Nguyễn Quang Duy – Chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng

Được BBC tiếng Việt phỏng vấn về bản chất tham nhũng tại Việt Nam kinh tế gia Bùi Kiến Thành cho biết trong thời kỳ kháng chiến, đời sống khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên không có tham nhũng.

Đến 30/4/1975 đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, vào miền Nam, tận mắt thấy xã hội tư sản, cán bộ cộng sản mới nảy sinh ham muốn nhà cao cửa rộng, cuộc sống xa hoa, nên:

“Đạo đức cách mạng đã bị phá vỡ, tinh thần và lối sống hưởng thụ đã ngự trị, tư tưởng chính trị suy thoáị, đạo đức dần dần phai nhạt…, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài.

Cách suy nghĩ của ông Bùi Kiến Thành làm người đọc dễ hiểu lầm về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và bản chất của chủ nghĩa (tự do) cá nhân.

Vì ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, ngày 6/9/1950 Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân trang Tổng cục Cung cấp đã bị xử bắn tại Thái Nguyên về tội tham nhũng:

“…Châu đã dùng quyền lực ‘ban phát’ ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp công quỹ, cứ mỗi cái màn cấp cho bộ đội Châu ăn bớt 2 tấc vải xô, nên bộ đội cứ ngồi lên là đầu chạm đình màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào, nhiều người biết đấy nhưng không dám ho he…”

Đó là phát súng đầu tiên mở màn phong trào Chỉnh Huấn Chỉnh Quân, sau đó trên báo Nhân Dân cũng xuất hiện khá nhiều bài chống tham ô lãng phí.

Sau khi tiếp thu miền Bắc các văn kiện Đại Hội đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ tệ nạn tham nhũng hoành hành tại miền Bắc Việt Nam.

Trong dân gian lưu truyền những câu ca dao về tệ nạn tham nhũng như:

“Mỗi người làm việc bằng hai / Để cho cán bộ mua đài, mua xe / Mỗi người làm việc bằng ba / Để cho chủ nhiệm xây nhà, lát sân”; hay

“Thủ kho to hơn thủ trưởng / Vào nhà thủ trưởng tưởng là kho / Nhà thủ kho to hơn nhà thủ trưởng.”

Như thế, tham nhũng và tư lợi đã có ngay khi đảng Cộng satn mới cầm quyền vì hệ thống cộng sản vận hành theo cách tóm thâu quyền lực và ban phát quyền lợi cho đảng viên trung thành.

Ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 đảng Cộng sản tước đoạt nhà cửa và tài sản của người dân miền Nam rồi phân chia cho cán bộ như chiến lợi phẩm chính là một hình thức ban phát quyền lợi hay thưởng công cho những đảng viên trung thành.

Đảng Cộng sản “hư thối” vì ai?

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành còn nhìn vào mặt trái của chủ nghĩa cá nhân đơn giản hóa vấn nạn tham nhũng bằng cách ví von:

“Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, tôi thấy, như đang là một thùng táo, mà trong đó đã có quá nhiều quả hư thối, nếu không dứt khoát loại bỏ, thì cả thùng sẽ bị tiêu diệt.

“Hay cũng như một quả mít trên cây, bị sâu chích thối hết một phần, nếu không kiên quyết cắt bỏ phần thối, thì cả trái sẽ thối hết và tự nó sẽ rụng, mà không cần đến một ‘thế lực phản động’ nào rung cây, phá hoại cả.”

Theo tôi nếu nhặt được các quả táo hư hay cắt bỏ được phần thối của quả mít mà giải quyết được tình trạng tham nhũng và vô số những tiêu cực khác thì đảng Cộng sản đã làm rồi không phải đợi đến ngày nay.

Ngày 8/3/2016 tại “Hội nghị tổng kết phòng chống tham nhũng và lãng phí” Thiếu tướng công an Phan Anh Minh cho biết theo Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị thì việc theo dõi và xét xử đảng viên là chuyện nội bộ của đảng Cộng sản:

“Công an không được quyền tổ chức trinh sát đảng viên nên không thể phát hiện được tham nhũng”.

Nên thực chất các cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả vụ Đại tá Trần Dụ Châu bị xử tử trong thời kháng chiến chống Pháp nói bên trên, chỉ là những cuộc thanh trừng nội bộ đảng Cộng sản.

 Văn hóa giả dối

Trong bài phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành có nhắc đến “đạo đức cách mạng” của hai nhân vật là “thần tượng” của ông Thành.

Thứ nhất là bà Nguyễn thị Bình, Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại Hội Đàm Paris, người mà trong một thời gian dài đã được đồn thổi là con gái của cụ Nguyễn An Ninh.

Cho đến mãi sau này khi con cháu cụ Nguyễn An Ninh lên tiếng bà Nguyễn thị Bình có tập kết ra Bắc nhưng không tham gia vào các hoạt động của cộng sản.

Lúc ấy mới có thông tin “chính thức” về người mà ông Thành nói đến tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa cháu kêu cụ Phan Chu Trinh là ông ngoại (không rõ thông tin này có thật không).

Nhân vật thứ hai là Hồ Chí Minh, những người như ông Hoàng Tùng, ông Đoàn Duy Thành, ông Bùi Tín và cả guồng máy của đảng Cộng sản trong một thời gian dài đã tạo ra nhiều huyền thoại khác nhau nhằm che đậy việc ông Hồ ra lệnh xử tử điền chủ Nguyễn thị Năm.

Nhờ những thông tin từ các huyền thoại tôi mới biết đến bà Nguyễn thị Năm và nhờ đó mới phát hiện bài “Địa chủ ác ghê” của C.B. (Của Bác) đăng trên báo Nhân Dân.

Tôi đã công bố tài liệu này trên trang talawas ngày 25/1/2007, trong bài viết ”Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất.

Đến năm 2014 qua tác phẩm “Đèn Cù” tác giả Trần Đĩnh, từng làm việc cho báo Nhân Dân, đã xác nhận bài “Địa chủ ác ghê” do chính ông Hồ viết.

Tác giả Trần Đĩnh còn cho biết: ông Hồ đã “che mặt, bịt râu” đến tham dự cuộc đấu tố và cuộc xử bắn bà Nguyễn thị Năm.

Tôi nhắc đến Cải cách ruộng đất vì nó đã tiêu diệt cả tầng lớp nho sĩ và trí thức tại miền Bắc, nó phá vỡ nền móng tín ngưỡng và văn hóa truyền thống Việt Nam, phá vỡ mọi nền tảng giúp giảm thiểu nạn tham nhũng tại miền Bắc trước đây.

Tự do cá nhân

Tôi có thể tự tin mà nói rằng miền Bắc đã được miền Nam giải phóng từ một xã hội đơn điệu từ cách ăn mặc, sinh hoạt đến cách suy nghĩ để ngày càng tự do và đa dạng hơn.

Ngày nay các ước muốn tự do cá nhân như tự do cư trú, đi lại, làm ăn buôn bán, đến việc riêng tư, ăn nói, thờ phụng và nhiều quyền tự do khác của người dân cả hai miền Bắc Nam đã không còn bị nhà cầm quyền cộng sản giới hạn hay cấm đoán như trước đây.

Nói rõ hơn là đảng Cộng sản không còn khả năng kiểm soát hay họ chỉ còn đủ năng lực tập trung vào việc kiểm soát chính trị và bảo vệ chế độ.

Người dân Việt và nhất là tầng lớp thanh niên sinh viên những người trẻ đã được thưởng thức trái ngọt của tự do cá nhân càng ngày càng tránh xa đảng Cộng sản, nên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải nhìn nhận tình trạng “chán Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” tại Việt Nam.

Nhưng vì thiếu tự do chính trị nên xã hội mới bộc phát những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, thiếu minh bạch trong thu chi tiền từ thiện, mê tín dị đoan và rất nhiều tật hư, thói xấu phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem sự liên đới giữa tự do cá nhân và tự do chính trị ra sao.

Tự do được phân loại thành tự do cá nhân (đã được kể ra ở phần trên) và tự do chính trị.

Tự do chính trị bao gồm các quyền lập hiến, quyền tự do bầu cử, ứng cử, lập đảng chính trị, đối lập, báo chí, ngôn luận, biểu tình… những quyền mà người Việt chưa có.

Tự do chính trị thường được gọi là tự do dân chủ vì nhờ đó mới có được một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.

Từ đó mới có được một hệ thống luật pháp công minh chống lại tham nhũng và những tiêu cực do tự do cá nhân gây ra.

Luật pháp công minh cũng giúp bảo vệ những quyền tự do cá nhân không để nhà nước hay nhân viên nhà nước lạm quyền hay tước quyền mà người dân đã giành được.

Đổi mới chính trị

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành có nhắc đến Đại hội VI (1986), một Đại Hội mà đảng Cộng sản đã phải công khai tuyên bố “đổi mới không thì chết”, sau đó chính Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Trần Xuân Bách đã phải nhìn nhận rằng thay đổi chính trị là điều tất nhiên:

“Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”

Trong khi một người cộng sản như ông Trần Xuân Bách nhìn nhận đảng Cộng sản phải thay đổi cả chính trị lẫn kinh tế, thì thành phần trí thức và chính trị gia Mỹ theo chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) và thành phần thiên cộng lại cổ vũ việc công nhận thể chế cộng sản và thương mãi tự do với các nước theo cộng sản.

Họ dựa trên một giả thuyết vô cùng đơn giản là khi Mỹ và các quốc gia Tây Phương mở cửa giao thương thì cộng sản sẽ có “thiện chí” tự thay đổi để chấp nhận tự do dân chủ.

Trên thực tế đảng Cộng sản Trung Hoa đã không nới lỏng tự do chính trị mà còn sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng bá chủ hoàn cầu.

Những sai lầm về mặt tư tưởng của chủ nghĩa tân tự do và toàn cầu hóa gây cho nước Mỹ ngày càng tụt hậu, công nhân mất việc, giới trẻ không có việc làm, xã hội phân hóa, chính trị rối ren, mất quyền kiểm soát các tổ chức quốc tế và lề luật chung cho toàn thế giới.

Hiện nay, tôi thấy Hà Nội một bên thì cậy nhờ Trung Quốc, bên kia thì dựa vào phía Mỹ để sống còn nên con đường đi tới của quốc gia đang bế tắc.

Trong 30 năm qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn phải vay mượn quốc tế mà chi tiêu với nhiều sai trái, lãng phí và tham nhũng, cứ xem vụ đường sắt Cát Linh – Hà Đông thì rõ.

Nay, đến lúc họ phải trả cả tiền vốn lẫn tiền lời, nên họ đang rơi vào tình trạng thiếu ngoại tệ để trả nợ.

Bị các chủ nợ quốc tế kiểm soát nên đảng Cộng sản không thể lộ liễu in tiền như thập niên 1980, dẫn đến tình trạng ngân sách cứu trợ đã công bố nhưng thiếu tiền mặt để chi và thiếu cả ngoại tệ để mua thuốc chủng ngừa Covid 19.

Khiến nhà cầm quyền phải lập Quỹ Vaccine phòng chống Covid-19 xin từ tiền quà sáng của đứa trẻ đến tiền hưu bổng của cụ già, điều này đã nói rõ thực trạng và thực lực của đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần có tự do chính trị

Theo ông Bùi Kiến Thành thì “Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, có thể coi như là một thứ virus nguy hiểm hơn cả Covid-19.”, nên tôi nhận thấy lối thoát là phải lấy tự do chính trị làm thuốc ngừa tham nhũng và các tiêu cực do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Nói đến tự do chính trị thì phải trở lại các điều mà Đảng Cộng sản sau này gạt bỏ, gồm quyền lập hiến và các quyền chính trị được ghi rõ trong Hiến Pháp năm 1946.

Các hiến pháp sau này chỉ là những bản sao các Cương lĩnh của đảng Cộng sản, đều đã không được mang ra trưng cầu dân ý, vì thế muốn giải quyết những bế tắc tại Việt Nam thì phải bắt đầu lại từ đầu.

Người dân Việt trong và ngoài nước phải giành lại quyền lập hiến, bầu lên một Quốc Hội Lập Hiến, soạn một Hiến Pháp, xây dựng một thể chế tam quyền phân lập, soạn ra những điều luật mới chống tham nhũng và chống lại mọi tiêu cực xã hội do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Đây là con đường duy nhất để có thể đưa đất nước Việt Nam đến tự do, dân chủ, giàu mạnh, bảo toàn chủ quyền quốc gia.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

16/6/2021

Xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra chương trình đào tạo nghề nghiệp theo hướng “phát triển năng lực người học” như thế nào?

Theo Facebook Đặng Phước

Note: đầu năm học 2020 – 2021, trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk có công văn đề nghị các khoa, phòng ban chức năng rà soát lại lại chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành giáo dục mầm non. Chúng tôi được khoa phân công đọc và rà soát lại toàn bộ nội dung chương trình sau đó đã góp ý chỉnh sửa mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, số lượng tín chỉ, phân phối chương trình, thời lượng cho các module mà chúng tôi đảm nhận … Tuy nhiên, hội đồng khoa học nhà trường dưới sự chủ trì của ông hiệu trưởng Nguyễn Trọng Hòa đã bác bỏ tất cả.

Vừa qua, tại hội nghị khoa GDMN bàn việc thống nhất chương trình đào tạo liên thông từ hệ Trung cấp Sư phạm mầm non lên cao đẳng sư phạm mầm non. Sau khi rà soát lại 2 chương trình đào tạo, chúng tôi phát hiện có tình trạng bất cập đó là một số môn học ở hệ trung cấp sư phạm Mầm non có nội dung và thời lượng lớn hơn chương trình cao đẳng sư phạm mầm non hiện hành.

Tại cuộc hội thảo, sau khi được nghe các ý kiến của các tổ chuyên môn, bà phó hiệu trưởng Vũ Thị Thanh Hiển và ông Lê Văn Huy -phó trưởng phòng đào tạo – quản lý khoa học đã thống nhất sẽ đề nghị nhà trường rà soát lại toàn bộ chương trình nhằm đảm bảo tính khoa học, đạt mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra đáp ứng được yêu cầu nhân lực ngành Mầm non cho xã hội.

Để đảm bảo tính pháp lý, sau khi tôi nhận được quyết định ban hành chương trình đào tạo hệ CĐSP ngành GDMN năm học 2020-2021 của ông hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, hôm nay tôi đăng lại toàn bộ bản góp ý của nhóm giảng viên Nhà trường đã quan tâm đến chất lượng đào tạo để rộng đường dư luận.

Văn bản này chúng tôi đã gửi cho hội đồng khoa học vào ngày 26 tháng 8 năm 2020, tuy nhiên ngoài việc không tiếp thu, chúng tôi không được nhà trường phản hồi.

Sau đây là toàn bộ nội dung văn bản góp ý:

1/ Đặt vấn đề:

Xây dựng chương trình đào tạo của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp tức là lập kế hoạch nhằm đào tạo người lao động đáp ứng các chuẩn mực nhu cầu của xã hội. vì thế, việc đặt mục tiêu đào tạo, công bố chuẩn đầu ra là một việc làm mang tính khoa học, chính xác.

2/cơ sở khoa học:

2.1 Khái niệm cơ bản về mục tiêu đào tạo:

+Mục tiêu đào tạo là một “tuyên bố chính xác” những gì mà người học có thể làm được sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Hay nói cách khác, mục tiêu đào tạo “vừa là đích đến vừa là thước đo các giá trị” mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp.

+Mục tiêu đào tạo còn định hướng người dạy lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp đồng thời xác định công cụ đánh giá các kết quả học tập của người học.

Trên cơ sở đó, mục tiêu đào tạo phải được diễn đạt bằng những động từ có thể xác định và đo đạc được, cần tránh những từ chung chung mơ hồ như: “nắm được”, “hiểu được” , “nhớ được”…

2.2 Ý nghĩa việc xây dựng chương trình theo hướng phát triển năng lực người học

Hiện nay, ngành GD&ĐT Việt Nam đang chủ trương đào tạo lao động theo hướng phát triển năng lực, vì thế việc xây dựng mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được khuyến khích sử dụng thang nhận thức Bloom theo sáu mức độ: 1. Nhớ (Remembering); 2. Hiểu (Understanding); 3. Vận dụng (Applying); 4. Phân tích (Analyzing); 5. Tổng hợp (Synthesizing); 6. Đánh giá (Evaluating)

Để áp dụng thang Bloom vào xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo , khi áp dụng 6 cấp độ nhận thức, người ta thường sử dụng các động từ mà người học sẽ chủ động thực hiện được sau khi chiếm lĩnh được nội dung đào tạo, các từ khóa theo cấp độ nhận thức được sử dụng đó là:

1. Nhớ: Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Nêu, gọi tên, nhận diện, nhắc lại, liệt kê…

2. Hiểu: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: trình bày, mô tả, Giải thích, Phân biệt, Khái quát hóa, Cho ví dụ, So sánh…

3. Vận dụng: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Vận dụng, Áp dụng, Tính toán, Chứng minh, Giải thích, Xây dựng…

4. Phân tích: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Phân tích, Lý giải, So sánh, Lập biểu đồ, Phân biệt, Hệ thống hóa…

5. Tổng hợp: Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Thiết lập, Tổng hợp, Xây dựng, Thiết kế, Đề xuất, báo cáo, so sánh, sáng tác, tổ chức,….

6. Đánh giá:  Các từ khóa đánh giá cấp độ nhận thức này là: Đánh giá, Cho ý kiến, Bình luận, phê bình, tranh luận, lập luận, lựa chọn, ước tính, định giá…

3/Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình của các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hiện nay:

3.1. Các căn cứ xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học:

Thời gian qua, Bộ GD&ĐT tổ chức tập huấn trong công tác xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn đào tạo mới ban hành tại Quyết định Số: 17/VBHN-BGDĐT, ngày 15 tháng 5 năm 2014, trong đó tại Khoản 1, Điều 2 Quyết định này có nêu: “Chương trình đào tạo cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình” (Hết trích)

Tuy nhiên, hiện một số cơ sở đào tạo xây dựng chương trình đào tạo theo kiểu chắp vá, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” nên việc đặt ra mục tiêu đào tạo một cách mơ hồ, không xác định được

3.2. Thực trạng xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo của nhà trường

3.2.1 Về mục tiêu:

Theo chúng tôi, mục tiêu đào tạo theo dự thảo đề cương là chưa phù hợp bởi:

a/ Mục tiêu còn dùng những động từ mơ hồ, không xác định, không thể dùng công cụ để đánh giá được “hiểu”; “nắm”:

Ví dụ:

*Mục tiêu chung:

“Đào tạo cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; có hiểu biết cơ bản và hệ thống về sự phát triển của trẻ; tổ chức và phát triển chương trình giáo dục mầm non hiệu quả; có năng lực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn giáo dục mầm non”

*Mục tiêu cụ thể

+ Về kiến thức:

PO1: Hiểu biết về kiến thức giáo dục đại cương để vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GDMN.

PO2: Nắm vững hệ thống kiến thức khoa học GDMN để thực hiện tốt công tác chuyên môn.

PO3: Hiểu biết đầy đủ về mục tiêu, nội dung chương trình GDMN, phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục và sự phát triển của trẻ em ở các cơ sở GDMN.

PO4: Áp dụng có hiệu quả kiến thức khoa học GDMN vào việc tổ chức và đánh giá các hoạt động giáo dục trẻ các đối tượng khác nhau bao gồm cả trẻ dân tộc thiểu số, trẻ có nhu cầu đặc biệt ở tất cả các nhóm tuổi, các loại hình trường, lớp mầm non.”

+ Về kỹ năng:

PO5: Lập kế hoạch định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân và điều kiện thực tế.

PO6: Tổ chức, thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Quan sát, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ; đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kế hoạch giáo dục; phân tích và đánh giá hiệu quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Giao tiếp với trẻ; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển và học tập của trẻ; hợp tác và giao tiếp với đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng trong hoạt động giáo dục; tuyên tuyền khoa học giáo dục, vận động xã hội hóa GDMN” (Hết trích)

b/ Đề xuất sửa chữa mục tiêu phù hợp theo hướng phát triển năng lực người học:

*Mục tiêu chung:

Sinh viên cử nhân cao đẳng ngành giáo dục mầm non sau khi tốt nghiệp đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ có đầy đủ năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, áp dụng được một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chương trình đào tạo vào thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi một cách khoa học, hiệu quả. Tích cực nghiên cứu khoa học nhằm cải tiến các biện pháp, phương pháp dạy học nâng cao chất lượng công tác giáo dục mầm non

*Mục tiêu cụ thể:

PO1: Trình bày được khái quát về các kiến thức giáo dục đại cương; áp dụng các kiến thức đó một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn giáo dục mầm non

PO2: Áp dụng được hệ thống kiến thức khoa học của ngành giáo dục mầm non trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ

PO3: khái quát được mục tiêu, nội dung chương trình, Phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục mầm non tại các cơ sở giáo dục mầm non.

PO4: Áp dụng được các kiến thức khoa học giáo dục mầm non vào hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đối với các đối tượng khác biệt như dân tộc, vùng miền, độ tuổi, đặc điểm bẩm sinh di truyền…khi được giáo dục trong các loại hình trường lớp mầm non khác nhau.

Về kỹ năng:

PO5: Có kỹ năng lập kế hoạch(năm,tháng, chủ đề, học kỳ…) nhằm định hướng phát triển và giáo dục trẻ phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân theo điều kiện thực tế.

PO6: Có kỹ năng thực hiện kế hoạch giáo dục một cách khoa học (thiết kế các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn và sử dụng hợp lý các học liệu, phương pháp giáo dục-dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ).

PO7: Có kỹ năng quan sát có chủ đích, tìm hiểu và đánh giá mức độ phát triển của trẻ, làm chủ được cảm xúc bản thân trong hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch giáo dục, kết quả công việc của đồng nghiệp và bản thân.

PO8: Có kỹ năng giao tiếp sư phạm, tham gia nghiên cứu khoa học đồng thời áp dụng các kiến thức khoa học giáo dục nhằm tuyên tuyền, vận động xã hội hóa GDMN

PO9: Có kỹ năng hát, múa, thể dục thể thao và làm được các sản phẩm tạo hình phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. ( “PO9”- chúng tôi đề xuất thêm)

3.2.2 Về Chuẩn đầu ra

a/ Các mục chưa phù hợp:

PLO1: Nội dung chung chung, chưa cụ thể hóa:“Có khả năng vận dụng được kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính trị, khoa học tự nhiên vào thực tiễn GDMN”

PLO4: mơ hồ không xây dựng được thang giá trị làm công cụ đánh giá:

“Hiểu và vận dụng được kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành vào hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

PLO1: Áp dụng được các kiến thức khoa học cơ bản vào thực tiễn GDMN

PLO4: khái quát hóa và áp dụng được hệ thống kiến thức cơ sở ngành giáo dục, chuyên ngành mầm non vào các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non các lứa tuổi

3.2.3. Về phần “chuẩn bị của giảng viên” :

a/ Các nội dung chưa phù hợp:

Phần này trong bảng mô tả chỉ nêu chung chung, không cụ thể gây khó khăn cho ban giám hiệu nhà trường đặt ra tiêu chí tuyển chọn giảng viên, cụ thể:

Chẳng hạn, ý thứ nhất “Trang bị những kinh nghiệm dạy học khác nhau” Viết như thế là rất mơ hồ, không cụ thể

Theo chúng tôi nên thay thế tiêu đề này bằng tên gọi “Yêu cầu giảng viên”

b/Đề xuất chỉnh sửa:

*Yêu cầu của giảng viên

1/ Có trình độ chuẩn thạc sỹ ngành sư phạm trở lên đối với các chuyên ngành khoa học đại cương; trình độ cử nhân sư phạm trở lên đối với các ngành học thuộc các chuyên ngành năng khiếu như âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục thể chất.

2/Khảo sát nhằm xác định, đánh giá một cách toàn diện các dạng học phần mà giảng viên tham gia giảng dạy.

3/Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tương tác sư phạm một cách hiệu quả trong quá trình tổ chức dạy học

4/khảo sát và xác định được đặc điểm các đối tượng sinh viên trong lớp học mà mình phụ trách

5/nghiên cứu áp dụng đầy đủ các quy chế của ngành giáo dục đối với sinh viên trong quá trình dạy học

6/Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dạy học bao gồm: giáo trình, bài giảng, đề cương chi tiết học phần… Thông báo kịp thời cho sinh viên về lịch trình, kế hoạch dạy học để cùng phối hợp một cách hiệu quả.

4/Kết luận:

Việc xây dựng và chỉnh sửa mục tiêu, chuẩn đầu ra của đề cương theo hướng phát triển năng lực người học đồng thời xác định yêu cầu của giảng viên, sinh viên trong thực hiện qui trình đào tạo là một việc làm khoa học mang tính khách quan và thường xuyên nhằm hướng đến cung cấp cho xã hội sản phẩm do nhà trường đào tạo một cách tốt nhất, được thị trường lao động chấp nhận là nhiệm vụ chính trị sống còn của nhà trường!

Trên tinh thần đó chúng tôi mạnh dạn góp ý, đề xuất với Hội đồng khoa học và Hiệu trưởng nhà trường xem xét điều chỉnh cho phù hợp với quan điểm đào tạo hiện nay!

Nhóm GV thực hiện: Đặng Đăng Phước – Xuân Thái Tuấn – Nguyễn Văn Vinh

Cái “tâm” của giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết đã từng là đại biểu quốc hội nhiều nhiệm kỳ. Ông chính là tổng chủ biên kiêm chủ biên sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 theo chương trình mới đang áp dụng gồm 23 đầu sách hiện nay

Status của GS. Thuyết và bài tập đọc “Hai con ngựa”

Theo nhóm biên soạn sách Lớp 1 cho rằng đây là bộ sách tốt nhất (?) Vậy mà tại sao ông lại để cho cháu nội ông đi học bậc tiểu học tận bên Singapore xa xôi? Làm sách giáo khoa ra chỉ để dạy con cháu người khác mà không dạy cho cháu mình thì có khác nào người trồng rau, nuôi heo, nuôi gà… chỉ để bán chứ không ăn sản phẩm do mình làm ra? Đó là điều mà các bậc phụ huynh muốn chất vấn ông!

Thử đọc một trang sách Tiếng Việt 1, có câu chuyện “Hai con ngựa” thì thấy rằng chuyện phỏng theo truyện của nhà văn Lép Tôn-Xtôi nhưng đã thay đổi nội dung làm sai lạc mục đích và ý nghĩa cốt truyện, đó là điều đáng nói.

Không biết chủ ý của nhóm tác giả thế nào, nhưng theo tôi, với cách dạy này sẽ làm cho trẻ nhận thức lệch lạc đó là:

1/ Trong xã hội luôn có giai cấp áp bức bóc lột độc ác (Bác nông dân)

2/kẻ bị bóc lột (ngựa) phải biết so đo, tính toán, gian xảo để đối phó với người đã nuôi mình.

Cách dạy này chỉ có thể hình thành nhân cách trẻ lưu manh, lọc lừa mà thôi!

Đặng Phước

“Âm và chữ: a, b, c” hay “Tên chữ và mặt chữ: a, b, c”?

[“Âm và chữ: a, b, c” hay “Tên chữ và mặt chữ: a, b, c”?]
Từng nghe có sự nhầm lẫn giữa âm và chữ.
Liệu “/ei/, /bi/, /si/” là âm hay tên chữ của “a, b, c”? Biết rằng chữ “a” đại diện cho âm /a:/ trong từ “glass” nhưng đại diện cho âm /e/ trong từ “care”.
Nói cách khác, một mặt chữ có thể đại diện cho nhiều âm. Ngược lại, một âm cũng có thể được đại diện bởi nhiều mặt chữ. Và mỗi chữ cái trong bảng chữ cái đều có một tên chữ.
Như vậy,  “/ei/, /bi/, /si/” là tên chữ của “a, b, c”.
Để tránh sự nhầm lẫn giữa âm và chữ, cần phân biệt chữ cái và tên chữ:
– Chữ cái: là ký tự của một hệ thống chữ viết dựa trên bảng chữ cái và mang đậm tính gợi nhớ đến âm.
– Tên chữ: là tên gọi của chữ cái và cũng mang đậm tính gợi nhớ đến âm.
* Ghi chú:
– Ký tự là ký hiệu trong một tập hợp thống nhất.
– Âm tức là âm vị. Âm vị là một nhóm các đặc điểm chung của tập hợp gồm vô số các âm tố sao cho có thể phân biệt về mặt ngữ nghĩa.
Nguyễn Tự Quyết Thắng

Đại học tinh hoa, nên và không nên

Nghe bảo Việt Nam sắp có đại học tinh hoa, xin kể câu chuyện như sau:

Ở khoa văn học của tôi, có ông thầy dạy văn học cổ điển, hay bắt chẹt sinh viên. Ông hỏi sinh viên định nghĩa Văn là gì. Không đứa nào trả lời được. Rồi ông bảo Văn là vẻ đẹp. Sinh viên đứa nào đứa nấy tin cho sái cổ, ai còn nghi ngờ gì. Sau này, tôi về nhà lục lại tài liệu của đại học Văn khoa Sài Gòn, thì mới thấy ông thầy khoa mình dạy sai. Vẻ đẹp đã có chữ “Mỹ” rồi, thế thì cổ nhân không dùng chữ “Văn” để chỉ vẻ đẹp nữa. Tôi không muốn chê thầy dốt, nhưng thực tình là ngày nay ngành văn cũng đã biến thành ngành tiêu thụ, giảng viên được đào tạo qua loa. Ngành văn học, giáo sư cao cấp mà còn như thế, thì những trường như sư phạm văn không biết còn thế nào.

Chữ Văn là 文 , phần trên hình mái nhà, phần dưới hình chư Nghệ, trong đó có sự giao nhau giữa nét sổ trời và nét mác đất. Trong bản thân chữ Văn đã hàm tàng một nền triết lý: Nhân giả kỳ thiên địa chi đức- Âm dương chi giao- Qủy thần chi hội. Để giải nghĩa được chữ ấy phải là triết gia. Đại học không đào tạo ngành văn thì không thể gọi là đại học tinh hoa. Mà trong các trường có đào tạo ngành văn thì cũng không trường nào có giáo sư được học kinh điển dân tộc, do đó trong vòng 10 năm tới, Việt Nam khó mà có dược đại học tinh hoa.

Trở lại chuyện danh hiệu tinh hoa, ưu tú. Nếu gọi người này là tinh hoa thì tức là đang coi người kia là cỏ rác. Xã hội đang chia rẽ, vũ trụ đang vỡ lở từng phần, phân loại người như vậy có khác nào chọn lọc một lần nữa.

Một cách chân tình, thì chúng tôi khuyên các bạn Vin Group đừng nên gọi đại học của mình là đại học tinh hoa. Các báo như VTC news, Zing…thì ca tụng, ăn tiền quảng cáo, mà không biết truyền thông hời hợt phá hoại nhân tâm. Trong xã hội, mỗi người một nghề, anh làm bác sỹ, chị làm kỹ sư, còn tôi là thợ mộc, chỉ là sự phân công lao động, đừng làm quá lên.

Theo học, càng theo càng nhiều, theo đạo, càng theo càng ít.

Còn nếu muốn tiếp tục phân chia, thì đây là lời giải.

Triết, Văn là ngành khởi nguyên. Các ngành khác: toán, lý, hóa, sinh, tin, luật khoa, y khoa chỉ là những khoa thuộc về tiêu thụ. Trường đại học của Vin Group chỉ đào tạo những ngành tiêu thụ, không đào tạo ngành khởi nguyên, tư cách đâu mà xưng là tinh hoa?

Ngoài Hà Nội, có những giáo sư đã biết tầm quan trọng của văn khoa. Ông Nguyễn Lê Anh, giáo sư toán học nói rằng toán chỉ là một biến thể của văn, giải toán thực ra là làm văn.

Hiện nay, chưa thấy có tài liệu nào phân tích, chiết tự được chữ “Đại học” là gì. Do đó, nếu một người xưng mình là hiệu trưởng trường đại học tinh hoa, thì người đó phải chiết tự cho được nghĩa của từ “đại học”. “University” dịch ra là “đại học” chỉ là một cách dịch vội vàng, chỉ dịch tiêu thụ.

Các trường ở Việt Nam hiện nay, dùng chữ “cao đẳng” thì đúng và hợp lý hơn là chữ “đại học”. Ai đã học sách “Đại học” rồi đều thấy nghĩa của chữ “Đại học” cao siêu hơn chữ “University” quá nhiều. Nói thật, tôi khinh những người biết nhiều thứ tiếng, vì họ đã dịch láo rất nhiều từ, dân không biết tiếng thì cứ tưởng là họ giỏi, ghi theo.

Tiếng Việt khác với tất cả mọi thứ tiếng khác trên thế giới. Đó là Vấn đề linh tự. Nếu không phải là thành viên của “linh tộc” thì không hiểu được linh tự ấy. Nhiều hiệu trưởng, hiệu phó không đọc được linh tự, hàng ngày nói năng nhưng không biết mình nói gì. Khi họ chia xã hội ra người tinh hoa và người không tinh hoa, thì lập tức những người thuộc linh tộc sẽ lên tiếng. Về vấn đề linh tự, mời xem Đào Mộng Nam làm rất hay và rất triết.

Định nghĩa sai về tinh hoa sẽ dẫn đến tình trạng như ngày hôm nay. Thà đừng có định nghĩa. Triết Việt- triết An Vi lấy con người làm trung điểm của học vấn, lấy sự sống làm tiêu chuẩn cho chân lý. Sau đây là định nghĩa Tinh hoa mà triết lý An Vi nêu ra:

Người học giỏi là người biết cách giành được sự sống.
Người làm giỏi là người hành động để giành được sự sống.

Sài Gòn, ngày 7 tháng 11 năm 2019.
Tôn Phi – một con người.
Liên lạc tác giả: tonphi40@gmail.com

Nhắn với ông Nguyễn Gia Kiểng: Nữ Oa, Phục Hy là người Việt

 

 

Ông Nguyễn Gia Kiểng và logo của Tập hợp dân chủ đa nguyên. Ảnh tư liệu

Nữ Oa, Phục Hy là người Việt, văn minh nông nghiệp. Người Hoa từ phương Bắc tràn xuống, là dân du mục nên lnghèo ký ức, lấy luôn Nữ Oa- Phục Hy làm tổ của họ, còn cố ép cho Hoàng Đế dạy cho dân mọi món nông nghiệp. Hỏi, một người thì làm sao biết mọi món nông nghiệp mà dạy dân, và hơn nữa, người giỏi du mục như ông Hoàng Đế thì sẽ dạy dân du mục săn bắn chứ không đủ chuyên môn để dạy dân nông nghiệp.

Năm 2019, tại giảng đường khoa Văn học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (đúng hơn là đại học Văn khoa Sài Gòn), phó giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Công Lý khẳng định rằng: Nữ Oa, Phục Hy là người Việt.

Không thể nói Nữ Oa, Phục Hi là người Hoa như Nguyễn Gia Kiểng nói. Hoặc là, ông Kiểng phải trưng ra bằng chứng Phục Hi là người Hoa, điều ông không thể làm được. Hội đồng quốc dân nguyên lão của Việt Nam chưa hề có thông báo nào bảo rằng Phục Hy là người Hán-Mông. Phục Hy chính là một người Việt.

Trước đó, giáo sư triết khoa Lương Kim Định chứng minh rằng Nữ Oa- Phục Hy là người Việt. Gần đây, còn có những bằng chứng về ADN hiện đại củng cố thêm thuyết của Lương Kim Định. Ông Nguyễn Gia Kiểng nên bổ sung thông tin này cho bạn đọc, hoặc là thu hồi sách Tô quốc ăn năn, như công ty Toyota của Nhật thu hồi các sản phẩm xe hơi bị lỗi.

Trong cuốn Tổ quốc ăn năn, ông Nguyễn Gia Kiểng viết: “Nho giáo là một hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu cũng như các vua chư hầu”. Xin thưa với ông Nguyễn Gia Kiểng rằng, hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu cũng như các vua chư hầu là Pháp gia. Khổng Tử là một nhà cách mạng, vua độc tài rất ghét ông, đời nhà Tần chôn sống những Nho sĩ chân chính, là đệ tử của ông. Nguyễn Gia Kiểng kéo theo cả Tập hợp dân chủ đa nguyên hiểu sai về triết Nho, một thứ triết cao viễn nhất mà nhân loại có thể nghĩ ra được. (Không tính những thuyết từ bên trên, bên ngoài con người ụp vào).

Nguyễn Gia Kiểng viết: ” Chữ “Nho” trong tiếng Trung Quốc gồm một chữ “Nhân”, có nghĩa là người, bên cạnh một chữ “Nhu”, có nghĩa là cần thiết. Như vậy “nho” có nghĩa là người cần thiết để giúp các vua chúa trị nước. Cần hiểu rõ như vậy để đừng ngộ nhận coi Nho Giáo là một triết lý. Nho Giáo chỉ là sự giảng dạy những đức tính và kiến thức phải có để được chọn ra làm quan ; nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là một chương trình đào tạo công chức.” Đây là một sự gian lận học thuật, Nguyễn Gia Kiểng đánh lừa những người không học chữ tượng hình: Chữ Hán ( tạm sử dụng danh hiệu này) ghi Nho là 儒 , bao gồm bên trái là bộ Nhân đứng (亻) , bên phải chữ Nhu 需 . Nhu có nghĩa là chờ đợi. Trong chữ Nhu ( chờ đợi) lại có bộ Vũ (雨 ) nghĩa là Mưa. Vậy Nho có nghĩa là người đang đứng đợi mưa. Bản thân Khổng Tử cũng chờ một đạo, sáng nghe rồi tối chết cũng cam lòng, gọi là “triêu văn đạo”.

Tiếp theo, Phục Hi không phải là thầy bói. Phục Hi là triết gia. Triết là tổng chỉ huy của mọi ngành trong xã hội, là tổng công an chống lại những điều quá đáng. Việc xuất hiện các thầy bói khoác áo Nho gia sau này giống như việc các đạo sĩ bảo mình là đệ tử của Lão Tử. Lão Tử không dạy cho làm thuật, Lão Tử chỉ làm triết lý mà thôi và sau này triết lý bị đốc ra tôn giáo. Nguyễn Gia Kiểng nói Phục Hi là thầy bói là nói liều, nếu hiểu sâu về Dịch Kinh mới biết đó là triết lý chứ không phải là bói toán thường nghiệm.

Ông Kiểng viết: “Đối với Nho Giáo, Khổng Tử không sáng tác gì cả. Đóng góp của ông không đáng kể so với Mạnh Tử…” Người đời tưởng thầy Mạnh giỏi hơn thầy Khổng, hỏi thầy Mạnh thì thầy Mạnh trả lời rằng thầy Khổng giỏi hơn (Tự hữu sinh dân dĩ lai, vị hữu Khổng Tử- Tự ngày có người về sau chưa có ai giỏi hơn Khổng Tử).

Về thái độ với vua, Khổng kính trọng, nhưng lúc vua hoang đàng thì theo Khổng, giết một hôn quân cũng giống như giết một tên lê dân. Trong Kinh Thư thậm chí Khổng còn chép đoạn ông Thành Thang diệt vua Trụ với niềm phấn khích. Đang khi đó, ở bên Tây, giết vua bị coi như phạm thánh. Nguyễn Gia Kiểng bảo “Nho giáo vẫn là một hệ thống ý thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ và bất dung”. Điều này chưa có chứng minh. Người đời nghe nói: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Khổng không nói vậy, đừng có đổ cho Khổng. Khổng nói: “Quân tử thời trung”.

Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tôn trọng ông Nguyễn Gia Kiểng trong việc xây dựng được nhiều viện cô nhi (nhà cho trẻ mồ côi) ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi không chấp nhận việc ông Kiểng chỉ trích triết Việt khi không đưa ra được những dẫn chứng khoa học. Nhận xét về triết Khổng- triết Nữ Oa-Phục Hy sai lầm là giết chết hồn Việt tộc. Như vậy chẳng khác gì đảng cộng sản Trung Quốc nói rằng: “Khổng Khâu nghiết phẫn chi học”, nghĩa là cái học của Khổng Tử là cái học ăn cứt. Vì sao vậy? Vì Khổng giáo dục cho con cháu yêu mến ông bà, mà như thế thì làm sao Mao Trạch Đông làm được cải cách ruộng đất giết địa chủ, bắt con cháu đấu tố ông bà cho đến chết cho được? Người mà các bạn muốn chửi là Pháp gia, các bạn chửi lộn sang ông cha của mình.

Các tổ chức đưa lại tin như Nhật Ký Yêu nước hay Trịnh Hữu Long-Luật khoa Tạp Chí thì chúng tôi không yêu cầu trả lời bởi đây chỉ là những tổ chức truyền thông bề mặt, thấy bậc cha chú như ông Kiểng nói thì liền tin ngay, chưa hề qua kiểm chứng, chưa hề đối chiếu tư liệu gốc. Nhưng chúng tôi sẽ gửi bài này đến nguồn phát ra bài luận của ông Nguyễn Gia Kiểng. Yêu cầu tác giả sách Tổ quốc ăn năn, tác giả Nguyễn Gia Kiểng và Tập hợp dân chủ đa nguyên hồi âm.

Đính kèm: Bản đồ của Liên bang Bách Việt.

70508040_385703392308072_9075070191968190464_n.jpg
Sài Gòn, ngày 04 tháng 10 năm 2019.
Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Email liên lạc: nghiepdoansinhvien@gmail.com

Từ “Văn Lang”, “văn hiến” có nghĩa là gì?

Từ cách đây một năm, tôi có ý định viết bài báo thật đậm, giải thích cho bạn đọc “văn lang” và “văn hiến” nghĩa là gì.

Văn làng là nước những người có văn hiến hay là nước những người có tục xăm trổ mình?

Đọc tiếp “Từ “Văn Lang”, “văn hiến” có nghĩa là gì?”

Xét phong chức danh giáo sư, chuyện mắc cười ở Đại học Quốc gia!

Võ Tấn Trường- sinh viên đại học Luật Sài Gòn gửi đến Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Xét phong chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư ở Việt Nam rất là mắc cười. Về bản chất, xét Phó giáo sư và giáo sư là ghi nhận các đóng góp của nhà giáo đối với sự nghiệp giảng dạy, để công bằng thì người ta đưa ra bản tiêu chí để xét, đáp ứng đủ thì được công nhận. Lẽ ra cơ quan quản lý phải nắm được toàn bộ dữ liệu để hàng năm rà soát thấy ứng viên nào đủ tiêu chí thì ra quyết định công nhận. Đằng này lại lập ra cái Hội đồng chức danh để xét, còn ứng viên thì như kiểu đi xin, Hội đồng thấy không ok thì chú ôm hồ sơ về sang năm tính. Thành ra miệng hô hào bỏ cơ chế xin-cho nhưng ngay từ khâu này mà không “xin” thì các bác lại không “tín nhiệm”.

WhatsApp Image 2019-09-01 at 09.35.23.jpeg

Vậy mới có cái chuyện mắc cười ở Đại học Quốc gia!

– Ứng viên vượt và thừa tiêu chuẩn nhận chức danh
– Hội đồng đánh trượt.
– Ứng viên khiếu nại
– Hội đồng sau khi họp và xem xét đơn khiếu nại trả lời: nguyên nhân trượt là do…Hội đồng đánh trượt.

…Bởi vậy, ứng viên nào mà ngây thơ nghĩ rằng mình đủ tiêu chí là yên tâm sẽ được xét thì out ngay. Đủ tiêu chí là cái cần thôi, còn muốn đủ thì phải …..à mà thôi, không nói thì ai cũng biết!!!! Ahihi

 

Chữ “nhân dân” có nghĩa là gì?

Hầu hết các thầy giáo, cô giáo không hiểu ý nghĩa của hai chữ “nhân dân”. Sinh viên ngành văn học, ngành Hán-Nôm còn không biết thì các ngành khác không thể biết được. Không biết thì sẽ sử dụng bừa bãi, và dẫn đến những hiểm họa mà chúng tôi sẽ phân tích cụ thể trong bài viết sau đây.

“Nhân”là vị trí của con người trong vũ trụ, “Dân” là vị trí con người trong xã hội.

Trước hết, cần tra từ nguyên của “nhân dân” 仁 民

Chữ nhân- nghĩa là người có nhiều cách viết. 人cũng là nhân mà 仁 cũng là nhân. Tại sao tổ tiên người Việt viết nhân dân là 仁 民 chứ không viết là 人 民 cho nhanh, tiết kiệm mực?

“Nhân” trong “nhân dân” viết gồm 2 bộ: bộ 人 là người ( nhơn) đứng bên trái và hai nét gạch ngang chồng lên nhau ở bên phải. Hai nét gạch ngang đó, một nét tượng trưng cho Trời, một nét tượng trưng cho Đất. Nhân như vậy là con người ở trong Trời Đất, có quan hệ với Trời và với Đất. Tức là một tài trong tam tài.

Với nghĩa nguyên bản của chữ “nhân dân”, mọi người đều là con của Trời, đứng trên Đất. Trước khi định ăn trộm một món hàng, tôi cũng thấy xấu hổ, vì tôi là con của Trời, nên tôi sẽ không ăn trộm nữa. Nhưng khi nghĩa từ “nhân dân” đã mất, thì tôi cô độc trong vũ trụ, ăn trộm ăn cắp chẳng xấu hổ với ai cả. Ví dụ, một số quan chức Trung Quốc cướp đất của dân nghèo không còn xấu hổ, vì với họ đã không còn có ông Trời.

Thuyết duy vật cố tình dùng hiểu sai nghĩa của từ nhân dân, chỉ dùng chữ 人 không có hai nét Trời Đất đứng bên, nghĩa là con người cô độc, không cần biết gì đến Trời Đất, Thượng Đế, chỉ biết có mình. Bằng cách phá hoại ngôn ngữ, họ phá hoại luôn cả đời sống. Khi con người không nhận thức được mối liên hệ của mình với vũ trụ, con người dễ dàng buông bỏ nhân phẩm, và văn hóa cả xã hội sẽ bại hoại. Đó là mục tiêu của những kẻ chế ra thuyết duy vật.

Ngày nay, kể cả nhiều cô giáo dạy văn ở Việt Nam, Trung Quốc cũng dùng bừa bãi chữ “nhân dân”, tưởng nó là đám đông tập hợp lại trong một nước. Cũng không thể trách các cô được, vì những kẻ phá hoại ngôn ngữ dân tộc thì quá tinh vi và không lộ mặt, lúc học trong trường Sư phạm thì các cô giáo không được học hành đến nơi.

Kể cả cán bộ của thuyết duy vật cũng không hiểu ý nghĩa của từ “Nhân dân”. Ai thừa nhận từ “nhân dân” thì tức là đã thừa nhận triết lý tam tài rất cân đối của Việt tộc, tức là đã thừa nhận cờ vàng ba sọc đỏ, mỗi sọc tượng trưng cho một tài. Nếu chấp nhận sử dụng chữ “nhân dân” thì đồng nghĩa với việc người đó chấp nhận thuyết tam tài của dân tộc, và do đó chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ. Cũng buồn cười, nhiều người vừa rao truyền thuyết vô thần, vừa tung hô thuyết tam tài, đầy mâu thuẫn mà không biết ngôn từ của mình mâu thuẫn với chủ thuyết của mình. Người ta nói ngu si cộng nhiệt tình bằng phá hoại là như vậy.

Chúng tôi thấy nhiều biên tập viên của các trang như “Nhật ký yêu nước”, thậm chí của các đảng chính trị như “Việt Tân” cho đến nay vẫn còn nói với dân rằng ba sọc đỏ là ba miền Bắc-Trung-Nam. Thật nếu họ không cố ý thì họ không biết. Không biết bởi vì không đọc sử dân tộc, không học chữ Nho, nên giải nghĩa lá cờ một cách dốt nát.

Hiện nay, nhiều nhà báo, nhiều giáo sư- tiến sĩ sử dụng chữ “nhân dân” mà không biết mình đang dùng chữ gì. Chúng tôi mong bài viết này đến được với họ để sử dụng ngôn từ đúng lúc, đúng nơi. Trên thế giới, có những từ không được phép sử dụng bừa bãi. Chẳng hạn từ “Amen” trong tiếng Do Thái trở thành lời xác nhận nghĩa là có thật như thế, nặng hơn chữ “thề”trong tiếng Việt, thề bừa bãi để có việc làm hay nói chơi thôi cũng có nguy cơ mất mạng, nếu chẳng may không giữ được lời thề. Chữ “nhân dân” cũng giống như vậy, người không chuyên về ngôn ngữ dân tộc thì không nên dùng, và không dùng từ này cho công sở.

Đề nghị trong các bài báo, sách vở, thay chữ “nhân dân” bằng chữ “người dân” hoặc “dân nước”. Khởi thủy là lời, kết thúc cũng là lời. Những người muốn lái đất nước đi theo lối vô thần, tôi nghĩ, không có tư cách dùng hai chữ “nhân dân”.

Viết bởi Tôn Phi

Sài Gòn, ngày 20 tháng 08 năm 2019.

Liên lạc tác giả: tonphi40@gmail.com

Nguồn: Tôn Phi- Trung tâm Văn bút Sài Gòn

Chữ “nhân dân” có nghĩa là gì?

Câu chuyện người sinh viên lạc hồn

Ở thành Prague có một sinh viên nghèo lại lâm vào bước quẫn bách quá không biết tìm đâu ra tiền. Qủy liền hiện đến đề nghị cho anh một món tiền kếch xù với điều kiện là nhường lại tất cả những gì anh đang có trong phòng. Tưởng điều kiện gì chứ cái đó thì khỏi suy nghĩ: vì tất cả cơ đồ của anh chỉ là một cái ghế bố đã thủng với một cái gương mẻ, vài đồ chơi rẻ tiền. Được, quỉ cứ việc mang đi và để tiền lại đó cho anh. Nhưng trước khi đưa đi quỉ bảo anh soi vào gương một cái, đang khi anh soi thì quỷ làm dấu, bóng anh biến đi và quỉ đem các đồ rong tuốt, để lại tiền cho sinh viên nọ sống cuộc đời đế vương, không thèm chú ý chi tới chuyện xảy ra nữa. Anh chỉ thấy hơi phiền một chút là lúc soi gương cạo mặt, không thấy mặt trong gương nữa. Tuy thế, đó là sự bất tiện nhỏ nhoi không đáng quan ngại, nhất là khi người ta có dư tiền để thuê người cạo mặt.

Nhưng một ngày kia vì có chuyện bất bình với em rể mà không sao giàn hòa được nên hẹn đánh nhau để phân phải trái (tiếng Tây là due: đánh nhau ai được thì kể là có lý). Bố vợ can ngăn hết lời vô ích nên chỉ xin anh đừng có giết em. Điều đó thì anh chịu liền, vì thực bụng chính anh cũng không muốn giết em rể, mà chỉ có ý làm sầy da một chút gọi là đắc thắng, bởi đắc thắng có nghĩa là đắc lý mà. Vì thế, anh lấy danh dự hứa với bố vợ sẽ không giết em.

Khi ngày quyết đấu tới anh lên xe để đến chỗ hẹn ở bên ngoài thành. Dọc đường xe gẫy bánh, anh phải xuống đi bộ một quãng xa, nên không tới đấu trường kịp giờ. Khi gần tới nơi, anh thấy một người cầm gươm đi lại để đón anh, mặt mày có vẻ giống anh như hệt và đang chùi sạch cái gươm còn nhỏ máu. Thấy thế, anh liền giật mình nhận ra đó chính là cái hồn của anh mà anh đã vô tình bán cho quỷ, và nay có tể là quỉ sai về giết hại em mình. Nghĩ thế anh liền chạy vội đến đấu trường thì quả đúng rồi, xác em rể đã nằm chết xõng xoài trên vũng máu tuồn ra lai láng. Anh buồn muốn ngất xỉu: không những vì thương em, nhưng vì còn thẹn thùng với bố vợ là thất hứa…Thật là mọi sự đã xảy ra ngoài ý muốn của anh, chỉ vì một cử chỉ coi như vô thưởng vô phạt: nhường tấm gương soi mặt cho quỉ, mà khiến nên nông nỗi đau thương. Đành rằng đời sống vật chất của anh có lên cao, nhưng nếu nghĩ đến cái xác vô tội của người em nằm trong vũng máu, nghĩ tới cặp mắt cha vợ đầy oán trách kinh hoàng cho anh là đứa hèn nhát nuốt lời thề…thì khó bình tâm ngồi hưởng thụ giầu sang kiếm được bằng giá máu của em…

Đó là đại lược cho câu chuyện tôi cho là phản chiếu khá trung thực trạng huống nước ta trong mấy chục năm qua hay được nghe nói tới dân tộc tính, hoặc hồn nước. Rồi nghe nhóm này hô hào phải phục sinh vưn hóa dân tộc, phải duy trì dân tộc tính, phải làm sống lại hồn nước; nhóm khác cười nhạo và nếu không nói toạc ra là nõ có hồn, nõ có dân tộc tính, thì cử chỉ hành vi họ còn nói lên điều đó rõ hơn. Vì thế chúng ta cần phải tìm hiểu xem có dân tộc tính chăng. Tôi thiết nghĩ cả hai đều trúng hết và tôi không nói mỉa mai, nhưng là nói thật và xin mượn câu chuyện lạc hồn để biểu thị sự thật đó. Đây là câu chuyện film nhan đề “Étudiant de Prague” ( The Student of Prague).

Mấy chục năm qua, cũng có đủ cả việc cướp nước, cướp hồn nước, bán nước và bán hồn nước. Và vì đó có một số người vào hùa với ngoại bang làm giầu trên xương máu đồng bào trước muôn vàn đau thương của dân tộc…và cũng từ đấy xảy ra việc nhều người xem vào những gương tiên tổ thì chẳng còn thấy bóng dáng mình đâu nữa. Thấy sao được vì đã bị ngoại bang dẫn đi rồi. Vả hồn có phải là vật cụ thể hiện ra thù lù trước mắt đâu, nhưng là cái gì u linh như ẩn như hiện có mà không, không mà có. Nếu tấm lòng yêu nước thương nòi đã phai nhạt thì xem vào tấm gương mẻ là cái nước chậm tiến lạc hậu này, thấy sao được hồn nữa, nên nói nước Việt không hồn dân tộc Lạc-Việt không có tính chất đặc trưng thì chỉ là nói lên một nhận định chân xác khách quan thôi. Phải là người có hồn nước mới thấy được hồn nước, còn không có hồn thì không sao thấy được. Mà biết bao người Việt ngày nay còn gọi được là có hồn nước! Nếu còn có hồn sao người Việt-cộng lại đi sát hại đồng bào cách hăng say thành khẩn như giết quân thù: “Thề phân thây uống máu quân thù”. Nếu có hồn, ai đủ can đảm hát như thế!

Cũng như còn được mấy tí hồn trong số những công chức làm việc giải đãi, trong những người được địa vị ưu đãi lại thẳng tay bóc lột người dân một cách tàn tệ dưới đủ mọi hình thức, tự hối lộ cho đến bắt trả dịch vụ một cách rất xa mức chịu đựng của dân…Đó cũng là một lối giết dần giết mòn. Nhưng giết dần dần hay giết ngay một cái, đều là việc bên ngoài ý muốn của hai bên. Đến nỗi nếu ai nói với họ như thế họ sẽ phát đóa cho là nói tầm bậy vô bằng. Qủa thực sinh viên thành Prague có giết em rể mình đâu, đó là cái hồn của y giết em đấy chứ, cái hồn mà y đã nhương đi rồi thì còn quyền điều khiển nữa đâu, soi vào gương còn chưa thấấy hồn huống chi điều động sao cho được. Cho nên đổ cho anh tội giết em là oan, hay có đúng thì chỉ đúng một phần nhỏ xíu, vì đó là hậu quả bất ngờ của một việc vô thưởng vô phạt, đúng hơn thưởng nhiều phạt ít, và đối với anh còn thật mãi, vì sau khi em rể bị giết anh vẫn còn giầu sang.

Giới trí thức của ta cũng thế, chẳng ai phải chịu hết trách nhiệm cho trạng huống nước nhà, bởi tất cả được đào tạo trong một nền văn hóa không phải của nước ta nữa thì làm chi còn hồn. Có chăng cũng chỉ là cái tình tự suông sẻ hời hợt, không đủ gây nên những công việc sâu xa quyết định.

Cho nên nói chung ra là chúng ta không còn hồn, và vấn đề không phải ở tại có bán hay không? Ai bán? Ai có lỗi? Thành thực mà nói chẳng ai có lỗi cả, ít ra tới độ đủ để bị kết án. Tai họa chúng ta là hồn không còn ở lại với chúng ta nữa, một mớ thì vọng ngoại, cho nên những người trong giới được ưu đãi bóc lột người dân thì tại cái học duy lý là cái học hoàn toàn mưu sinh trục lợi, không có một khoa nào dậy cho một chữ gì đủ khả năng làm họ nương tay: toàn là trí thức rất dễ dùng để làm hại nhau mà thôi.

Thấy vậy đâm ra phát cáu, một mớ đem gửi hồn sang Nga, để học cách cứu đồng bào với điều kiện xem đồng bào như quân thù…Còn một mớ hồn nữa không biết bám vào đâu thì lạc lõng như những cô hồn chờn vờn trong làn hơi cháo lú. Bởi vậy muốn nói nước có hồn hay không có hồn cũng đều đúng cả: đúng với tâm trạng của mỗi người nói. Khi tâm thức không còn gì phảng phât hồn nước mà cũng nói về hồn nước, nói về dân tộc tính, nói về nền quốc học thì sẽ chỉ là những lời thiếu chân thực. Vì thế chúng ta không cần tố cáo ai hết. Việc khởi đầu do lỗi lầm của một hai người trước đây. Nay có đào bới lên cũng là chuyện vô tích sự. Điều thiết yếu là cần phải xét có cần thiết nước, phải có hồn chăng và nếu cần thì nên làm thế nào để hú cho hồn trở lại với nước cùng non. Tức là, đem triết Việt trở lại làm nền chủ đạo cho văn hóa của dân tộc Việt.

Lương Kim Định- giáo sư triết khoa- trường đại học Văn khoa Sài Gòn.

Đi theo triết học Nga thì Việt Nam sẽ ngày càng phân chia giai cấp, càng ngày thấy càng ngày càng ô nhiễm môi trường…mà không biết tại sao. Đi theo triết học Tây Âu thì cũng không sao thống nhất được các lực lượng yêu nước thường xuyên tranh cãi nhau không biết ai đúng ai sai. Tất cả đã bán đi hồn nước cho ngoại bang. Vì vậy, sau bao thử nghiệm có thể khẳng định, chỉ có trở về với suối nguồn tươi trẻ là triết Việt thì mới có đường sống cho dân tộc Việt Nam.

Đi theo triết học Nga thì Việt Nam sẽ ngày càng phân chia giai cấp, càng ngày thấy càng ngày càng ô nhiễm môi trường…mà không biết tại sao. Đi theo triết học Tây Âu thì cũng không sao thống nhất được các lực lượng yêu nước thường xuyên tranh cãi nhau không biết ai đúng ai sai. Tất cả đã bán đi hồn nước cho ngoại bang. Vì vậy, sau bao thử nghiệm có thể khẳng định, chỉ có trở về với suối nguồn tươi trẻ là triết Việt thì mới có đường sống cho dân tộc Việt Nam.

Dân Việt thấy kinh tế-quân sự-kỹ thuật của Tây Phương huy hoàng, liền bán đi triết Việt để đổi lấy triết học của Tây, bao gồm triết học Aristote ( sau này là mẹ đẻ ra khoa danh lý, logique học…). Cộng sản muốn Việt Nam đi theo Nga. Giới đấu tranh dân chủ-nhân quyền học hành không đến nơi muốn Việt Nam đi theo Tây Âu. Hai loại này có vẻ chống đối nhau, thực ra là như nhau. Chỉ có sĩ phu Việt là muốn Việt đi về với truyền thống Việt, là lấy lại hồn Việt cho những thân xác dân ta. Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam ủng hộ, và thi hành giải pháp của giáo sư Lương Kim Định cùng các bậc sĩ phu, các bậc quốc dân nguyên lão nước Việt.