Vấn đề văn hiến

Văn hiến là những người hi hiến thân tâm cho văn hoá và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hoá Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, mới chỉ có văn hào, văn sĩ…

Bởi vậy khi các giáo sĩ Âu Châu đến Viễn Đông vào lối thế kỷ 16-17 thì đều tỏ vẻ ngạc nhiên đến bỡ ngỡ vì thấy một nguyện vọng tha thiết cuả Platon đã hiện thực tại Viễn Đông . Nguyện vọng đó là đặt quyền cai trị vào tay các triết gia gọi tắt là triết vương philosophe-roi hoặc roi-philosophe. Đấy là một nguyện vọng đã chưa bao giờ được hiện thực ở Tây Âu, nhưng các vị thừa sai cho là đã hiện thực bên Viễn Đông. Có đúng như vậy chăng?

Đúng và không. Đúng ở chỗ trong thời huyền sử các vị được đưa ra làm mẫu mực toàn là các triết vương: Phục Hi, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Đại Vũ… Còn các đời sau nhất là từ Hán Nho tuy không được ông nào hẳn xứng danh là triết vương nhưng ít ra có một số sự việc đáng chú ý:

1. Một là các vua đã học Kinh điển tức là sách triết.
2. Hai là địa vị các triết nhân vẫn được đề cao coi như ánh sáng soi cho cả nước “sảng bang do triết”, ánh sáng soi cho nước là do triết (Đại cáo 13) và vì thế bao giờ cũng coi việc bàn hỏi ý kiến các vị hiền triết là một điều rất đáng khen. Như Kinh Thi khen vua nhà Thương là “phu cầu triết nhơn”. rộng cầu đến các triết gia (Bài Y huấn câu 6).
3. Ba là nước được cai trị theo văn giáo ít ra trong lý thuyết và phần nào trong thực hiện. Khi nào nước được trị theo văn giáo thì gọi là hữu đạo, bằng không thì gọi là vô đạo, chứ không có tiêu chuẩn nào khác thuộc tôn giáo thí dụ và đó là nét đặc trưng hơn hết của các nền văn hoá Viễn Đông.
4. Vì 3 điểm đó nên nhận xét của thừa sai Âu Tây có thể coi là đúng đến quá nửa, và ta có xưng tụng nước là văn hiến chi bang cũng không phải thiếu nền móng.

Thế nhưng từ hơn một trăm năm nay do sự tiếp cận với văn minh Tây Âu thì nét đặc trưng của Viễn Đông bắt đầu lung lay và đang sụp đổ, đến nỗi ngày nay đừng nói đến địa vị triết vương, mà ngay đến địa vị triết trong quốc học cũng bị từ chối hoặc coi thường. Và vì thế hôm nay khi bàn đến quốc học mà thấy đề cao triết chắc có nhiều người không khỏi ngạc nhiên, ngạc nhiên vì đã quen nghe những lời chỉ trích triết: triết nói những truyện trừu tượng, xa xôi, vu vơ vô bổ cho đời sống ăn làm… Thực ra thì đó chỉ là sự mâu thuẫn vòng ngoài vì nếu đi vào nội dung thì không có chi đáng phải ngạc nhiên, là vì những điều chê bai triết cho tới nay hầu hết là vì triết Tây bám riết chữ nghĩa hay Hán Nho bám sát luân lý và những định chế đã lỗi thời… Hoặc nữa là triết học lý niệm đề cao lý trí đến độ duy ngã độc tôn nên chẳng sao đi vào đời sống nổi. Đời sống con người vận hành trong những ngõ ngách của Lý với Tình, đôi khi có cả Chí , vậy mà triết học lại duy lý thì đi sao nổi vào đời sống. Chính vì triết học quá duy lý nên nguyện vọng triết vương của Platon chỉ là một giấc mộng không tưởng, và triết chỉ còn lẩn khuất trong một vài phòng học y như một ngành chuyên môn nào khác vì đã để mất hẳn địa vị bà chúa toả uy tín trên khắp các kiến thức vì bơm sinh khí cho chúng bằng một mối quán thông. Và hiện nay triết được dậy trong chương trình giáo dục của ta cũng như các đại học thì chính là thứ triết học như được đề nghị trong tập sách này khó hi vọng thấy được hiện thực.

Tuy thế vì nền triết lý giới thiệu ở đây có tính chất toàn diện gởi đến cho toàn dân chứ không còn hạn cục trong bốn bức tường hàn lâm trường ốc, cho nên vẫn chưa đến nỗi thất vọng, vì ngoài hàn lâm trường ốc chúng ta còn cả một khối nhân dân, nhiều triệu nhân dân, và đấy là môi trường chúng ta có thể hoạt động, và nếu biết tổ chức thì sẽ trở nên mạnh mẽ có khi đạt được khả năng khôi phục địa vị cho triết ít ra phần nào như xưa lúc các tư trào Tây Âu chưa xâm nhập. Và bấy giờ chúng ta sẽ đủ bảo đảm tìm đáp số cho câu trả lời sau đây: ai sẽ đứng ra hiện thực trở lại lý tưởng triết vương. Nói khác ai sẽ hiện thực nền quốc học như được đề nghị trong tập sách này? Ai? Dân chúng hay chính quyền? Câu trả lời tất nhiên là chính quyền, bởi chỉ có chính quyền mới nắm đủ quyền lực và phương tiện, là những yếu tố thiết yếu cho sự hiện thực bất cứ một ý tưởng nào có tầm mức quốc gia. Tuy nhiên nếu ta theo được đúng tinh thần Việt Nho thì sẽ thưa rằng phần lớn là dân. Dân mới là gốc là bổn là óc còn chính quyền chỉ là cấp thi hành, ví được như trái quả cây, còn muốn cho trái được sai thì cần bơm tưới gốc cây, muốn cho những điều bàn trong các chương trên thành sự thực thì cần nhân dân phải hành động. Phó mặc cho chính quyền thì chỉ là truyện may rủi. Trong hiện tình đất nước thì hầu hết là rủi. Bởi vì những người nắm chính quyền hầu hết được đào tạo theo đường lối của Tây Phương, còn về Đông phương thì chỉ biết bằng nghe ngóng và phần nhiều là mắc tự ti mặc cảm. Bởi Đông Phương vừa huyền bí, lại đã bị lãng quên lâu ngày, nên nay muốn nhìn lại khuôn mặt cũ thì cả là một công trình dài hơi, nếu không là người vừa có tâm huyết vừa kiên trì vững dạ thì làm sao thấy được. Vậy mà những vị nắm quyền hành đã phải hiến phần lớn thì giờ vào việc hành chánh, cho nên giả sử trong số có ai muốn nghiên cứu cổ học cũng khó tìm ra thì giờ. Và vì thế hầu hết chính quyền được điều khiển theo óc công chức, một lối làm việc duy lý rất gần kiểu máy móc phần mở, nên lạnh lùng, trốn tránh trách nhiệm nhiều được ngần nào hay ngần đó. Như vậy là một lối làm việc ngược hẳn với lý tưởng của nền quốc học đang dự trù; nó đòi phải có tinh thần cán bộ với những cái nhìn trên toàn diện với bầu nhiệt huyết hăng say với lòng yêu quê nước cao độ. Bấy nhiêu đức tính nếu có gặp được trong một số công chức thì cũng chỉ là luật trừ thưa thớt nên không thể trông vào đấy được. Vậy phải làm thế nào? Có nên đặt vào tay dân chúng mấy việc quan trọng như bộ giáo dục, bộ văn hoá, Đại học văn khoa? Không được, vì ai sẽ đứng ra lựa chọn người đủ tư cách? Nếu lại bỏ phiếu theo lối ngày nay thì chắc chi những người đủ tư cách đã được chọn và như thế chúng ta lại ở trong cái vòng luẩn quẩn. Vậy thì toàn dân phải tìm một đường lối khác để có thể vươn tới ý thức của chủ nhân, còn nhà nước chính quyền chỉ nên coi là chân tay, là những kẻ thừa hành phần nào như tiên tổ chúng ta đã có thời hiện thực được. Làm thế nào để đạt được như vậy? Thưa cần phải làm chủ được dư luận.

Xét về một mặt thì sự coi trọng dư luận là một việc thông thường không có chi mới mẻ xa lạ mà cần phải bàn tới, nhưng xét theo hoàn cảnh đặc biệt của nước ta thì lại có chỗ cần phải đem ra mổ xẻ. Đó là vấn đề làm cho dư luận có bề thế. Thiếu bề thế thì dư luận cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc: chính quyền vẫn có thể bịt tai. Mà rất nhiều trường hợp chính quyền có lý để mà làm thế bởi vì dư luận chưa được huấn luyện. Xin lấy một thí dụ thiết cận đến vấn đề gây dựng quốc học. Đã có những ý kiến về vấn đề này nên có thể gọi là đã có dư luận. Song những người đại diện cho dư luận này mới chỉ được huấn luyện theo văn hoá ngoại lai, chưa được vun đúc trong bầu khí quốc hồn thành ra khi nêu ra dư luận thì một là không sâu xa đủ để móc nối được với cơ cấu tinh thần dân tộc nên nhiều luồng dư luận nếu không do những cán bộ văn hoá Việt cộng nắm vững tung ra để gieo hoang mang thì cũng đầy mảnh vụn, tản mát. Hai nữa nếu ăn may mà trúng chiều hướng dân tộc thì cũng chỉ ở đợt lương tri, không đủ sức huy động tinh thần đa số, cho nên thường lẻ loi trơ trọi thiếu hậu thuẫn dân chúng. Chính vì thế mà dư luận thiếu sức nặng và dễ bị chính quyền coi thường. Muốn tránh tai hoạ đó, muốn trả lại cho dư luận thế giá của nó tự ngàn xưa, ít ra trong phạm vi văn hoá giáo dục thì cần tổ chức và huấn luyện những người đại diện cho dư luận nhân dân. Nói cụ thể là những người muốn nói lên tiếng dân tộc cần đứng chung vào với nhau thành một trận tuyến văn hoá. Trận tuyến đó sẽ qui tụ những người cùng chung một niềm tin như nhau thí dụ:

Thâm tín rằng nước ta đã vì ý hệ ngoại lai mà sa vào thế phân hoá và bị xâm lăng.
Thâm tín rằng chỉ có thể chữa trị thảm trạng này bằng sự thống nhất tinh thần trên nền tảng văn hoá dân tộc.
Thâm tín rằng chỉ có một hội văn hoá hợp thời đại mới trông đạt được điều mong ước chính đáng đó.
Thâm tín rằng thời này là thời tranh đua của các ý hệ, các triết thuyết, nước nhà muốn tồn tại thì văn hoá phải hưóng mũi giùi về phía đó.
Thâm tín rằng sự đứng chung trong một mặt trận sẽ giúp đắc lực vào việc thống nhất văn hoá, cũng là việc làm cho dư luận có cơ sở nên dễ trở nên mạnh.
Thâm tín rằng chỉ khi có một mặt trận như thế thì những người thiết tha yêu nước mới có một đất đứng để mà hoạt động cho công ích ít nguy cơ bị lợi dụng, bị sa đoạ vì sẽ không đi vào chính trị, mà chỉ làm văn hoá cách vô vị lợi

Nếu có được một mặt trận như thế thì chính quyền sẽ có ngày được cung ứng cho nhiều công chức có óc cán bộ, nhiều chiến sĩ có óc tông đồ, quốc dân sẽ giữ được vai trò chính cốt là hướng dẫn và kiểm soát nền quốc học. Chính vì thế sự cùng đứng vào với nhau trong một hội là điều tối quan trọng và đáng cầu ước cho có được một hội như thế. Hội văn thì nhiều rồi, nhưng một tổ hợp những tâm hồn có óc triết thì chưa, mà có triết thì mới trông được nền vững. Vậy cần phải làm thế nào để liên kết những tâm hồn triết, những người ưa thích triết? Đó là điều khó, bởi vì những tâm hồn triết thường ưa thích tĩnh mịch, đơn chiếc vì đấy là phong thái thuận lợi cho sự suy tư. Tuy nhiên thời nay là thời ngự trị của lượng số, nên thiếu liên kết thì tiếng nói lẻ loi không đủ mạnh, không ai thèm chú ý đến, mà như vậy là một điều bất hạnh cho quê nước vốn từ xưa vận hành trong ánh sáng minh triết.. Chính vì thế mà những tâm hồn triết phải chịu hy sinh một số thì giờ cho việc liên kết, đặng khuyến khích nhau và cần cùng nhau lên tiếng hay hành động, có vậy mới tạo được hiệu nghiệm cho tiếng nói của triết. Có vậy tiếng nói chân thành của dân tộc mới không bị lấn át trước các tư trào ngoại lai đã được tổ chức rất vững chắc, nếu không có một sự liên kết tối thiểu nào về phía văn hoá dân tộc thì dù nền văn hoá này còn có những người hâm mộ nhiệt thành đến đâu đi nữa rồi cũng chỉ là những cá nhân trơ trọi lẻ loi sẽ bị xiêu bạt trong cái mớ quần chúng vô dạng (amorphe masse) và như vậy sẽ không tránh nổi làm mồi ngon cho bất cứ trào lưu nào cũng có thể cưỡng ép lôi đi.

Bạn sẽ hỏi liệu còn tìm được đủ số người nhiệt thành để mà trở thành một lực lượng chăng? Muốn trả lời điểm này cần phải có một bộ máy dò mìn để tìm ra những quả mìn là các tâm hồn nhiệt huyết với dân tộc. Máy dò đó là gì nếu không là một tổ chức, tuy rất lỏng lẻo nhưng cũng là một tổ chức ít nhất để tìm ra người đồng thanh đồng khí. Riêng chúng tôi cũng biết được một số tuy nhỏ nhưng cũng đủ để có lý tin rằng nếu chịu tìm kiếm thì số đó còn nhiều, ít ra đủ để làm thành một nhóm. Chúng tôi dám tin như thế vi số người chúng tôi biết chỉ là tình cờ tuyệt nhiên bên ngoài sự tìm bạn. Vậy mà cũng thấy được một số có thể cho phép tin rằng dòng máy văn hiến chưa ngừng chảy trong người Việt Nam, và dầu trong hiện trạng đầy thối nát cũng vẫn còn có thể tìm ra những tâm hồn cao khiết đại diện cho hồn thiêng của muôn thế hệ tiên tổ đã dựng nên nước Việt Nam này và bao lần đã cứu nó khỏi diệt vong. Hồn thiêng đó vẫn còn phảng phất trên giải non sông này, vì thế tôi cho là đã đến lúc các vị đó phải tạm thời bỏ giai đoạn ẩn náu, phải vượt qua những dè dặt e ngại để đứng vào một thứ liên lạc nào đó để gây lại Tinh thần. Tinh thần đó trong trường hợp hiện đại của nước nhà không là chi khác hơn là hồn văn hoá dân tộc, mà các cụ xưa cũng kêu là Đạo, và các cụ đã nói cách chí lý: “Đạo mất trước nước mất sau”. Chúng ta có thể tiếp: vậy muốn nước còn thì cần đạo còn. Nên trong các việc làm để cứu quốc thì cứu đạo là việc tiên quyết.

Trích Kim Định- chương VII, sách Vấn đề Quốc học

Nho giáo là của văn minh người Hoa hay của người Việt?

Triết gia Lương Kim Định là người dầu tiên chứng minh được Nho giáo chân chính là Việt Nho, chứ không phải là Hán Nho.

Tiêu chí khoa học căn bản cho một lý thuyết nhân danh khoa học xác định rằng:

“Một thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng thì nó phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”

Xét theo tiêu chí ấy, Kinh Dịch, Hà Đồ, Lạc Thư..vv…vv…hết thảy những nền tảng lý thuyết ấy đều phù hợp với nền văn minh Viêm Việt của chúng ta chứ không phải là Hán Nho. Xin lấy một ví dụ dễ hiểu: nền văn minh Hán Nho chủ trương một chồng có nhiều vợ và thiếp, hay nền văn minh Chàm mà sau khi chồng chết thì phải chôn sống vợ theo chồng..vv…vv…tất cả đều không đại diện cho triết lý âm dương quy định một vợ-một chồng. Tuy nhiên, luật thiên nhiên này lại được thể hiện rõ trong nền văn hóa Việt Nam, ngoài quy định một vợ một chồng ra còn thể hiện trong sự đối xứng một-một trong vô số câu ca dao-tục ngữ. Ví dụ: môi hở răng lạnh, chó treo mèo đậy..vv…vv…đều là những cách ăn nói thể hiện tính đối xứng âm dương, mà ngoài Việt Nam ra không một nền văn minh nào có được.

Giáo sư Lương Kim Định là người khởi xướng triết Việt và đặt nền móng đầu tiên. Do đó, chúng tôi gọi ông là vị tổ sư của Triết Việt.

Bằng một lối chứng minh trực quan và sinh động, ông đã chứng minh được một cách không thể chối cãi rằng, nền văn minh Việt Nam là nền văn minh hậu tự duy nhất còn sót lại của nền văn minh Viêm Việt đã làm bá chủ toàn cõi Đông Á.

Mời bạn xem chứng minh chi tiết trong cuốn sách mỏng có tên là Giáo trình Việt Nho căn bản- Dẫn nhập vào thuyết An Vi. Cuốn sách được tải miễn phí tại đây: https://goo.gl/GKjh3n

Giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam, tập 1 và tập 2

 

Kính thưa quý vị và các bạn.

Xét thấy rằng, các giáo trình văn học cổ điển xuất bản trước năm 2019 còn nhiều phiến diện,

Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức biên soạn bộ tài liệu:

Giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam, tập 1 và tập 2

Đây là tài liệu thiết kế riêng cho sinh viên văn khoa. Đồng thời văn học cổ điểm cũng cần thiết và ơn ích cho nhưng ai muốn tìm lại cội nguồn dân tộc, tìm lại những giá trị truyền thống. Đây là nỗ lực cải cách học thuật của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam trong suốt những năm qua.

Giáo trình này khác với những giáo trình từng biên soạn trước ở chỗ công nhận Kinh Thi là một bộ phận cấu thành của Văn học cổ điển Việt Nam. Có nghĩa là, bộ Giáo trình văn học cổ điển khác ít nhất 10 thế kỷ. Bởi những giáo trình trôi nổi trên thị trường hiện nay làm việc với văn bản quãng thời nhà Lý ( thế kỷ X, XI), trong khi giáo trình do Nghiệp đoàn giáo chức xây dựng khai quật được những bản văn của nền văn minh nông nghiệp Bách Việt ở bờ Nam sông Dương Tử, tức là có trước công nguyên. Hoa tộc mãi sau này mới từ bờ Bắc mà sang được bờ Nam sông Dương Tử. Chính vì vậy Kinh Thi thể hiện tinh thần của Việt tộc, xứng đáng được đưa vào môn văn học cổ điển trong chương trình đào tạo sinh viên văn khoa. Đề quyết này mang tính táo bạo, làm thay đổi triết lý giáo dục ở Việt Nam.

Bộ giáo trình này không hướng sinh viên tới chỗ học thuộc lòng, các em được mang sách vở ghi chép vào trong các kỳ thì giữa kỳ và cuối kỳ. Tuy nhiên chỉ những em hiểu sâu sắc nhờ học thuộc mới có thể đạt được điểm cao, còn lại các em không thuộc văn bản, phải mở sách ra để chép bài thơ thì thường đạt điểm số trung bình. Tất cả các em đều qua môn, những em thuộc thơ có thêm hành trang vào đời.

Không chỉ vậy, bộ giáo trình Văn học cổ điển Việt Nam công làm việc với các văn bản viết bằng chữ Khoa Đẩu- là dạng tự đầu tiên của Việt tộc. Chính vì vậy chúng tôi tự tin khẳng định rằng giáo trình này vượt xa giáo trình đang giảng dạy trong các trường đại học có chuyên ngành văn hiện nay.

Để nhận bộ giáo trình này, bạn đọc có thể gửi email về địa chỉ điện thư: info@nghiepdoangiaochuc.org

Trân trọng.

33849111_198864920926963_8731457599808995328_n

Chương trình đào tạo văn khoa do giáo sư Lê Trí Viễn thiết kế đã xuất hiện lỗ hổng và cần thiết kế lại.

Nhà giáo Lê Trí Viễn- Ảnh tư liệu

Chương trình đào tạo văn khoa do giáo sư Lê Trí Viễn thiết kế đã xuất hiện lỗ hổng và cần thiết kế lại. Trong đó, hai môn bắt buộc phải đưa vào là môn Việt Nho và môn Triết Văn. Mặc dù rất giỏi, rất tâm huyết nhưng nhận thức còn phiến diện và chưa đủ chín, giáo sư Lê Trí Viễn đã không nhìn ra hai đặc thù này của nền đào tạo văn khoa.

Vì sao phải đưa vào chương trình môn Việt Nho-vì Việt Nho là tư tưởng chủ đạo của dân tộc, là bảo vật trấn quốc của ông cha ta qua hàng thế kỷ. So với các thứ triết khác thì môn triết Việt Nho phải làm xương sống cho chương trình đào tạo, còn những học thuyết từ Tây đưa vào chỉ là tùy phụ.

Vì sao phải đưa chương trình môn Triết Văn vào chương trình giảng dạy? Vì đó là nhịp cầu bắc giữa môn Triết và môn Văn. Thiếu môn này, sinh viên khoa Triết không biết cách diễn đạt vấn đề. Cũng vì thiếu môn này nên sinh viên khoa văn rơi vào tình trạng lời đẹp cầu âu, viết trúng trúng trật trật.

Việc đưa hai môn Việt Nho và Triết Văn vào chương trình giảng dạy được xem là một cuộc cách mạng học thuật ở Việt Nam.

Hiện nay đã có tổ chức đầu tàu trong việc biên soạn giáo trình Việt Nho và giáo trình Triết Văn. Giảng viên ngành Việt Nho và ngành Triết Văn đang được Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam đào tạo gấp rút cho kịp với tình hình thực tiến của Việt Nam. Những giảng viên này giảng dạy theo lời mời của các trường đại học đào tạo ngành văn hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có thiện chí cho nỗ lực cải cách đào tạo ngành văn của Việt Nam.

Download Giáo trình Việt Nho: https://goo.gl/GKjh3n
Download Giáo trình Triết Văn: https://goo.gl/B81uxJ

Để đóng góp ý kiến cho giáo trình Việt Nho và giáo trình Triết Văn, mời bạn gửi thư về địa chỉ: info@nghiepdaongiaochuc.org
Trân trọng.

Giới thiệu giáo trình Triết Văn- Philo-Lettres

Lời nói đầu

Làm văn hoá mà lầm thì giết muôn thế hệ.

Mỗi một nước, một dân cần phải có một nền chủ đạo. Nền chủ đạo ấy phải xuất phát tự nội, nghĩa là tìm tiêu chuẩn ngay trong chính mình. Tìm ra nền chủ đạo ấy đáng lý ra là công việc của toàn dân. Song, những người học triết khoa- văn khoa-sử khoa được đào tạo kỹ càng hơn thì có sứ mệnh lớn hơn trong việc tìm ra nền chủ đạo để toàn dân chiêm ngưỡng và vụ tưới tài bồi. Môn chuyên ngành hiểu về nền chủ đạo của dân mình và biết so sánh lợi-hại với nền chủ đạo của các dân xung quanh gọi là môn Triết Văn.

Việt Nam hiện còn thiếu một ngành gọi là ngành cử nhân Triết Văn ( Philo-lettres). Khi các bậc sĩ phu có ý tưởng lập ra ngành này, họ hy vọng sẽ là một cầu nối giữa triết và văn. Đến thời chúng tôi là những người phác thảo thành giáo trình, chúng tôi nhận thấy rằng ngành Triết Văn còn ơn ích cho ngành sử. Vậy ngành Triết Văn giúp thực hiện lý tưởng văn-sử-triết bất phân, tưởng chừng một đi không trở lại thì nay chúng tôi có ý định vực dậy.

Trong năm 2019, Ban cải cách học thuật của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam bắt đầu xây dựng ngành Triết Văn cho hệ thống giảng đường Việt Nam. Đây là dự định còn dang dở của đại học Văn khoa Sài Gòn từ năm 1973, do điều kiện đất nước chiến tranh mà chưa thực hiện được.

Nếu bạn đã đọc các tác phẩm và có ý tưởng xây dựng ngành Triết Văn như chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi để bắt đầu cho khối lượng công việc lớn này.

Là những người đầu tiên khai mở ngành học này cho Việt Nam, cuốn giáo trình này rất giản lược, hầu cho bạn đọc có căn bản để sau này làm việc, nhất là những bạn làm trong ngành xuất bản và các công việc trên mặt trận văn hóa nước nhà.

Bản mà bạn đang cầm đọc trên tay viết lần đầu ngày 05 tháng 03 năm 2019, cập nhật mới nhất 21h59 ngày 18 tháng 03 năm 2019.

Cuốn giáo trình này được phép sao chép, in ấn mà không cần phải xin phép trước, với điều kiện duy nhất là phải tuân thủ đúng tinh thần của người biên soạn.

Chủ biên Lê Tín- ngành văn học, trường đại học Văn Khoa Sài Gòn,
Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Tải miễn phí giáo trình Triết Văn ( Philo-lettres):  https://goo.gl/B81uxJ

Lại chuyện đề văn

Tình cờ tôi đọc được trên facebook của 1 bạn nào đó đưa lên ảnh 1 bài văn bị điểm không (0). Giáo viên ra đề như sau: “Em hãy viết lại bài thơ Qua đèo Ngang”

Học sinh này làm bài bằng cách viết 1 bài thơ khác dựa trên vần bài thơ nguyên gốc của Bà huyện Thanh Quan. Bài làm của em Học sinh như sau: (xem ảnh bên dưới)
Qua đèo Ngang
Nhảy qua đèo ngang bỗng mất đà
Đập đầu vào đá máu tuôn ra
Lom khom dưới núi tìm y tá
Y tá theo trai không có nhà
Thiếu máu đau đầu em sắp chết
Nhìn qua nhìn lại chẳng thấy ai
Khắc lên bia mộ dòng thông báo
“Nhảy qua đèo ngang nhớ lấy đà”

Tôi đọc lời phê thấy viết:“10 điểm sáng tạo! Gọi phụ huynh gặp tôi 9h sáng Thứ 2”
Chưa bàn đến chất lượng nội dung và hình thức bài thơ của Học sinh; tôi chỉ bàn về đề văn và lời phê của Giáo viên.
1) Nếu mục đích và yêu cầu của Giáo viên là chép lại nguyên văn bài thơ Qua đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan để kiểm tra xem Học sinh có thuộc thơ không (mà chắc mục đích là thế) thì đề văn phải chỉnh lại cho chuẩn xác như sau: “Em hãy chép lại bài thơ Qua đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan”; không phải là “viết lại bài thơ…”.
2) Khái niệm “viết lại” trong đề “em hãy viết lại bài thơ…” của Giáo viên hoàn toàn có thể làm cho Học sinh hiểu viết lại là viết một cách khác đi, giống như kể lại một cách sáng tạo câu chuyện cổ tích vậy.


3) Lời phê của Giáo viên viết:“10 điểm sáng tạo!” có thể hiểu như thế nào? Đó sẽ là 1 lời khuyến khích, động viên nếu chỉ mình câu ấy. Nhưng ngay sau đó lại là câu lệnh “Gọi phụ huynh gặp tôi 9h sáng T2” và ô điểm bên cạnh ghi con số 0 to đùng gạch đít thì câu “10 điểm sáng tạo!” chỉ là sự chế giễu.

Đọc đề văn trên lại nhớ giai thoại từ hồi tôi còn ở xứ Thanh. Có Giáo viên ra đề: Hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về chị Sứ. Một Học sinh làm bài như sau: “Chị Sứ là chị Sứ nào? / Cớ sao lại được vận vào văn chương?/ Em đi tìm khắp bốn phương/ Hay là chị Sứ ở phường Lò Chum?”. Mấy câu thơ muốn nhắc nhở người ra đề: phải ghi rõ chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất của nhà văn Anh Đức thì đề mới chuẩn xác.

Gặp những bài làm “đầy sáng tạo” như trên, Giáo viên khoan hãy cho Học sinh điểm 0. Cần bình tĩnh và xem xét thật kĩ, trước hết là xem mình có gì sai không, rồi sau đó hãy tìm một giải pháp phù hợp. Tiên trách kỉ, hậu trách nhân.

11- 03-2019

Nhà giáo Đỗ Ngọc Thống/ Facebook

Vấn đề chữ Nho: Có nên học chữ Nho nữa chăng?

Đó là vấn đề đã được đặt ra và chưa được giải quyết dứt khoát. Nhưng nếu đã nhận một số sách Nho làm kinh điển thì nhất định phải học chữ Nho. Tuy nhiên chúng ta cũng nên tìm hiểu xem đó chỉ là cái ách nặng cần phải chấp nhận hay có ơn ích gì chăng và phải học Nho cách nào? Từ ngày có quốc ngữ mà tôi sẽ gọi là chuyển tự thì chữ Nho bị phế bỏ đi như một thứ văn tự lỗi thời chứ không thể so đọ với chuyển tự trong các lợi ích của nó: học mau hơn chữ Nho ít ra gấp 10 lần, lại dễ đi sang chữ quốc tế… Vì tiện lợi như thế nên chuyển tự không để Nho giữ được địa vị xưa. Sau này vì một số người hoài cổ, tranh đấu cho chữ Nho một hai giờ, nhưng cũng không mấy ai chú ý, nên nay bỏ hẳn. Mà bỏ là phải vì lối dạy cũng như lý do bảo trợ chữ Nho đều mất gốc.

Tại sao cần duy trì chữ Nho? Câu thưa hơi kém là vì chữ Nho có liên hệ với nước ta. Thiếu chữ Nho không thể hiểu trọn vẹn tiếng Việt. Đó là những lý lẽ đúng nhưng lại tuỳ phụ. Bởi vì có biết bao người không học chữ Nho mà vẫn hiểu được tiếng Việt, và viết văn Việt còn hay hơn những người biết Nho là khác. Ngoài ra còn phải ghi nhận tính chất bật rễ của ý lẽ trên tức là nhấn mạnh đến văn chương ngôn ngữ, đó là theo Tây đặt ngôn từ trên hết, ngược hẳn với Đông phương đặt ngôn từ xuống hàng ba sau thành công và thành nhân. Thực ra nếu chỉ nhằm có mục đích hạn hẹp về ngôn từ thì bỏ Nho là phải. Vì không có chữ Nho tiếng Việt vẫn có thể phong phú cách này hoặc cách khác và công nghệ kỹ nghệ cũng vẫn tiến như thường, nên đứng về hai mặt này thì tiếng Anh giúp ta nhiều hơn chữ Nho.

Vậy lý do đưa chữ Nho vào phải lấy từ đợt nhất là “lập đức” tức là thành nhân, và ở đây thì tiêu chuẩn phải đổi. Ở thành công cũng như học viết học đọc thì sự mau lẹ là nhất, nhưng ở thành nhân lại phải chú trọng đến sự xâu xa, thâm trầm giàu chất rung cảm lay động tới nền móng vô thức con người Việt Nam chúng ta, và lúc ấy thì chữ Nho trở thành cần thiết, không thể lấy chuyển tự thay thế, và dù khó nhọc đến đâu cũng phải học và còn nên coi đó như một cái may mắn lớn lao cho nền văn hóa nước nhà. Bởi vì một tác phẩm càng khó thì càng có sức giáo hóa mạnh, vì nó đòi phải có nhiều tập trung tinh thần và nhờ đó dễ có tư tưởng. Và đấy là chỗ lợi hại của tử ngữ hơn sinh ngữ. Sinh ngữ học đến đâu hiểu đến đó liền; tử ngữ bắt người học phải tìm ý tưởng qua gốc tiếng, hay mối liên hệ với toàn bích và đấy là dịp cho các học giả trở nên sâu xa trong khi tìm ý nghĩa ám hợp nhất trong rất nhiều ý tưởng gợi lên do một tiếng. Chính vì thế một nền văn hóa sâu xa bó buộc phải có hai loại ngôn ngữ: một thứ thông dụng hàng ngày trong công việc làm ăn, cũng như trong việc truyền thông mọi ý tưởng từ công nghệ kỹ nghệ lên tới đạo lý và đó là chữ quốc ngữ hoặc chuyển tự, và chuyển tự đã chơi vai trò đó một cách tuyệt vời. Xét trong thế giới đố ai tìm ra chữ dễ đọc hơn thông ngữ Việt. Ta ghi ơn những người có công thiết lập ra lối văn tự này. Tuy nhiên ta phải nhận thức rằng thông ngữ mới chỉ nắm vai tròn vòng ngoài gắn liền với lý trí, giác quan rõ rệt và dễ dàng. Thế nhưng nếu nền giáo dục chỉ có những cái dễ dàng minh bạch, khúc chiết thì nền giáo dục đó làm cho người học chóng trở thành bì phu thiển cận, hời hợt bởi “dễ học thì cũng dễ quên”, “easy come, easy go”. Vì thế mà cần một lối văn tự khác, một ngôn ngữ khác để chuyên chở những cái sâu xa, những di sản sơ nguyên của dân tộc. Vì là sơ nguyên (primitif) nên cũng là tối hậu (irréductible) vì nối liền với nền minh triết tiềm thức (subconscient Wisdom) tức là cái u linh, cảm nhiều mà nói ra rất khó vì nó gắn liền với niềm vô thức, cần một ngôn ngữ thiếu đường viền, với những bờ cõi nhập nhằng trồi sụt giữa các loại từ, với một ngữ pháp lỏng lẻo… và với ta đó là chữ Nho. Nho là thứ chữ của Minh triết, của tiềm thức hơn bất cứ cổ ngữ nào trong nhân loại, nên bất cứ cổ ngữ nào cũng đều đã trở thành tử ngữ, chỉ riêng chữ Nho là trở thành linh ngữ linh tự, tức là vẫn sống mạnh và đầy uy lực đầy cảm xúc như bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng nhận ra (xem chẳng hạn Granet, Pensée Chinoise tr.36, 39, 62). Vì thế ta phải coi chữ Nho là một đặc ân mà ít dân tộc nào có được. Mà cũng vì không có, nên văn hóa của họ chỉ có sinh ngữ và tử ngữ.

Tử là chết nghĩa là không gây ảnh hưởng vào việc định hướng đời sống văn hóa hiện tại là bao nhiêu. Và vì thế mà văn hóa thiếu mất chiều sâu. Cho nên văn hóa nước nhà nằm trong miền ảnh hưởng của chữ Nho là một ơn huệ, và ta cần khai thác triệt để ân huệ đó. Vì thế ta sẽ coi chữ Nho là cơ sở vòng trong căn để minh triết, còn thông ngữ ở vòng ngoài thuộc thành công, văn nghệ, văn học văn chương. Nhờ có hai ngôn từ như thế nền văn hóa nước nhà có khả năng trở thành phong phú sâu xa với một cơ sở tinh thần rất mạnh mẽ. Và lúc đó văn hóa nước ta mới có linh tự (hiéroglyphe) làm căn để cho linh ngữ, mà linh ngữ là chìa khóa mở vào kho tàng tiềm thức bao la, thiếu nó thì một nền văn hóa có sáng lạn đến mấy cuối cùng cũng không đủ sức quyến rũ được con người muôn thưở. Vì nếu chỉ có sức quyến rũ hay đúng hơn chỉ có ơn ích cho con người phải sống trong xã hội, phải ăn làm nói năng, phải thành công, phải giải trí… thì chưa đủ; vì phần sâu xa nhất là tính bản nhiên con người chưa có chi đáp ứng. Cái đó là việc của linh tự linh ngữ. Chính vì thiếu linh ngữ mà văn hóa Tây Âu tuy rất phong phú dồi dào nhưng không vượt qua nổi trình độ du hí (tuồng kịch, tiểu thuyết…) không sao vươn tới nổi triết lý… để đến nỗi “vất cho chó ăn nó cũng chưa no”. Đó là câu nói tàn nhẫn nhưng rất thật, vì chúng ta chưa hề thấy có những chiến sĩ hi sinh hết thân tâm cho nền văn hóa đó, vì là nền văn hóa duy trí, duy chí (volonté) nên quá hời hợt không thể lôi cuốn được con người có cả vòng trong là tiềm thức mênh mông vô biên. Cũng vì thiếu vòng trong nên giáo dục Tây Âu đặt trọn vẹn trên lý trí và ý chí mà thôi, thiếu hẳn một dụng cụ đào sâu vào cõi vô thức (xem Vocation Sociale, Gurvitch I.148). Nền giáo dục nước ta nay gọi là vong bản, chính vì cũng chỉ có thành công, và du hí: văn chương, tiểu thuyết, văn học, triết học… Muốn có phần tâm linh thì với Tây phương hầu như bất lực, không phải vì họ kém ai, chỉ vì họ đã không may không còn linh ngữ nữa. Ngược lại với Việt Nam, muốn cho nền giáo dục bớt bì phu, thì chỉ có việc đưa Nho trở lại chương trình. Một khi đưa Nho vào là ta đã có một lợi khí thống nhất. Thống nhất với tiên tổ xa xưa đã cùng học chữ Nho trong những sách đó, thống nhất với các thế hệ một hai ba ngàn năm sau sẽ có một chuyển ngữ khác, và khó lòng hiểu được tiếng nói Việt Nam hiện đại. Nhưng về linh tự lại cũng học một thứ chữ Nho như tiền nhân và cũng như ta nay, thành ra trong cái biến thiên là chuyển ngữ của mỗi đời lại có một linh ngữ đời đời giống nhau để làm mối liên hệ văn hóa ràng buộc các thế hệ với nhau theo hàng dọc đặng làm xương sống bơm sinh khí là hàng ngang là văn hóa mỗi thời. Cái bí quyết làm cho nền văn hóa Viễn Đông mạnh mẽ sâu xa là ở đó: ở chỗ không những có tiếng nói cho cá nhân mỗi thời mà còn có tiếng nói cho dân tộc trải qua mọi đời. Muốn cho được những ơn ích trên chúng ta cần phải bàn xem nên dạy chữ Nho như thế nào.

DẠY NHO CÁCH NÀO?
Điều này tối quan trọng vì có những cách dạy chữ Nho mà vẫn bật rễ như thường. Để nhận định chúng ta hãy kiểm điểm lại xem có mấy lối học Nho. Thưa có ít gì ba lối.
Một là học như sinh tự
Hai là học như sinh tự sinh ngữ
Ba là học như linh tự linh ngữ.
Học như sinh tự là kiểu của người Tàu, họ đã biết sinh ngữ rồi không cần học lắm nữa nay chỉ học thêm mặt chữ vậy gọi là sinh tự. Người ngoại quốc muốn học chữ Tàu phải học cả sinh tự lẫn sinh ngữ, tức phải học cả chữ lẫn tiếng Tàu. Thí dụ sách Tân quốc văn dạy: “điểu hữu lưỡng dực cố năng phi. Thú hữu tứ túc, cố thiện tẩu”, với người ngoại quốc thì đó là lối học sinh ngữ, và sinh tự. Họ phải biết điểu là con chim, đó là sinh ngữ, và phải biết đọc và biết viết chữ điểu vậy là sinh tự. Đó là cái học hoàn toàn hợp lý cho người ngoại quốc khi muốn giao thiệp với người Tàu. Và đó là cái học hữu lý một phần cho người Tàu, tức phần nhận mặt chữ, nhưng còn phần nội dung thì người Tàu cũng đã bật rễ như chúng tôi sẽ bàn sau về tiếng Việt. Còn đối với Việt Nam mà cũng học như thế thì phải kể là cái học chuyên môn nghĩa là chỉ cần cho những ai giao thiệp với người Tàu, tức là cái học không cần cho hết mọi người Việt. Cho nên dạy như thế là đặt mình vào hướng sinh ngữ, hướng chuyên môn, nghĩa là với tình trạng hiện nay là tiếng Anh rồi sau là tiếng Pháp, chỉ cần có bấy nhiêu, còn chữ Nho hiện không mấy giúp vào việc anh làm giao thiệp hay khoa học chi lắm. Cho nên dạy chữ Nho theo lối sinh tự sinh ngữ chỉ là chuyên môn nghĩa là tạm để dành cho thế hệ chúng ta nay đã không được học từ lúc nhỏ, còn khi nói đến đưa Nho vào chương trình giáo dục, là phải nhằm vào việc giáo dục làm cốt yếu như thế phải dạy theo lối linh tự linh ngữ, nói khác học Nho là cốt học đạo làm người mà tiên tổ đã bao đời kinh nghiệm tích lũy lại. Nói cụ thể là lấy ngay những sách đã được tuyển chọn làm sách dân tộc, làm kinh điển để dạy. Dạy như thế là trước hết nhằm vào nội dung, rồi mới đến mặt chữ. Mặt chữ phải giúp vào việc duy trì nội dung. Thí dụ trong khi đọc câu “nhơn chi sơ tính bản thiện” là học được nội dung triết lý rất sâu xa, mà một trật cũng học được mặt chữ. Còn trong khi đọc câu “điểu hữu lưỡng đực cố năng phi…” thì chỉ học được có mặt chữ và ý nghĩa một câu, còn nội dung câu nói thuộc thường thức không cần học rồi cũng biết, và điều đó hầu không giúp chi vào việc truyền đạt di sản thiêng liêng của dân tộc chi cả. Vì thế dùng những bài kinh Thi vắn tắt bốn chữ một dễ học. Cũng có thể dùng Tam tự kinh hay Sơ học vấn tân hoặc 14 truyện đầu Lĩnh Nam trích quái học bằng chữ Nho. Ngoài ra những sách Tam thiên tự hay Ngũ thiên tự tuyệt đối bỏ vì chỉ là học chữ rời, không có nội dung, càng không nên đặt ra sách mới vì không phải là kinh nữa. Để chống lại lối dạy cổ hủ xưa chúng ta đã đi theo lối khoa học, là tiến từ đơn sơ đến phức tạp, tức từ chữ ít nét đến nhiều nét, rồi theo đó đặt ra một câu nói xuôi cốt để tránh lối học ê a chẳng hiểu chi ý nghĩa. Đấy là một bước tiến, nhưng bước tiến đó phải thực thi với những sách kinh điển. Nếu để thực hiện được bước tiến kia mà phải chạy ra ngoài để làm bất cứ một câu nào thì tiến một mà lùi mười, tiến được trong phương diện dạy mặt chữ, nhưng bỏ mất nội dung của đạo lý. Học xong đọc được chữ Nho, nhưng không biết chi tới đạo lý của nhà Nho. Thành thử cả hai người dạy lẫn người học không nhận ra vai trò của chữ Nho đâu cả. Cái hại học chữ Nho theo lối sinh tự, sinh ngữ là ở đấy. Học như thế không giúp chút nào vào việc tránh cái thông bệnh thời đại là tán loạn trong tâm hồn. Dù có biết chữ biết nghĩa, nhưng học xong rồi cũng quên hết vì nó nằm trong cảnh rời rạc kiểu Tân quốc văn. Ngược lại khi học Nho theo lối linh tự linh ngữ thì khi học xong người học đã được truyền thụ lại cho một nền đạo lý của tiên tổ có thể dùng làm mối dây để xỏ thêm các sự hiểu biết mới, thành ra phong phú tới đâu cũng có một tiêu điểm để hướng tới, rồi có thể làm cho thêm phong phú, hay chỉ hướng tới để đả phá, nhưng tất cả đều có chỗ hướng tới và như thế là còn tiêu điểm để ý cứ, để khỏi vật vờ và nhờ đó dễ trở nên mạnh mẽ, và đó là mục tiêu tối hậu của giáo dục. Dạy như thế là người dạy đã đóng góp phần lớn nhất, quan trọng hơn hết vào việc “giáo dục” con người vậy. Nói khác khi dạy Nho giáo theo linh tự linh ngữ là người dạy đã làm tôn hẳn giá trị của chữ Nho lẫn giá trị người dạy, ngược lại khi dạy theo lối sinh tự sinh ngữ thì chỉ là việc của nhà chuyên môn, hiện nay không mấy thiết yếu.

Cần thêm rằng lối dạy bằng kinh điển không có hại chi cho việc phân tích từng chữ cũng như trong việc đi từ chữ đơn đến chữ kép. Nhất là chúng ta biết khả năng đi từ đơn đến kép không có nhiều trong chữ Nho khi muốn dùng các chữ đó làm ra một câu có ý nghĩa, nên dẫu có vứt bỏ kinh điển để đi ra ngoài tự ý lựa chọn, thì chỉ sau mấy chữ đã phải đi đến chữ nhiều nét (Tân quốc văn bài 1 gồm chữ nhơn hai nét. Bài hai gồm hai chữ thủ và túc thì chữ túc tới bảy nét!). Vậy không nên vì tiện lợi thuộc phương pháp mà bỏ mất nội dung. Làm thế là dạy ăn sò mà chỉ nhai có cái vỏ, không biết chi đến cái ruột đầy sinh tố. Vậy thì chỉ nên dạy theo lối linh tự linh ngữ nghĩa là dạy kinh điển, và lấy bản văn đó làm cơ sở phân tích. Thí dụ: “đại học chi đạo, tại minh minh đức” thì nên phân tích chữ đại, chữ chi… và khi lên mấy lớp trên thì trở lại phân tích ngữ luật. Cũng như sau này lên mấy lớp trên nữa (đệ ngũ đệ tứ) thì trở lại trên kinh điển để làm phê bình nội ngoại và triết lý… Thành ra cùng một bản văn mà trong thời kỳ đi học được trở đi trở lại thì tức là chôn vững được cơ sở tinh thần dân tộc vào tâm hồn người học. Cũng xin ghi rằng lối dạy này là đi từ tổng quát tới phân tích là lôi được nền giáo dục mới đang khám phá (Méthode globale idéovisuelle của Decroly), bắt đầu dạy thuộc lòng câu sách, rồi sau đến nhận mặt chữ, rồi viết chữ, ít năm sau đến ngữ luật, rồi ít năm sau lại đến ý tứ sâu xa… thì đó là lối đi từ tổng quát thị giác đến ý nghĩa: rất hợp tâm lý vậy.

Lương Kim Định.

Học trò của triết gia Lương Kim Định liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam

Thưa quý vị, thời gian qua, một số học trò của triết gia Lương Kim Định đang sống ở hải ngoại đã liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam. Những bậc trí thức này nhìn nhận rằng, Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam (nhóm nghiepdoansinhvien@gmail.com) là lực lượng tiên phong trong nước đang tìm về với Việt Lý, phục hoạt lại một học thuyết cổ truyền của dân tộc. Đọc tiếp “Học trò của triết gia Lương Kim Định liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam”

Giải pháp cho sách giáo khoa

Trong status trước tôi có nói đến chuyện 1 hay nhiều sách giáo khoa. Toàn bộ nội dung tập trung khẳng định: nhiều Sách Giáo Khoa là 1 chủ trương đúng, nhưng đừng hiểu đổi mới chỉ có thế; yếu tố nào là quyết định của đổi mới. Status này xin bàn về giải pháp cho sách giáo khoa theo chương trình mới.

1) Tôi cho rằng vẫn cần triển khai biên soạn sách giáo khoa theo hướng mà Nghị quyết 88 của Quốc Hội đã nêu: “Thực hiện xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa; có một số Sách Giáo Khoa cho mỗi môn học… Để chủ động triển khai chương trình Giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục & Đào Tạo tổ chức việc biên soạn một bộ sách giáo khoa”. Cụ thể thực hiện định hướng ấy như sau:

a) Bộ Giáo dục & Đào Tạo cứ việc tổ chức viết bộ sách của Bộ theo cách làm của Bộ, đáp ứng yêu cầu triển khai lộ trình đổi mới 2020 với Lớp 1 và đến 2024 đủ tất cả sách các môn học cho 3 cấp.

b) Vẫn khuyến khích các tổ chức cá nhân làm sách giáo khoa cho các môn học khác nhau. Các sách này không lệ thuộc vào tiến độ, thời gian và không cần phải đầy đủ tất cả các môn học, lớp hoặc cấp học. Nghĩa là có thể viết 1 hay vài cuốn cho 1 hay vài môn, ở 1 hay vài lớp khác nhau; có thể có ngay nhưng 5-10 năm sau biên soạn cũng được.

c) Sách của Bộ hay của các tổ chức cá nhân đều phải thẩm định Quốc gia bình đẳng như nhau. Vì thế cần đặc biệt coi trọng việc thẩm định. Để tránh độc quyền trong phát hành bộ sách của Bộ cần tách bạch chuyện biên soạn và chuyện in ấn, phát hành.

2) Việc triển khai nhiều bộ sách giáo khoa những năm đầu sẽ rất phức tạp trong quản lí và tổ chức dạy học. Theo nguyên tắc này, trong 1 địa phương, các trường có thể dùng nhiều bộ/ cuốn sách khác nhau; giáo viên có thể dùng cùng lúc nhiều sách khác nhau; học sinh có thể tham khảo nhiều sách khác nhau của 1 môn… Vì thế việc đánh giá sẽ không đơn giản, gồm cả đánh giá việc dạy của giáo viên, việc quản lí chuyên môn của nhà trường và đặc biệt là việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Như thế trước mắt cần tập trung nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên; tăng cường tính chuyên nghiệp của việc thẩm định, đánh giá… Đó là một công việc không hề đơn giản, nếu muốn làm thật, không báo cáo láo, không mắc bệnh thành tích và hình thức chủ nghĩa.

3) Với chương trình theo định hướng phát triển năng lực, sách giáo khoa không quan trọng như trước nữa mà chương trình và yêu cầu cần đạt của chương trình mới là chỗ dựa quan trọng nhất. Dù 1 hay nhiều bộ sách giáo khoa, thì vẫn phải đổi mới cách biên soạn, đặc biệt là cách dạy học và kiểm tra, đánh giá. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã được thiết kế nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu vừa nêu. Nhưng từ định hướng ấy đến thực hiện cụ thể là 1 khoảng cách cực xa. Và nếu không triển khai đúng sẽ phá hỏng tất cả mọi sự cố gắng.

Nước ta rất có kinh nghiệm về việc đề ra đường lối, chủ trương rất hay nhưng làm thì rất nhếch nhác và hiệu quả thường rất thấp.
6-3-2019

Nhà giáo Đỗ Ngọc Thống- chủ nhiệm cải cách sách giáo khoa Ngữ Văn/ Facebook

Bắt tay xây dựng giáo trình Triết Văn nhập môn cho Việt Nam

Trong năm 2019, Nghiệp đooàn giáo chức Việt Nam giúp đỡ Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam trong việc xây dựng ngành Triết Văn. Đây là dự định còn dang dở của đại học Văn khoa Sài Gòn từ năm 1973, do điều kiện đất nước chiến tranh mà chưa thực hiện được.

Nếu bạn đã đọc các tác phẩm và có ý tưởng xây dựng ngành triết văn như chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi để bắt đầu cho khối lượng công việc lớn này. Bắt tay xây dựng giáo trình Triết Văn nhập môn cho Việt Nam là bước làm việc đầu tiên.

Hội đồng điều hành,
Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.