiên cứu. Hệ thống đánh giá ngang hàng đã được tích hợp vào cộng đồng khoa học trong hàng trăm năm. Mục đích của đánh giá ngang hàng là để xác nhận công việc nghiên cứu và cải thiện chất lượng nghiên cứu được công bố. Khi người đánh giá ngang hàng nhận thức được và đồng ý với những kỳ vọng và trách nhiệm của việc xem xét một bài nghiên cứu và biên tập viên kết hợp phản hồi kịp thời, đánh giá ngang hàng có khả năng dẫn đến phản hồi có giá trị cho các tác giả và cải thiện chất lượng nghiên cứu.

Tính bền vững của đánh giá ngang hàng phụ thuộc vào sự tham gia và nguồn của những người đánh giá ngang hàng. Có được đánh giá ngang hàng có chất lượng là khó khăn cho nhiều tạp chí khoa học. Một “Đánh giá ngang hàng toàn cầu” năm 2018 đã báo cáo về (1) đặc điểm của người đánh giá ngang hàng, (2) hiệu quả của quá trình đánh giá ngang hàng, (3) giá trị của đánh giá ngang hàng và (4) cân nhắc trong tương lai về đánh giá ngang hàng.

Điều quan trọng, báo cáo này đã tìm thấy nhu cầu ngày càng tăng của những người đánh giá ngang hàng, không tương xứng với nguồn cung của những người muốn tham gia vào đánh giá ngang hàng như là một việc thiện nguyện. Một số đặc điểm được tìm thấy có liên quan đến việc hoàn thành các hoạt động đánh giá ngang hàng. Ví dụ: sự khác biệt về số lượng và chất lượng giữa các khu vực cho hoạt động đánh giá ngang hàng tồn tại, với các nhà nghiên cứu từ Hoa Kỳ và Trung Quốc đóng góp nhiều nhất vào đánh giá ngang hàng. Sự thay đổi khu vực trong cơ cấu ưu đãi đã được đề xuất là một yếu tố có thể giải thích một phần cho những khác biệt này. Khảo sát đánh giá toàn cầu năm 2018 bao gồm hơn 11.800 nhà nghiên cứu và nhận thấy thỏa thuận áp đảo (85% người tham gia) rằng sự công nhận và khuyến khích chính thức hơn cho đánh giá ngang hàng sẽ làm tăng sự sẵn lòng tham gia của người đánh giá ngang hàng và sẽ tác động tích cực đến hiệu quả của đồng nghiệp xem xét quá trình.

Tuy nhiên, các ưu đãi truyền thống như đăng ký tạp chí, giảm giá cho xuất bản truy cập mở, và xác nhận trên danh sách công khai để cám ơn những người tham gia vào đánh giá ngang hàng. Những ưu đãi này được áp dụng không nhất quán giữa các tạp chí khoa học và không đáp ứng các khuyến khích và công nhận chính thức đang được các nghiên cứu mong muốn khi họ bỏ giờ vào làm việc đánh giá ngang hàng.

Các phát hiện từ báo cáo Đánh giá ngang hàng toàn cầu cung cấp một bản tóm tắt các xu hướng được tìm thấy trong phần lớn các nhà đánh giá ngang hàng, sự căng thẳng hiện tại trên hệ thống đánh giá ngang hàng và tác động tích cực của các cách khuyến khích tham gia vào đánh giá ngang hàng. Vẫn còn những lỗ hổng đáng kể trong việc hiểu lý do tại sao các nhà nghiên cứu quyết định làm người đánh giá ngang hàng, chất lượng của đánh giá ngang hàng và mức độ cần thiết để khuyến khích thành công trong việc có được người đánh giá ngang hàng. Người ta cũng không biết làm thế nào các ưu đãi có thể ảnh hưởng đến tần suất và chất lượng của các hoạt động đánh giá ngang hàng.

Nguồn:

  1. Elsevier. What is peer review? 2020 [Available from: https://www.elsevier.com/reviewers/what-is-peer-review accessed March 1 2020.
  2. Spier R. The history of the peer-review process. TRENDS in Biotechnology 2002;20(8):357-58.
  3. Publons. 2018 Global State of Peer Review. 2018

Bàn về văn hóa đọc

Tôi là người yêu sách và rất ham đọc sách. Những năm tháng ở quê thời phổ thông, sách rất khan hiếm. Trường học chưa có thư viện, gia đình tôi khó khăn nên không có tiền để mua các sách ngoại văn, chỉ mua sách giáo khoa và sách tham khảo phục vụ môn học ở lớp. Tôi nhớ mỗi lần ôm chồng sách giáo khoa về nhà, tôi thường đọc nghiến ngấu các tác phẩm văn xuôi và học thuộc lòng các bài thơ trong sách Văn học. Đó là các tác phẩm tôi được đọc, rất ít ỏi so với nhu cầu thực của bản thân. Vì vậy, khi bước chân vào cổng trường Đại học và biết đi làm thêm kiếm được chút tiền, tôi đã luôn dành phần tiền làm thêm để mua sách. Mục tiêu tôi đặt ra là mỗi tuần sẽ mua ít nhất 1 cuốn, tôi đã thực hiện liên tục trong 4 năm Đại học. Vì vậy, khi ra trường tôi ôm được kha khá sách. Và tôi cũng thường xuyên lựa chọn lên thư viện để được đọc thêm sách, nhất là những cuốn sách rất dày đắt đỏ.

Người yêu sách mà có sách đọc thì như đói kiếm được miếng ăn.

Nhưng người không mê sách, để tạo cho thói quen yêu sách là một quá trình phải được thực hiện dài hơi và có lộ trình, dùng nhiều cách tác động khác nhau.

Tôi áp dụng việc giúp con tôi ham đọc sách rất đơn giản, tôi thường đọc sách cho con từ khi con còn nằm ngửa, khi biết ngồi tôi bày la liệt sách xung quanh bé với các sách tranh đẹp mắt,… vì vậy, nay con tôi rất ham sách, nhiều khi tôi phải hãm vì con đọc quên ăn, quên ngủ.

Nhưng khi tôi áp dụng lập tủ sách để khuyến đọc cho học sinh của tôi thì không hề dễ dàng. Vì tôi biết các học trò của tôi chưa từng có thói quen đọc sách và nhiều em cũng giống tôi khi là học sinh, các em sống trong gia đình bố mẹ không ham sách và kinh tế còn khó khăn, không đầu tư nhiều cho sách.

Khi lập tủ sách, tôi đã phải hàng ngày nói về lợi ích và sự thú vị của việc đọc sách, nhằm kích thích sự quan tâm hứng thú cho chúng. Tôi nói với chúng cả nửa năm, ban đầu chúng gạt ngay khi tôi đề xuất lập tủ sách, chúng nói bọn em không thích đọc, đọc sách mỏi mắt, không có hình ảnh chuyển động, em thích xem điện thoại hơn,…

Khi thuyết phục được hơn nửa lớp bắt đầu ủng hộ và hào hứng, tôi đã ôm 20 cuốn sách đầu tiên từ tủ sách nhà tôi để mang đến giới thiệu cho chúng, tôi giơ từng cuốn sách lên và nói sơ qua nội dung có trong cuốn sách cho chúng nghe. Sách tôi chọn mang đến gồm 10 cuốn sách danh nhân viết bằng tranh và 10 cuốn khác bằng chữ nhưng dạng sách tóm tắt, sách truyện ngắn để chúng nhìn ít chữ sẽ không ngại đọc. Sau đó tôi đưa chúng xem và đứng cạnh mỗi đứa vài phút để đọc cùng chúng.

Thực tế, có em đã đọc rất chăm chú, có em trở nên say sưa quên cả dùng điện thoại nhưng cũng có em cầm sách trước mặt tôi nhưng trong lòng sách lại một chiếc điện thoại đang mở.

Tôi đã phải rèn luyện và hướng dẫn chúng cách đọc, cách ghi chép những nội dung thú vị khi đọc sách. Mọi việc không dễ dàng. Đó là một hành trình dài liên tục để chúng có được thói quen đòi đọc sách sau nửa năm triển khai. Giờ đây, học sinh của tôi đã đạt khoảng 70% say sưa đọc khi được yêu cầu; khoảng 50% chủ động tự đọc. Và 30% vẫn phải o ép giám sát mới chịu đọc.

Qua việc khuyến đọc mà tôi đã thực hiện, tôi nhận thấy, có sách và chuyển sách vào tâm trí người đọc là việc không giống nhau. Mà khâu quan trọng nhất lại là khâu thứ hai.

Vì vậy, việc lập các tủ sách cộng đồng là chưa đủ. Cần xây dựng những người thổi lửa vào những tủ sách ấy hàng ngày bằng chính đam mê yêu sách của người đó, thì tủ sách cộng đồng mới có thể thành công.

Nếu không, nó sẽ lại trở thành một sự lãng phí giống các đề án giáo dục bất thành.

Viết bởi Tuy Lip đen

Tác giả là thạc sỹ toán học, hiện đang giảng dạy trong một trường trung học ở Hà Nội và là thành viên của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam

Nhà vật lý số 1 Trung Quốc nhảy lầu tự sát ở tuổi 55.

Nhà vật lý số 1 Trung Quốc Trương Thủ Thịnh nhảy lầu tự sát ở tuổi 55 ngày 1 tháng 12 năm 2018, cùng ngày với ngày Canada bắt công chúa gián điệp Huawei theo lệnh của Hoa Kỳ.

unnamed

Đọc tiếp “Nhà vật lý số 1 Trung Quốc nhảy lầu tự sát ở tuổi 55.”

Du học – Đi đi, đừng về !

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ hiện đang ở Việt Nam hè 2014. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.
Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’
Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’
Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?
Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy. Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’. Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

Theo Facebooker Lê Vi