Cái “tâm” của giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết đã từng là đại biểu quốc hội nhiều nhiệm kỳ. Ông chính là tổng chủ biên kiêm chủ biên sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 theo chương trình mới đang áp dụng gồm 23 đầu sách hiện nay

Status của GS. Thuyết và bài tập đọc “Hai con ngựa”

Theo nhóm biên soạn sách Lớp 1 cho rằng đây là bộ sách tốt nhất (?) Vậy mà tại sao ông lại để cho cháu nội ông đi học bậc tiểu học tận bên Singapore xa xôi? Làm sách giáo khoa ra chỉ để dạy con cháu người khác mà không dạy cho cháu mình thì có khác nào người trồng rau, nuôi heo, nuôi gà… chỉ để bán chứ không ăn sản phẩm do mình làm ra? Đó là điều mà các bậc phụ huynh muốn chất vấn ông!

Thử đọc một trang sách Tiếng Việt 1, có câu chuyện “Hai con ngựa” thì thấy rằng chuyện phỏng theo truyện của nhà văn Lép Tôn-Xtôi nhưng đã thay đổi nội dung làm sai lạc mục đích và ý nghĩa cốt truyện, đó là điều đáng nói.

Không biết chủ ý của nhóm tác giả thế nào, nhưng theo tôi, với cách dạy này sẽ làm cho trẻ nhận thức lệch lạc đó là:

1/ Trong xã hội luôn có giai cấp áp bức bóc lột độc ác (Bác nông dân)

2/kẻ bị bóc lột (ngựa) phải biết so đo, tính toán, gian xảo để đối phó với người đã nuôi mình.

Cách dạy này chỉ có thể hình thành nhân cách trẻ lưu manh, lọc lừa mà thôi!

Đặng Phước

“Âm và chữ: a, b, c” hay “Tên chữ và mặt chữ: a, b, c”?

[“Âm và chữ: a, b, c” hay “Tên chữ và mặt chữ: a, b, c”?]
Từng nghe có sự nhầm lẫn giữa âm và chữ.
Liệu “/ei/, /bi/, /si/” là âm hay tên chữ của “a, b, c”? Biết rằng chữ “a” đại diện cho âm /a:/ trong từ “glass” nhưng đại diện cho âm /e/ trong từ “care”.
Nói cách khác, một mặt chữ có thể đại diện cho nhiều âm. Ngược lại, một âm cũng có thể được đại diện bởi nhiều mặt chữ. Và mỗi chữ cái trong bảng chữ cái đều có một tên chữ.
Như vậy,  “/ei/, /bi/, /si/” là tên chữ của “a, b, c”.
Để tránh sự nhầm lẫn giữa âm và chữ, cần phân biệt chữ cái và tên chữ:
– Chữ cái: là ký tự của một hệ thống chữ viết dựa trên bảng chữ cái và mang đậm tính gợi nhớ đến âm.
– Tên chữ: là tên gọi của chữ cái và cũng mang đậm tính gợi nhớ đến âm.
* Ghi chú:
– Ký tự là ký hiệu trong một tập hợp thống nhất.
– Âm tức là âm vị. Âm vị là một nhóm các đặc điểm chung của tập hợp gồm vô số các âm tố sao cho có thể phân biệt về mặt ngữ nghĩa.
Nguyễn Tự Quyết Thắng

Đại học tinh hoa, nên và không nên

Nghe bảo Việt Nam sắp có đại học tinh hoa, xin kể câu chuyện như sau:

Ở khoa văn học của tôi, có ông thầy dạy văn học cổ điển, hay bắt chẹt sinh viên. Ông hỏi sinh viên định nghĩa Văn là gì. Không đứa nào trả lời được. Rồi ông bảo Văn là vẻ đẹp. Sinh viên đứa nào đứa nấy tin cho sái cổ, ai còn nghi ngờ gì. Sau này, tôi về nhà lục lại tài liệu của đại học Văn khoa Sài Gòn, thì mới thấy ông thầy khoa mình dạy sai. Vẻ đẹp đã có chữ “Mỹ” rồi, thế thì cổ nhân không dùng chữ “Văn” để chỉ vẻ đẹp nữa. Tôi không muốn chê thầy dốt, nhưng thực tình là ngày nay ngành văn cũng đã biến thành ngành tiêu thụ, giảng viên được đào tạo qua loa. Ngành văn học, giáo sư cao cấp mà còn như thế, thì những trường như sư phạm văn không biết còn thế nào.

Chữ Văn là 文 , phần trên hình mái nhà, phần dưới hình chư Nghệ, trong đó có sự giao nhau giữa nét sổ trời và nét mác đất. Trong bản thân chữ Văn đã hàm tàng một nền triết lý: Nhân giả kỳ thiên địa chi đức- Âm dương chi giao- Qủy thần chi hội. Để giải nghĩa được chữ ấy phải là triết gia. Đại học không đào tạo ngành văn thì không thể gọi là đại học tinh hoa. Mà trong các trường có đào tạo ngành văn thì cũng không trường nào có giáo sư được học kinh điển dân tộc, do đó trong vòng 10 năm tới, Việt Nam khó mà có dược đại học tinh hoa.

Trở lại chuyện danh hiệu tinh hoa, ưu tú. Nếu gọi người này là tinh hoa thì tức là đang coi người kia là cỏ rác. Xã hội đang chia rẽ, vũ trụ đang vỡ lở từng phần, phân loại người như vậy có khác nào chọn lọc một lần nữa.

Một cách chân tình, thì chúng tôi khuyên các bạn Vin Group đừng nên gọi đại học của mình là đại học tinh hoa. Các báo như VTC news, Zing…thì ca tụng, ăn tiền quảng cáo, mà không biết truyền thông hời hợt phá hoại nhân tâm. Trong xã hội, mỗi người một nghề, anh làm bác sỹ, chị làm kỹ sư, còn tôi là thợ mộc, chỉ là sự phân công lao động, đừng làm quá lên.

Theo học, càng theo càng nhiều, theo đạo, càng theo càng ít.

Còn nếu muốn tiếp tục phân chia, thì đây là lời giải.

Triết, Văn là ngành khởi nguyên. Các ngành khác: toán, lý, hóa, sinh, tin, luật khoa, y khoa chỉ là những khoa thuộc về tiêu thụ. Trường đại học của Vin Group chỉ đào tạo những ngành tiêu thụ, không đào tạo ngành khởi nguyên, tư cách đâu mà xưng là tinh hoa?

Ngoài Hà Nội, có những giáo sư đã biết tầm quan trọng của văn khoa. Ông Nguyễn Lê Anh, giáo sư toán học nói rằng toán chỉ là một biến thể của văn, giải toán thực ra là làm văn.

Hiện nay, chưa thấy có tài liệu nào phân tích, chiết tự được chữ “Đại học” là gì. Do đó, nếu một người xưng mình là hiệu trưởng trường đại học tinh hoa, thì người đó phải chiết tự cho được nghĩa của từ “đại học”. “University” dịch ra là “đại học” chỉ là một cách dịch vội vàng, chỉ dịch tiêu thụ.

Các trường ở Việt Nam hiện nay, dùng chữ “cao đẳng” thì đúng và hợp lý hơn là chữ “đại học”. Ai đã học sách “Đại học” rồi đều thấy nghĩa của chữ “Đại học” cao siêu hơn chữ “University” quá nhiều. Nói thật, tôi khinh những người biết nhiều thứ tiếng, vì họ đã dịch láo rất nhiều từ, dân không biết tiếng thì cứ tưởng là họ giỏi, ghi theo.

Tiếng Việt khác với tất cả mọi thứ tiếng khác trên thế giới. Đó là Vấn đề linh tự. Nếu không phải là thành viên của “linh tộc” thì không hiểu được linh tự ấy. Nhiều hiệu trưởng, hiệu phó không đọc được linh tự, hàng ngày nói năng nhưng không biết mình nói gì. Khi họ chia xã hội ra người tinh hoa và người không tinh hoa, thì lập tức những người thuộc linh tộc sẽ lên tiếng. Về vấn đề linh tự, mời xem Đào Mộng Nam làm rất hay và rất triết.

Định nghĩa sai về tinh hoa sẽ dẫn đến tình trạng như ngày hôm nay. Thà đừng có định nghĩa. Triết Việt- triết An Vi lấy con người làm trung điểm của học vấn, lấy sự sống làm tiêu chuẩn cho chân lý. Sau đây là định nghĩa Tinh hoa mà triết lý An Vi nêu ra:

Người học giỏi là người biết cách giành được sự sống.
Người làm giỏi là người hành động để giành được sự sống.

Sài Gòn, ngày 7 tháng 11 năm 2019.
Tôn Phi – một con người.
Liên lạc tác giả: tonphi40@gmail.com

Nhắn với ông Nguyễn Gia Kiểng: Nữ Oa, Phục Hy là người Việt

 

 

Ông Nguyễn Gia Kiểng và logo của Tập hợp dân chủ đa nguyên. Ảnh tư liệu

Nữ Oa, Phục Hy là người Việt, văn minh nông nghiệp. Người Hoa từ phương Bắc tràn xuống, là dân du mục nên lnghèo ký ức, lấy luôn Nữ Oa- Phục Hy làm tổ của họ, còn cố ép cho Hoàng Đế dạy cho dân mọi món nông nghiệp. Hỏi, một người thì làm sao biết mọi món nông nghiệp mà dạy dân, và hơn nữa, người giỏi du mục như ông Hoàng Đế thì sẽ dạy dân du mục săn bắn chứ không đủ chuyên môn để dạy dân nông nghiệp.

Năm 2019, tại giảng đường khoa Văn học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (đúng hơn là đại học Văn khoa Sài Gòn), phó giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Công Lý khẳng định rằng: Nữ Oa, Phục Hy là người Việt.

Không thể nói Nữ Oa, Phục Hi là người Hoa như Nguyễn Gia Kiểng nói. Hoặc là, ông Kiểng phải trưng ra bằng chứng Phục Hi là người Hoa, điều ông không thể làm được. Hội đồng quốc dân nguyên lão của Việt Nam chưa hề có thông báo nào bảo rằng Phục Hy là người Hán-Mông. Phục Hy chính là một người Việt.

Trước đó, giáo sư triết khoa Lương Kim Định chứng minh rằng Nữ Oa- Phục Hy là người Việt. Gần đây, còn có những bằng chứng về ADN hiện đại củng cố thêm thuyết của Lương Kim Định. Ông Nguyễn Gia Kiểng nên bổ sung thông tin này cho bạn đọc, hoặc là thu hồi sách Tô quốc ăn năn, như công ty Toyota của Nhật thu hồi các sản phẩm xe hơi bị lỗi.

Trong cuốn Tổ quốc ăn năn, ông Nguyễn Gia Kiểng viết: “Nho giáo là một hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu cũng như các vua chư hầu”. Xin thưa với ông Nguyễn Gia Kiểng rằng, hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu cũng như các vua chư hầu là Pháp gia. Khổng Tử là một nhà cách mạng, vua độc tài rất ghét ông, đời nhà Tần chôn sống những Nho sĩ chân chính, là đệ tử của ông. Nguyễn Gia Kiểng kéo theo cả Tập hợp dân chủ đa nguyên hiểu sai về triết Nho, một thứ triết cao viễn nhất mà nhân loại có thể nghĩ ra được. (Không tính những thuyết từ bên trên, bên ngoài con người ụp vào).

Nguyễn Gia Kiểng viết: ” Chữ “Nho” trong tiếng Trung Quốc gồm một chữ “Nhân”, có nghĩa là người, bên cạnh một chữ “Nhu”, có nghĩa là cần thiết. Như vậy “nho” có nghĩa là người cần thiết để giúp các vua chúa trị nước. Cần hiểu rõ như vậy để đừng ngộ nhận coi Nho Giáo là một triết lý. Nho Giáo chỉ là sự giảng dạy những đức tính và kiến thức phải có để được chọn ra làm quan ; nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là một chương trình đào tạo công chức.” Đây là một sự gian lận học thuật, Nguyễn Gia Kiểng đánh lừa những người không học chữ tượng hình: Chữ Hán ( tạm sử dụng danh hiệu này) ghi Nho là 儒 , bao gồm bên trái là bộ Nhân đứng (亻) , bên phải chữ Nhu 需 . Nhu có nghĩa là chờ đợi. Trong chữ Nhu ( chờ đợi) lại có bộ Vũ (雨 ) nghĩa là Mưa. Vậy Nho có nghĩa là người đang đứng đợi mưa. Bản thân Khổng Tử cũng chờ một đạo, sáng nghe rồi tối chết cũng cam lòng, gọi là “triêu văn đạo”.

Tiếp theo, Phục Hi không phải là thầy bói. Phục Hi là triết gia. Triết là tổng chỉ huy của mọi ngành trong xã hội, là tổng công an chống lại những điều quá đáng. Việc xuất hiện các thầy bói khoác áo Nho gia sau này giống như việc các đạo sĩ bảo mình là đệ tử của Lão Tử. Lão Tử không dạy cho làm thuật, Lão Tử chỉ làm triết lý mà thôi và sau này triết lý bị đốc ra tôn giáo. Nguyễn Gia Kiểng nói Phục Hi là thầy bói là nói liều, nếu hiểu sâu về Dịch Kinh mới biết đó là triết lý chứ không phải là bói toán thường nghiệm.

Ông Kiểng viết: “Đối với Nho Giáo, Khổng Tử không sáng tác gì cả. Đóng góp của ông không đáng kể so với Mạnh Tử…” Người đời tưởng thầy Mạnh giỏi hơn thầy Khổng, hỏi thầy Mạnh thì thầy Mạnh trả lời rằng thầy Khổng giỏi hơn (Tự hữu sinh dân dĩ lai, vị hữu Khổng Tử- Tự ngày có người về sau chưa có ai giỏi hơn Khổng Tử).

Về thái độ với vua, Khổng kính trọng, nhưng lúc vua hoang đàng thì theo Khổng, giết một hôn quân cũng giống như giết một tên lê dân. Trong Kinh Thư thậm chí Khổng còn chép đoạn ông Thành Thang diệt vua Trụ với niềm phấn khích. Đang khi đó, ở bên Tây, giết vua bị coi như phạm thánh. Nguyễn Gia Kiểng bảo “Nho giáo vẫn là một hệ thống ý thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ và bất dung”. Điều này chưa có chứng minh. Người đời nghe nói: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Khổng không nói vậy, đừng có đổ cho Khổng. Khổng nói: “Quân tử thời trung”.

Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tôn trọng ông Nguyễn Gia Kiểng trong việc xây dựng được nhiều viện cô nhi (nhà cho trẻ mồ côi) ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi không chấp nhận việc ông Kiểng chỉ trích triết Việt khi không đưa ra được những dẫn chứng khoa học. Nhận xét về triết Khổng- triết Nữ Oa-Phục Hy sai lầm là giết chết hồn Việt tộc. Như vậy chẳng khác gì đảng cộng sản Trung Quốc nói rằng: “Khổng Khâu nghiết phẫn chi học”, nghĩa là cái học của Khổng Tử là cái học ăn cứt. Vì sao vậy? Vì Khổng giáo dục cho con cháu yêu mến ông bà, mà như thế thì làm sao Mao Trạch Đông làm được cải cách ruộng đất giết địa chủ, bắt con cháu đấu tố ông bà cho đến chết cho được? Người mà các bạn muốn chửi là Pháp gia, các bạn chửi lộn sang ông cha của mình.

Các tổ chức đưa lại tin như Nhật Ký Yêu nước hay Trịnh Hữu Long-Luật khoa Tạp Chí thì chúng tôi không yêu cầu trả lời bởi đây chỉ là những tổ chức truyền thông bề mặt, thấy bậc cha chú như ông Kiểng nói thì liền tin ngay, chưa hề qua kiểm chứng, chưa hề đối chiếu tư liệu gốc. Nhưng chúng tôi sẽ gửi bài này đến nguồn phát ra bài luận của ông Nguyễn Gia Kiểng. Yêu cầu tác giả sách Tổ quốc ăn năn, tác giả Nguyễn Gia Kiểng và Tập hợp dân chủ đa nguyên hồi âm.

Đính kèm: Bản đồ của Liên bang Bách Việt.

70508040_385703392308072_9075070191968190464_n.jpg
Sài Gòn, ngày 04 tháng 10 năm 2019.
Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Email liên lạc: nghiepdoansinhvien@gmail.com

Từ “Văn Lang”, “văn hiến” có nghĩa là gì?

Từ cách đây một năm, tôi có ý định viết bài báo thật đậm, giải thích cho bạn đọc “văn lang” và “văn hiến” nghĩa là gì.

Văn làng là nước những người có văn hiến hay là nước những người có tục xăm trổ mình?

Đọc tiếp “Từ “Văn Lang”, “văn hiến” có nghĩa là gì?”

Xét phong chức danh giáo sư, chuyện mắc cười ở Đại học Quốc gia!

Võ Tấn Trường- sinh viên đại học Luật Sài Gòn gửi đến Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Xét phong chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư ở Việt Nam rất là mắc cười. Về bản chất, xét Phó giáo sư và giáo sư là ghi nhận các đóng góp của nhà giáo đối với sự nghiệp giảng dạy, để công bằng thì người ta đưa ra bản tiêu chí để xét, đáp ứng đủ thì được công nhận. Lẽ ra cơ quan quản lý phải nắm được toàn bộ dữ liệu để hàng năm rà soát thấy ứng viên nào đủ tiêu chí thì ra quyết định công nhận. Đằng này lại lập ra cái Hội đồng chức danh để xét, còn ứng viên thì như kiểu đi xin, Hội đồng thấy không ok thì chú ôm hồ sơ về sang năm tính. Thành ra miệng hô hào bỏ cơ chế xin-cho nhưng ngay từ khâu này mà không “xin” thì các bác lại không “tín nhiệm”.

WhatsApp Image 2019-09-01 at 09.35.23.jpeg

Vậy mới có cái chuyện mắc cười ở Đại học Quốc gia!

– Ứng viên vượt và thừa tiêu chuẩn nhận chức danh
– Hội đồng đánh trượt.
– Ứng viên khiếu nại
– Hội đồng sau khi họp và xem xét đơn khiếu nại trả lời: nguyên nhân trượt là do…Hội đồng đánh trượt.

…Bởi vậy, ứng viên nào mà ngây thơ nghĩ rằng mình đủ tiêu chí là yên tâm sẽ được xét thì out ngay. Đủ tiêu chí là cái cần thôi, còn muốn đủ thì phải …..à mà thôi, không nói thì ai cũng biết!!!! Ahihi

 

Chữ “nhân dân” có nghĩa là gì?

Hầu hết các thầy giáo, cô giáo không hiểu ý nghĩa của hai chữ “nhân dân”. Sinh viên ngành văn học, ngành Hán-Nôm còn không biết thì các ngành khác không thể biết được. Không biết thì sẽ sử dụng bừa bãi, và dẫn đến những hiểm họa mà chúng tôi sẽ phân tích cụ thể trong bài viết sau đây.

“Nhân”là vị trí của con người trong vũ trụ, “Dân” là vị trí con người trong xã hội.

Trước hết, cần tra từ nguyên của “nhân dân” 仁 民

Chữ nhân- nghĩa là người có nhiều cách viết. 人cũng là nhân mà 仁 cũng là nhân. Tại sao tổ tiên người Việt viết nhân dân là 仁 民 chứ không viết là 人 民 cho nhanh, tiết kiệm mực?

“Nhân” trong “nhân dân” viết gồm 2 bộ: bộ 人 là người ( nhơn) đứng bên trái và hai nét gạch ngang chồng lên nhau ở bên phải. Hai nét gạch ngang đó, một nét tượng trưng cho Trời, một nét tượng trưng cho Đất. Nhân như vậy là con người ở trong Trời Đất, có quan hệ với Trời và với Đất. Tức là một tài trong tam tài.

Với nghĩa nguyên bản của chữ “nhân dân”, mọi người đều là con của Trời, đứng trên Đất. Trước khi định ăn trộm một món hàng, tôi cũng thấy xấu hổ, vì tôi là con của Trời, nên tôi sẽ không ăn trộm nữa. Nhưng khi nghĩa từ “nhân dân” đã mất, thì tôi cô độc trong vũ trụ, ăn trộm ăn cắp chẳng xấu hổ với ai cả. Ví dụ, một số quan chức Trung Quốc cướp đất của dân nghèo không còn xấu hổ, vì với họ đã không còn có ông Trời.

Thuyết duy vật cố tình dùng hiểu sai nghĩa của từ nhân dân, chỉ dùng chữ 人 không có hai nét Trời Đất đứng bên, nghĩa là con người cô độc, không cần biết gì đến Trời Đất, Thượng Đế, chỉ biết có mình. Bằng cách phá hoại ngôn ngữ, họ phá hoại luôn cả đời sống. Khi con người không nhận thức được mối liên hệ của mình với vũ trụ, con người dễ dàng buông bỏ nhân phẩm, và văn hóa cả xã hội sẽ bại hoại. Đó là mục tiêu của những kẻ chế ra thuyết duy vật.

Ngày nay, kể cả nhiều cô giáo dạy văn ở Việt Nam, Trung Quốc cũng dùng bừa bãi chữ “nhân dân”, tưởng nó là đám đông tập hợp lại trong một nước. Cũng không thể trách các cô được, vì những kẻ phá hoại ngôn ngữ dân tộc thì quá tinh vi và không lộ mặt, lúc học trong trường Sư phạm thì các cô giáo không được học hành đến nơi.

Kể cả cán bộ của thuyết duy vật cũng không hiểu ý nghĩa của từ “Nhân dân”. Ai thừa nhận từ “nhân dân” thì tức là đã thừa nhận triết lý tam tài rất cân đối của Việt tộc, tức là đã thừa nhận cờ vàng ba sọc đỏ, mỗi sọc tượng trưng cho một tài. Nếu chấp nhận sử dụng chữ “nhân dân” thì đồng nghĩa với việc người đó chấp nhận thuyết tam tài của dân tộc, và do đó chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ. Cũng buồn cười, nhiều người vừa rao truyền thuyết vô thần, vừa tung hô thuyết tam tài, đầy mâu thuẫn mà không biết ngôn từ của mình mâu thuẫn với chủ thuyết của mình. Người ta nói ngu si cộng nhiệt tình bằng phá hoại là như vậy.

Chúng tôi thấy nhiều biên tập viên của các trang như “Nhật ký yêu nước”, thậm chí của các đảng chính trị như “Việt Tân” cho đến nay vẫn còn nói với dân rằng ba sọc đỏ là ba miền Bắc-Trung-Nam. Thật nếu họ không cố ý thì họ không biết. Không biết bởi vì không đọc sử dân tộc, không học chữ Nho, nên giải nghĩa lá cờ một cách dốt nát.

Hiện nay, nhiều nhà báo, nhiều giáo sư- tiến sĩ sử dụng chữ “nhân dân” mà không biết mình đang dùng chữ gì. Chúng tôi mong bài viết này đến được với họ để sử dụng ngôn từ đúng lúc, đúng nơi. Trên thế giới, có những từ không được phép sử dụng bừa bãi. Chẳng hạn từ “Amen” trong tiếng Do Thái trở thành lời xác nhận nghĩa là có thật như thế, nặng hơn chữ “thề”trong tiếng Việt, thề bừa bãi để có việc làm hay nói chơi thôi cũng có nguy cơ mất mạng, nếu chẳng may không giữ được lời thề. Chữ “nhân dân” cũng giống như vậy, người không chuyên về ngôn ngữ dân tộc thì không nên dùng, và không dùng từ này cho công sở.

Đề nghị trong các bài báo, sách vở, thay chữ “nhân dân” bằng chữ “người dân” hoặc “dân nước”. Khởi thủy là lời, kết thúc cũng là lời. Những người muốn lái đất nước đi theo lối vô thần, tôi nghĩ, không có tư cách dùng hai chữ “nhân dân”.

Viết bởi Tôn Phi

Sài Gòn, ngày 20 tháng 08 năm 2019.

Liên lạc tác giả: tonphi40@gmail.com

Nguồn: Tôn Phi- Trung tâm Văn bút Sài Gòn

Chữ “nhân dân” có nghĩa là gì?

Câu chuyện người sinh viên lạc hồn

Ở thành Prague có một sinh viên nghèo lại lâm vào bước quẫn bách quá không biết tìm đâu ra tiền. Qủy liền hiện đến đề nghị cho anh một món tiền kếch xù với điều kiện là nhường lại tất cả những gì anh đang có trong phòng. Tưởng điều kiện gì chứ cái đó thì khỏi suy nghĩ: vì tất cả cơ đồ của anh chỉ là một cái ghế bố đã thủng với một cái gương mẻ, vài đồ chơi rẻ tiền. Được, quỉ cứ việc mang đi và để tiền lại đó cho anh. Nhưng trước khi đưa đi quỉ bảo anh soi vào gương một cái, đang khi anh soi thì quỷ làm dấu, bóng anh biến đi và quỉ đem các đồ rong tuốt, để lại tiền cho sinh viên nọ sống cuộc đời đế vương, không thèm chú ý chi tới chuyện xảy ra nữa. Anh chỉ thấy hơi phiền một chút là lúc soi gương cạo mặt, không thấy mặt trong gương nữa. Tuy thế, đó là sự bất tiện nhỏ nhoi không đáng quan ngại, nhất là khi người ta có dư tiền để thuê người cạo mặt.

Nhưng một ngày kia vì có chuyện bất bình với em rể mà không sao giàn hòa được nên hẹn đánh nhau để phân phải trái (tiếng Tây là due: đánh nhau ai được thì kể là có lý). Bố vợ can ngăn hết lời vô ích nên chỉ xin anh đừng có giết em. Điều đó thì anh chịu liền, vì thực bụng chính anh cũng không muốn giết em rể, mà chỉ có ý làm sầy da một chút gọi là đắc thắng, bởi đắc thắng có nghĩa là đắc lý mà. Vì thế, anh lấy danh dự hứa với bố vợ sẽ không giết em.

Khi ngày quyết đấu tới anh lên xe để đến chỗ hẹn ở bên ngoài thành. Dọc đường xe gẫy bánh, anh phải xuống đi bộ một quãng xa, nên không tới đấu trường kịp giờ. Khi gần tới nơi, anh thấy một người cầm gươm đi lại để đón anh, mặt mày có vẻ giống anh như hệt và đang chùi sạch cái gươm còn nhỏ máu. Thấy thế, anh liền giật mình nhận ra đó chính là cái hồn của anh mà anh đã vô tình bán cho quỷ, và nay có tể là quỉ sai về giết hại em mình. Nghĩ thế anh liền chạy vội đến đấu trường thì quả đúng rồi, xác em rể đã nằm chết xõng xoài trên vũng máu tuồn ra lai láng. Anh buồn muốn ngất xỉu: không những vì thương em, nhưng vì còn thẹn thùng với bố vợ là thất hứa…Thật là mọi sự đã xảy ra ngoài ý muốn của anh, chỉ vì một cử chỉ coi như vô thưởng vô phạt: nhường tấm gương soi mặt cho quỉ, mà khiến nên nông nỗi đau thương. Đành rằng đời sống vật chất của anh có lên cao, nhưng nếu nghĩ đến cái xác vô tội của người em nằm trong vũng máu, nghĩ tới cặp mắt cha vợ đầy oán trách kinh hoàng cho anh là đứa hèn nhát nuốt lời thề…thì khó bình tâm ngồi hưởng thụ giầu sang kiếm được bằng giá máu của em…

Đó là đại lược cho câu chuyện tôi cho là phản chiếu khá trung thực trạng huống nước ta trong mấy chục năm qua hay được nghe nói tới dân tộc tính, hoặc hồn nước. Rồi nghe nhóm này hô hào phải phục sinh vưn hóa dân tộc, phải duy trì dân tộc tính, phải làm sống lại hồn nước; nhóm khác cười nhạo và nếu không nói toạc ra là nõ có hồn, nõ có dân tộc tính, thì cử chỉ hành vi họ còn nói lên điều đó rõ hơn. Vì thế chúng ta cần phải tìm hiểu xem có dân tộc tính chăng. Tôi thiết nghĩ cả hai đều trúng hết và tôi không nói mỉa mai, nhưng là nói thật và xin mượn câu chuyện lạc hồn để biểu thị sự thật đó. Đây là câu chuyện film nhan đề “Étudiant de Prague” ( The Student of Prague).

Mấy chục năm qua, cũng có đủ cả việc cướp nước, cướp hồn nước, bán nước và bán hồn nước. Và vì đó có một số người vào hùa với ngoại bang làm giầu trên xương máu đồng bào trước muôn vàn đau thương của dân tộc…và cũng từ đấy xảy ra việc nhều người xem vào những gương tiên tổ thì chẳng còn thấy bóng dáng mình đâu nữa. Thấy sao được vì đã bị ngoại bang dẫn đi rồi. Vả hồn có phải là vật cụ thể hiện ra thù lù trước mắt đâu, nhưng là cái gì u linh như ẩn như hiện có mà không, không mà có. Nếu tấm lòng yêu nước thương nòi đã phai nhạt thì xem vào tấm gương mẻ là cái nước chậm tiến lạc hậu này, thấy sao được hồn nữa, nên nói nước Việt không hồn dân tộc Lạc-Việt không có tính chất đặc trưng thì chỉ là nói lên một nhận định chân xác khách quan thôi. Phải là người có hồn nước mới thấy được hồn nước, còn không có hồn thì không sao thấy được. Mà biết bao người Việt ngày nay còn gọi được là có hồn nước! Nếu còn có hồn sao người Việt-cộng lại đi sát hại đồng bào cách hăng say thành khẩn như giết quân thù: “Thề phân thây uống máu quân thù”. Nếu có hồn, ai đủ can đảm hát như thế!

Cũng như còn được mấy tí hồn trong số những công chức làm việc giải đãi, trong những người được địa vị ưu đãi lại thẳng tay bóc lột người dân một cách tàn tệ dưới đủ mọi hình thức, tự hối lộ cho đến bắt trả dịch vụ một cách rất xa mức chịu đựng của dân…Đó cũng là một lối giết dần giết mòn. Nhưng giết dần dần hay giết ngay một cái, đều là việc bên ngoài ý muốn của hai bên. Đến nỗi nếu ai nói với họ như thế họ sẽ phát đóa cho là nói tầm bậy vô bằng. Qủa thực sinh viên thành Prague có giết em rể mình đâu, đó là cái hồn của y giết em đấy chứ, cái hồn mà y đã nhương đi rồi thì còn quyền điều khiển nữa đâu, soi vào gương còn chưa thấấy hồn huống chi điều động sao cho được. Cho nên đổ cho anh tội giết em là oan, hay có đúng thì chỉ đúng một phần nhỏ xíu, vì đó là hậu quả bất ngờ của một việc vô thưởng vô phạt, đúng hơn thưởng nhiều phạt ít, và đối với anh còn thật mãi, vì sau khi em rể bị giết anh vẫn còn giầu sang.

Giới trí thức của ta cũng thế, chẳng ai phải chịu hết trách nhiệm cho trạng huống nước nhà, bởi tất cả được đào tạo trong một nền văn hóa không phải của nước ta nữa thì làm chi còn hồn. Có chăng cũng chỉ là cái tình tự suông sẻ hời hợt, không đủ gây nên những công việc sâu xa quyết định.

Cho nên nói chung ra là chúng ta không còn hồn, và vấn đề không phải ở tại có bán hay không? Ai bán? Ai có lỗi? Thành thực mà nói chẳng ai có lỗi cả, ít ra tới độ đủ để bị kết án. Tai họa chúng ta là hồn không còn ở lại với chúng ta nữa, một mớ thì vọng ngoại, cho nên những người trong giới được ưu đãi bóc lột người dân thì tại cái học duy lý là cái học hoàn toàn mưu sinh trục lợi, không có một khoa nào dậy cho một chữ gì đủ khả năng làm họ nương tay: toàn là trí thức rất dễ dùng để làm hại nhau mà thôi.

Thấy vậy đâm ra phát cáu, một mớ đem gửi hồn sang Nga, để học cách cứu đồng bào với điều kiện xem đồng bào như quân thù…Còn một mớ hồn nữa không biết bám vào đâu thì lạc lõng như những cô hồn chờn vờn trong làn hơi cháo lú. Bởi vậy muốn nói nước có hồn hay không có hồn cũng đều đúng cả: đúng với tâm trạng của mỗi người nói. Khi tâm thức không còn gì phảng phât hồn nước mà cũng nói về hồn nước, nói về dân tộc tính, nói về nền quốc học thì sẽ chỉ là những lời thiếu chân thực. Vì thế chúng ta không cần tố cáo ai hết. Việc khởi đầu do lỗi lầm của một hai người trước đây. Nay có đào bới lên cũng là chuyện vô tích sự. Điều thiết yếu là cần phải xét có cần thiết nước, phải có hồn chăng và nếu cần thì nên làm thế nào để hú cho hồn trở lại với nước cùng non. Tức là, đem triết Việt trở lại làm nền chủ đạo cho văn hóa của dân tộc Việt.

Lương Kim Định- giáo sư triết khoa- trường đại học Văn khoa Sài Gòn.

Đi theo triết học Nga thì Việt Nam sẽ ngày càng phân chia giai cấp, càng ngày thấy càng ngày càng ô nhiễm môi trường…mà không biết tại sao. Đi theo triết học Tây Âu thì cũng không sao thống nhất được các lực lượng yêu nước thường xuyên tranh cãi nhau không biết ai đúng ai sai. Tất cả đã bán đi hồn nước cho ngoại bang. Vì vậy, sau bao thử nghiệm có thể khẳng định, chỉ có trở về với suối nguồn tươi trẻ là triết Việt thì mới có đường sống cho dân tộc Việt Nam.

Đi theo triết học Nga thì Việt Nam sẽ ngày càng phân chia giai cấp, càng ngày thấy càng ngày càng ô nhiễm môi trường…mà không biết tại sao. Đi theo triết học Tây Âu thì cũng không sao thống nhất được các lực lượng yêu nước thường xuyên tranh cãi nhau không biết ai đúng ai sai. Tất cả đã bán đi hồn nước cho ngoại bang. Vì vậy, sau bao thử nghiệm có thể khẳng định, chỉ có trở về với suối nguồn tươi trẻ là triết Việt thì mới có đường sống cho dân tộc Việt Nam.

Dân Việt thấy kinh tế-quân sự-kỹ thuật của Tây Phương huy hoàng, liền bán đi triết Việt để đổi lấy triết học của Tây, bao gồm triết học Aristote ( sau này là mẹ đẻ ra khoa danh lý, logique học…). Cộng sản muốn Việt Nam đi theo Nga. Giới đấu tranh dân chủ-nhân quyền học hành không đến nơi muốn Việt Nam đi theo Tây Âu. Hai loại này có vẻ chống đối nhau, thực ra là như nhau. Chỉ có sĩ phu Việt là muốn Việt đi về với truyền thống Việt, là lấy lại hồn Việt cho những thân xác dân ta. Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam ủng hộ, và thi hành giải pháp của giáo sư Lương Kim Định cùng các bậc sĩ phu, các bậc quốc dân nguyên lão nước Việt.

Cưỡng ép học chữ Nho, liệu học sinh sẽ quá tải?

 

Ông Đỗ Minh Tuấn, nhà lý luận phê bình, đạo diễn phim, họa sĩ của hãng phim truyện Việt Nam căm giận việc đa số đại biểu quốc hội bỏ phiếu bắt trẻ em Việt Nam học tiếng Trung thay vì học tiếng Anh như chương trình mang tính mẫu số chung văn hoá mặc định của mọi nền Giáo dục trên thế giới thời nay. Ngoài bài viết của ông, chúng ta cùng xem xét nhiều luồng quan điểm giải thích việc học hay không học tiếng Trung trong nhà trường.

Lý do để không công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 của Việt Nam: Một tỉ lệ rất nhỏ dân chúng và công chức Việt Nam sử dụng thành thạo tiếng Anh. Lý do để công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 của Việt Nam: Tuy không có tiếng Anh, chúng ta có một lòng nồng nàn yêu nước và (chủ yếu là) căm thù Trung Quốc. Tiếng Anh giúp dân Việt thoát Trung, ý của phiên dịch viên Anh- Việt Nguyễn Vũ Hiệp ở Hà Nội.

Ông Đinh Công Khải, một người dân nói: “Chúng (Quốc hội Việt Nam) có bấm nút thì toàn thể cha mẹ phụ huynh hãy cấm con học tiếng Tàu, để xem chúng có biết nhục không?” Bỏ là phải vì lối dạy cũng như lý do bảo trợ chữ Nho đều mất gốc. Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn, cảm thấy sự ngột ngạt của Đông phương, liền muốn theo Tây phương. Đi theo giáo dục Tây Âu cũng không hoàn toàn ổn. Trẻ Tây chưa mở mắt đã dậy suy luận ngay là sai lầm. Sự sai lầm đó ngày nay hiện đang được khoa phân tâm vạch trần. Những bậc trưởng thượng của người châu Âu bây giờ than là giới trẻ mất gốc, mất kỷ niệm dân tộc, bì phu thiển cận, hời hợt bởi “ dễ học thì cũng dễ quên”: “easy come, easy go”. Ngược hẳn với Đông phương đặt ngôn từ xuống hàng ba, sau thành công và thành nhân, chậm mà chắc. Học giả Tây nổi tiếng là ông Granet, trong cuốn Pensée chinoise, cũng phải thừa nhận rằng chữ Nho sống mạnh và đầy uy lực đầy cảm xúc. Chính vì vậy Nho là thứ chữ của Minh triết, của tiềm thức hơn bất cứ cổ ngữ nào trong nhân loại, nên bất cứ cổ ngữ nào cũng đều đã trở thành tử ngữ, chỉ riêng chữ Nho là trở thành linh ngữ linh tự. Vì thế giới đại trí thức Việt Nam vẫn đang coi chữ Nho là một đặc ân mà ít dân tộc nào có được. Cuốn Vocation Sociale Gurvitch chỉ ra rằng, văn hóa của Tây chỉ có sinh ngữ và tử ngữ, nền giáo dục Tây Âu đặt trọn vẹn trên lý trí và ý chí mà thôi, thiếu hẳn một dụng cụ đào sâu vào cõi vô thức, mới chỉ có thành công chứ chưa có thành nhân. Thực ra, Bộ giáo dục cũng chưa có nhận thức đầy đủ về việc học chữ Hán theo âm người Hoa Bắc Kinh hay học chữ Hán theo âm Hán-Việt mà ông cha ta đã chuyển đổi. Dù dạy cái gì thì cũng kể như là nhồi nhét, kể như là thất bại. Vì sao vậy?

Trước hết, cần nhìn nhận rằng, nền giáo dục Việt Nam hiện nay không bản chất, không đích cùng: une éducation sans substance, san but ( Ecce homo trang 95), đẩy học sinh đến cỗ vong thân. Vì trẻ mới lớn lên chưa ai dạy cho chúng biết ra đường phải tránh xe thế nào, thế nào là lịch sự khi giao tiếp, đối xử, khi vào gõ cửa, khi ra giã từ, lời ăn tiếng nói ra sao…Những điều đó không được chương trình giáo dục nào săn sóc đến cả, nhưng nếu muốn biết con ruồi đẻ như thế nào, lông mọc làm sao, con cóc đẻ bao nhiêu trứng, con nòng nọc có mấy chân, chân có bao nhiêu lông, mỗi cái lông dài bằng nào, sống trong những điều kiện nào…thì các em lớp nhất trở xuống đã thuộc lòng rồi. Cụ thể mà lại. Đừng bảo rằng trục vật vong thân nhé, đâu có vong thân, chương trình cũng lo về con người lắm chứ, nghe đây nè, da con người có bao nhiêu tầng, mỗi tầng có bao nhiêu lỗ chân lông, các tế bào triển nở ra sao, tổ hợp thành mô, mô thành cơ thể: này là cơ thể hấp thụ, này là bộ phận bài tiết, bắp thịt, thần kinh, tiêu hóa, tuần hoàn…Học về con người kỹ như thế mà đứa nào dám bảo vong thân!

Cố triết gia Lương Kim Định gọi đấy là một Linh Tự – Thứ Chữ chứa đựng năng lực, tinh thần Việt Tộc, đã giúp người Việt tồn tại qua hằng thế kỷ tương tranh, va chạm với những nền văn hóa, văn minh khác (Trung Hoa, Ấn Độ, Tây Phương..). Cho nên, khuyến khích học chữ Nho là đúng, riêng ép buộc học chữ Nho là sai.

Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Văn Sơn, Đỗ Ngọc Thống, ba tên giáo sư rẻ tiền viết những văn mẫu rẻ tiền.

Giáo sư- nhà giáo nhân dân Nguyễn Đăng Mạnh-một vị thái thượng hoàng của việc soạn sách giáo khoa văn trung học, vua của việc đào tạo ra các giáo sư tiến sĩ văn học, lại không hiểu và viết rất bậy bạ về bài thơ tứ tuyệt “Mời Trầu” của Hồ Xuân Hương, thì thử hỏi có phải Bộ giáo dục & đào tạo đang trao trứng cho ác trong việc dạy môn văn hay không? Xin đọc bài viết sau của Trần Mạnh Hảo:

VỀ BÀI THƠ “MỜI TRẦU” CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG TRONG BÀI VĂN MẪU DO GIÁO SƯ. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH SOẠN

Trần Mạnh Hảo.

Trên báo Gia Đình & Xã Hội số 100, trong bài “ Những phát hiện của Trần Mạnh Hảo chỉ đáng tầm dọn vườn” giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh bảo chúng tôi là “con khỉ” mượn “oai hùm”. Trong báo Gia Đình & Xã Hội số 107, ngày 6-9-2003 , Tiến sĩ. Đỗ Ngọc Thống học trò của giáo sư Mạnh, bắt chước giáo sư, lại gọi chúng tôi là “con gà” trong bài “Có con gà cứ tưởng tiếng gáy của mình làm trời sáng”. Trên báo “Ngày Nay”, số 17, ngày 5-9-2003, ông Văn Giá gọi chúng tôi là diều, là quạ…Cứ đà này, cuộc tranh luận giữa chúng tôi và các giáo sư, giáo sư, tiến sĩ có thể còn biến Trần Mạnh Hảo thành những con bò con trâu, thậm chí chó, mèo, dê, ngựa, rắn, thỏ, ngan, ngỗng… không chừng. Thảo nào, trên báo “Văn Nghệ Trẻ”số 23, ngày 7-6-2003, ông Đỗ Ngọc Thống với tư duy coi người khác là “con gà” con qué, đã ví văn Nguyễn Tuân là loại văn cao sang với món thịt chó ! Chính vì để giúp ông giáo sư. Mạnh và ông Tiến sĩ.Thống ( nghe nói ông này đã được phong hàm giáo sư.) khỏi phải tranh luận với “con khỉ”, “con gà”, chúng tôi gửi đăng báo bài phê bình cách bình văn còn nhiều sai sót của hai ông giáo sư Mạnh và ông tiến sĩThống, mong hai vị trao đổi lại; một là để thay đổi không khí, hai là để chứng minh rằng chân lý bao giờ cũng cụ thể; xin mời hai ông trở lại với học thuật, thay vì cứ phải mắng người khác là khỉ, là gà, làm độc giả nghĩ không hay về giới cầm bút, về cách ăn nói hàm hồ tầm bậy của các vị giáo sư. Tiến sĩ trong ngành giáo dục đang bị mất giáo dục nhất.

 

                           Từ trái sang phải: Chu Văn Sơn và Đỗ Ngọc Thống, học trò của Nguyễn Đăng Mạnh

Đây là tập văn mẫu dùng cho học sinh trung học : “217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN ” của 4 đồng tác giả do giáo sư. Nguyễn Đăng Mạnh ( chủ biên), Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống, Tiến sĩ Hà Bình Trị, Chu Văn Sơn, dày 627 trang, do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội tái bản với số lượng lớn năm 2000, là một cuốn sách còn quá nhiều vấn đề phải bàn lại. Ngay việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu cho học sinh, liệu có khiến triệt tiêu hết khả năng sáng tạo độc lập của các em khi tiếp nhận thẩm mỹ văn chương hay không, cũng là điều cần phải làm cho rõ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cùng các tác giả tập văn mẫu về bài : ” Phân tích bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương” từ trang 53 đến trang 59 ( sách đã dẫn).

MỜI TRẦU
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Trước khi phân tích bài thơ, tác giả bài văn mẫu mở bài quá dài, với một số khái quát về thơ Hồ Xuân Hương chưa chuẩn xác. Khi tác giả nói Hồ Xuân Hương tuyên chiến với thói trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến thì đúng. Nhưng khi tác giả bài văn mẫu viết như thế này về thơ Hồ Xuân Hương thì chưa đúng, không đúng : “… Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn phép, chuẩn mực của xã hội đẳng cấp phong kiến đã trở thành trái tự nhiên, phi đạo lý, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạo của mình :” Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ – Lại đây cho chị dạy làm thơ “; “Ghé mắt trông sang thấy bảng treo – Kìa đền thái thú đứng cheo leo – Ví đây đổi phận làm trai được – Thì sự anh hùng há bấy nhiêu ” ( chữ nghiêng đậm trong bài do Trần Mạnh Hảo nhấn mạnh )…

Mấy câu thơ trích dẫn trên không dính dáng gì đến kết luận của tác giả . Hai câu đầu là bài thơ nữ sĩ diễu đám học trò nhỏ học hành không ra sao, lại hay ghẹo gái; tuy là diễu nhưng vẫn thông cảm, ưu ái. Bốn câu thơ sau là bài thơ chê bai, thậm chí chửi xéo Sầm Nghi Đống, thái thú của quân xâm lược nhà Thanh là quân hèn nhát.

Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh khái quát thơ Hồ Xuân Hương là “ngang ngược, oái oăm, ngông nghênh kiêu ngạo ” là áp đặt, là chưa hiểu thơ bà. Ngay khi dẫn câu thơ trong bài “Dỗ người đàn bà khóc chồng ” : ” Nín đi kẻo thẹn với non sông”, tác giả bài văn mẫu tỏ ra không hiểu chính bài thơ và câu thơ này bằng một lời bình lạc lõng : “… Thậm chí thách thức với cả vũ trụ càn khôn”.

Do chưa nắm được bản chất nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương như những đánh giá vừa dẫn, tác giả lại đưa ra những kết luận vừa suy diễn, vừa theo kiểu phê bình xã hội học dung tục, nâng tiếng thơ trào lộng trữ tình bi hài của cá nhân bà thành phong trào quần chúng và những ấm ức cần giải toả của lịch sử dân tộc, của xã hội theo quan niệm vô thức xã hội của Carl Jung, bằng những lời đao to búa lớn như sau : ” Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh thép, dõng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh, quyết liệt nhất thì đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ức, bực bội không giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưng chưa tìm ra lối thoát “. Viết như thế, hoá ra Hồ Xuân Hương bỗng trở thành biểu tượng giải phóng xã hội và dân tộc, thành nhà cải cách của quần chúng (!)

Phần mở bài đã được tác giả viết quá dài, quá linh tinh, gần một nửa bài viết, toàn đưa ra những kết luận không đúng về thơ Hồ Xuân Hương. Khi vào thân bài, tác giả lại lạc đề gần hết một trang, đưa ra nhiều nhận định không đúng khác , ví như kết luận rất sai về Thơ Đuờng như sau : ” Thơ Đường thường thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ thể. Do đó Thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh vào cảm giác người đọc. Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu tả trực tiếp”.

Chỉ cần đọc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, cũng đủ thấy kết luận trên về Thơ Đường của tác giả bài văn mẫu này là một kết luận không đúng.

Khi tác giả viết như dưới đây thì có vẻ như đã thẩm được bài thơ “Mời trầu ” : ” Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ Mời trầu mà xem, có phải đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn còn một tấm lòng khát khao tha thiết và một giọng khiêm tốn nhún nhường ( Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi – Này của Xuân Hương mới quệt rồi ) và không phải không có một cái gì như xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che dấu nổi ( Có phải duyên nhau thì thắm lại – Đừng xanh như lá bạc như vôi)..

Bài thơ “Mời trầu” khá dễ hiểu, tình cảm và ý tưởng của nữ sĩ hầu như đã là một vỉa quặng lộ thiên. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi tác giả bài văn mẫu này là các ông giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Chu Văn Sơn tỏ ra không muốn hiểu bài thơ, lại đưa ra những lời phân tích áp đặt, sai lạc tinh thần bài thơ đến cỡ thế này là cùng : “… Mời trầu người ta, lẽ ra thì phải mềm mỏng, dịu dàng và phải bẽn lẽn một chút, Xuân Hương không thế, cái tôi dõng dạc xưng tên :” Này của Xuân Hương mới quệt rồi…”…”…Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta dõng dạc :” Này của Xuân Hương”. Rõ ràng là một sự thách thức táo bạo trước dư luận xã hội. Đã thế lại còn đóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng : ” Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Quệt cũng như têm thôi (têm trầu), nhưng quệt tỏ ra suồng sã hơn, bướng bỉnh và ngang ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào. “Có phải duyên nhau thì thắm lại”. Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn bình đẳng. Đến câu tiếp theo không còn là giọng mời chào nữa, mà là một lời mắng hẳn hoi. Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng yêu đi nữa, thì cũng chỉ có Xuân Hương thôi :” “đừng xanh như lá bạc như vôi !” ( hết trích)

Tác giả bài văn mẫu sợ người đọc chưa tiếp nhận được “phát kiến” mới của mình trong việc giải mã câu cuối bài thơ, bèn tuyên bố một lần nữa, như muốn khép lại bài phân tích thơ một cách hùng hồn rằng :” “Đừng xanh như lá bạc như vôi ” . Đúng thế, mời mà như mắng người ta “.

Viết như thế, các tác giả bài luận văn trên quả là không hiểu bài thơ “Mời trầu”, một bài thơ trữ tình dịu dàng và tình cảm nhất của Hồ Xuân Hương. Từ “Mời trầu”, tác giả bài văn mẫu đã chuyển hệ cho Hồ Xuân Hương sang kênh “mắng trầu”, có thể biến nữ sĩ trở thành hình ảnh của kẻ vô duyên, bỗ bã, nhố nhăng ? Bình thơ như trên, phải chăng là mẫu mực của nghệ thuật giảng văn trong nhà trường trung học, nơi “các ông vua” soạn văn mẫu là Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Chu Văn Sơn sinh ra để làm hỏng môn văn, nhồi nhét vào đầu học sinh cả nước những “kiến văn” bậy bạ, láo lếu, cốt bán sách văn mẫu lấy tiền. Riêng việc các ông thầy phản văn, phản giáo dục này sinh ra thứ VĂN MẪU đã là một đòn chí mạng đánh vào việc dạy văn vậy !

Chúng tôi xin mượn lời của giáo sư tiến sĩ Trần Đình Sử in trên trang 8, cột 1, dòng thứ 18 đến dòng thứ 22 viết trong bài “Chúng ta đang tụt hậu” trên tờ “An Ninh thế giới cuối tháng 8-2003” nói về cách làm văn phản văn như kiểu giáo sư. Mạnh, tiến sĩ Thống và 2 đồng tác giả khác bình bài thơ “Mời trầu” trên, như sau :” Tôi nói không thể chấp nhận chương trình làm văn như thế. Bởi vì việc làm văn như thế khác nào bắt các em quay mặt vào văn học, quay lưng lại với đời sống…”.,.

Trần Mạnh Hảo

Phụ lục:

Thông báo: Sang năm 2020, Khối Nghiệp đoàn Viêm Việt sẽ mở thêm Nghiệp đoàn xuất bản Việt Nam. Nghiệp đoàn ra đời hầu định hướng văn học theo triết Việt, đồng thời thúc ép các nhà xuất bản và công ty truyền thông cần đăng tải những nội dung đúng sự thật và có ích, tránh lan man. Nghiệp đoàn xuất bản ra đời cũng sẽ tạo sức ép để thu hồi những cuốn sách sai lỗi chính tả-lỗi ngữ pháp và bồi thường cho bạn mua sách những cuốn sách được chỉnh lý công phu.

Nếu bạn quan tâm hoặc muốn ghi danh tham gia Nghiệp đoàn xuất bản Việt Nam, chỉ cần gửi thư về địa chỉ điện thư: info@nghiepdoanbaochi.org . Chỉ cần bạn trên 18 tuổi và đủ năng lực hành vi dân sự, chúng tôi sẽ phỏng vấn và tùy theo trình độ-năng lực-nhận thức của ứng viên để sắp xếp ứng viên vào các vị trí khác nhau, hầu tiến hành công việc một cách nhanh nhất.
Các mạnh thường quân muốn ủng hộ, xin gửi về địa chỉ Paypal: info@nghiepdoanbaochi.org
Sài Gòn,
Ngày 05 tháng 05 năm 2019,
Trân trọng thông báo.
Khối nghiệp đoàn Viêm Việt.