Vai trò cố vấn và hướng dẫn trong học tập và nghiên cứu ở Canada

Trong bài gần đây với tựa đề là “Chỉ có dạy học khai phóng mới đạt thành tựu tốt đẹp”, thầy Đặng Đăng Phước gợi ý là tại sao ngành Giáo dục & đào tạo không nghiên cứu lựa chọn các nội dung khoa học phù hơp với người học nhằm tạo cảm hứng sáng tạo cho học sinh? Thầy Phước viết là, thiết nghĩ, lối dạy học của các nhà sư phạm Việt Nam cả một quá trình dài truyền thụ kiến thức một chiều, lâu dần nó hình thành trong não bộ của người học:”Thầy luôn đúng, lời thầy là khuôn vàng thước ngọc” – Với lối truyền thụ này, học trò luôn bị cái bóng của ông thầy bao phủ đến nổi các em làm gì, nói gì cũng sợ trái ý thầy (!) nay đã lỗi thời (1). Dưới đây, tôi trao đổi cách dạy bên Canada.

Ở cách làm việc và học tập bên Canada, các cô thầy thường đóng nhiều vai trò mà có chút đỉnh khác nhau để việc hướng dẫn học tập và nghiên cứu có hiệu quả. Các vai trò nầy là dựa vào nghiên cứu giáo dục để hoàn thiện việc chuyển đổi kiến thức và kinh nghiệm từ người dạy và người học một cách hữu hiệu nhất (2). Các vai trò của các cô thầy bao gồm dạy học, hướng dẫn học trò để họ tự học và suy nghĩ, và cố vấn để họ có thể trở thành những người tự học, tự làm, độc lập trong suy nghĩ và hành động. Tôi chú tâm kể về vai trò cố vấn của các cô thầy bên nầy bởi vì tôi đã được hưởng lợi từ nó rất nhiều và tôi cũng đang thực hành vai trò này trong công việc làm hằng ngày của mình.  

Quá trình cố vấn và khuyến khích là một quá trình theo đó một người có kinh nghiệm, được đánh giá cao, đồng cảm (người cố vấn) hướng dẫn một cá nhân khác (thường là trẻ hơn, người được hướng dẫn) trong việc phát triển và kiểm tra lại ý tưởng, học tập và phát triển cá nhân và nghề nghiệp của chính họ. Người cố vấn, thường (nhưng không nhất thiết) làm việc trong cùng một tổ chức hoặc lĩnh vực như người được hướng dẫn, đạt được điều này bằng cách lắng nghe hoặc nói chuyện một cách thông cảm với người được hướng dẫn.

Thuộc tính cá nhân của người cố vấn hiệu quả

Các thuộc tính cá nhân của những người cố vấn hiệu quả là những người không chỉ tạo dựng, mà còn cho phép và khuyến khích việc tạo ra một môi trường an toàn để nhận dạng và khám phá những điều cá nhân và riêng tư và thẳng thắn về tất cả các thái độ tích cực và tiêu cực, hy vọng, nỗi sợ hãi và kinh nghiệm của những người được hướng dẫn. Các thuộc tính nầy có thể liệt kê như sau.

Vị tha và hào phóng: Người cố vấn phải thực sự thích cố vấn, và phải sẵn sàng dành thời gian và năng lượng đáng kể (đôi khi rất lớn) cần thiết để phục vụ những người được hướng dẫn của họ một cách vị tha.

Nhiệt tình: Những người cố vấn hiệu quả thể hiện sự thích thú và hứng thú đối với tài liệu liên quan đến việc học tập của người được hướng dẫn, trong việc theo đuổi và áp dụng kiến thức mới để cải thiện kiến thức nói riêng và trong cuộc sống nói chung.

Hiểu biết và có lòng thành: Những người cố vấn hiệu quả hiểu được từ đâu mà người được hướng dẫn đến, và nhận thức sâu sắc về sự khác biệt về sắc tộc, ngôn ngữ, giới tính và thế hệ có thể tạo ra rào cản đối với việc cố vấn hiệu quả.

Không phán xét: Những người cố vấn hiệu quả tránh ép buộc những ý tưởng của riêng họ về những gì tốt nhất cho các con đường sự nghiệp và sự phát triển của những người được hướng dẫn của họ và không phán xét về các giá trị, thái độ và khát vọng của người được hướng dẫn. Thay vào đó, họ giúp những người được hướng dẫn sắp xếp những thứ này theo ưu tiên của người được hướng dẫn.

Kiên nhẫn: Những người được hướng dẫn có cách học và làm việc khác nhau và những người cố vấn hiệu quả có thể chẩn đoán những điều này và kiên nhẫn với những người có thể bắt đầu sai, giúp họ suy nghĩ lại và nhận định ra giới hạn của họ.

Trung thực: Những người cố vấn hiệu quả là trung thực trong việc đưa ra ý kiến và ví dụ lịch sử về giá trị và khả năng thành công (và thất bại) của các ý tưởng, bài báo và bài thuyết trình của họ. Họ luôn luôn ủng hộ và trong những lời chỉ trích tiêu cực vẫn nêu rõ tính xây dựng, nghĩa là, với những gợi ý để cải thiện.

Sẵn sàng đàm luận: Những người cố vấn hiệu quả không chỉ khuyến khích những người được hướng dẫn của họ nêu ra bất cứ điều gì để thảo luận, và có thể tham gia để tìm cách trả lời các vấn đề nêu ra.

Đáng tin cậy: Do nhu cầu giao tiếp cởi mở, các cố vấn hiệu quả phải duy trì tính bảo mật của những trao đổi giữa người cố vấn và người được hướng dẫn. Bởi vì những người được hướng dẫn phải có thể tự do thảo luận các vấn đề về tài chính và sự nghiệp cá nhân, người cố vấn của họ không nên trực tiếp kiểm soát vị trí, tiền lương hoặc các nguồn lực quan trọng khác như chia cắt văn phòng hoặc hỗ trợ hành chính. Những kiểm soát như vậy can thiệp vào việc trao đổi tự do và cởi mở về ý tưởng, ưu tiên, nguyện vọng và phê bình trong các cuộc đối thoại.

Đáng tin cậy: Người cố vấn hiệu quả tiếp tục cố vấn, giữ đúng hẹn và đúng giờ, và luôn làm theo các cam kết của họ. Theo đó, những người cố vấn hiệu quả không đảm nhận những người được hướng dẫn mới trừ khi họ có thời gian để lo cho công việc liên quan đến cố vấn.

Lắng nghe tích cực: Khi trả lời những người được hướng dẫn của mình, những người cố vấn hiệu quả thể hiện cả ba điều sau đây: i) đảm bảo họ hiểu những gì mà người được hướng dẫn của họ nói qua cả lời nói và dáng điệu, ii) đảm bảo họ nhớ những gì mà người được hướng dẫn của họ đang giao tiếp, iii) đảm bảo họ tránh các rào cản thường gây trở ngại cho việc trao đổi, chẳng hạn như gạt bỏ mối quan tâm của người được hướng dẫn hoặc có các thành kiến hay phê bình về họ. 

Khuyến khích: Người cố vấn hiệu quả qua hành động tạo một mô hình tốt cho người được hướng dẫn. Họ qua hành động biểu lộ môt động lực cá nhân cao cho sự xuất sắc, hành vi đạo đức và hành vi chuyên nghiệp đúng đắn.

Tự đánh giá: Những người cố vấn hiệu quả thường xuyên đánh giá hiệu suất của họ và hỏi những người được hướng dẫn thông qua việc tự đánh giá và phản hồi về quá trình cố vấn.

Những hành vi hiệu quả của người cố vấn đối với người được hướng dẫn

Các thuộc tính cá nhân đã nói ở trên được thể hiện trong các hành vi cụ thể đối với người được hướng dẫn. Một vài khía cạnh của các hành vi cụ thể nầy là như sau.

Khả năng tiếp cận với người được hướng dẫn trong nhiều tình huống đặc biệt. Người cố vấn hữu hiệu sẽ liên lạc với người được hướng dẫn nếu người được hướng dẫn cần được cố vấn, ít nhất là có thể truy cập nhau qua điện thoại hoặc nhắn tin.

Làm việc chăm chỉ để phát triển mối quan hệ quan trọng với người được hướng dẫn của họ, bằng cách làm việc chăm chỉ để làm cho mối quan hệ với người được hướng dẫn thành công. Khi sự khác biệt về sắc tộc, ngôn ngữ, giới tính và thế hệ đe dọa đến quá trình cố vấn, những người cố vấn hiệu quả sẽ tạo ra những mối quan hệ đối tác an toàn, đáng tin cậy, tôn trọng, khiến cho những vấn đề này không ảnh hưỡng đến giá trị của quá trình cố vấn.

Luôn luôn cung cấp trợ giúp trong mối quan tâm tốt nhất cho người được hướng dẫn, trong việc xác định và làm việc hướng tới mục tiêu học tập và cá nhân của họ.

Xác định những điểm mạnh và điểm yếu hiện tại của người được hướng dẫn. Thông qua cả kinh nghiệm với những người được hướng dẫn trước và thực hiện sự hiểu biết, trung thực, lắng nghe tích cực và phản ứng nhanh của họ, những người cố vấn hiệu quả xác định, gắn nhãn và giúp người được hướng dẫn và phát huy những điểm mạnh hiện tại và tiềm năng của họ và khắc phục hoặc tránh những điểm yếu của họ.

Hỗ trợ người được hướng dẫn của họ trong việc xác định và đạt được mục tiêu của họ.

Giữ tiêu chuẩn cao cho thành tích mà những người họ hướng dẫn có thể đạt được.

Tạo dựng khả năng tương thích với phong cách thực hành, tinh thần, tầm nhìn và tính cách học tập của người được hướng dẫn. Những người cố vấn hiệu quả nhanh chóng chẩn đoán và so sánh những người được hướng dẫn của họ về phong cách thực hành và học tập, tầm nhìn và tính cách của họ, và nhanh chóng xác định qua sự so sánh xem người cố vấn có thể hướng dẫn người được hướng dẫn hữu hiệu không. Khi có sự không phù hợp, các cố vấn hiệu quả sắp xếp để một cố vấn tương thích hơn tiếp quản người được hướng dẫn.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá gửi về cho Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Nguồn

Số 1. https://nghiepdoangiaochuc.org/2020/01/06/chi-co-day-hoc-khai-phong-moi-dat-thanh-tuu-tot-dep/

Số 2. Sharon E. Straus and David L. Sackett. Mentorship in academic medicine. Wiley Blackwell. BMJ Books 2014.

Giáo viên Mỹ có phải viết sáng kiến kinh nghiệm không?

Xin trích nguyên văn một comment của một nhà giáo Hoa Kì.
Mời các giáo viên vào đọc!

“Sáng Kiến Kinh Nghiệm nghĩa là gì thế nhỉ? Ở Mỹ không ai cần phải có sáng kiến kinh nghiệm. Sáng kiến kinh nghiệm để làm gì? Chức năng của một nhà giáo là dạy, khai sáng, chuyển tải những hiểu biế đầy tình yêu thương của nhà giáo đến các học sinh của mình. Khi các học sinh của mình tiếp nhận trọn vẹn tất cả những hiểu biết của nhà giáo và trở thành những công dân tốt, thành đạt trong xã hội. Lúc đó nhà giáo mới nhận biết rằng mình đã thành đạt trong sứ mạng dạy dỗ các học sinh của mình. Sự thành nhân và thành đạt của các học sinh chính là phần thưởng lớn lao và cao quý nhất cho những nhà giáo có tâm huyết và có tầm nhìn xa, là gia bảo làm cho những nhà giáo tự hào và hãnh diện về khả năng của chính bản thân mình . Ở Hoa kỳ, Bộ giáo dục Mỹ cũng không yêu cầu giáo viên phải có sáng kiến kinh nghiệm bởi vì nó không có nghĩa gì cả. Tại sao em không viết những ý tưởng này thành ra một luận án để gởi đi tham dự giải Nobel Hòa Bình. Em có muốn cùng chị đồng tác giả của tác phẩm này không? Chị sẽ viết bằng Anh ngữ.

Tôn Nữ Thóc Nâu gửi Lã Minh Luận– chủ tịch Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Thêm một trò hề, thêm một cơ hội vun vén

Thêm một trò hề liên quan đến Bộ Giáo dục, khi Cục nhà giáo đưa ra ý kiến góp ý trong buổi dự thảo Luật giáo dục: “Việt Nam nên chăng có chế độ cấp chứng chỉ hành nghề dạy học để kiểm soát chất lượng đảm bảo của giáo viên trong thực tế hành nghề?”. Có phải chăng chính họ đang biến mỗi thành viên lãnh đạo của Ngành giáo dục nước nhà thành một chú hề dởm, làm trò cười cho thiên hạ?

Để trở thành một người giáo viên thực thụ, nghĩa là phải có bằng cấp Sư phạm, thấp nhất hiện nay cũng là Cao đẳng Sư phạm, với 3 năm được đào tạo trong trường Cao Đẳng. Cao hơn là Cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành sư phạm tương ứng 4 năm, hơn 6 năm, 9 năm…khi đã hoàn thành các khóa đào tạo, vượt qua các kỳ thi cuối khóa, bảo vệ tốt khóa luận, luận văn, luận án. Thì sẽ được các cơ sở đào tạo cấp các bằng cấp tương ứng và đó cũng là cơ sở tiền đề làm hành trang bước vào nghề giáo dục bao lâu nay.

Thế thì với ý kiến đề xuất cấp thêm “ chứng chỉ hành nghề dạy học để kiểm soát chất lượng đảm bảo” của Cục nhà giáo, có khác nào các loại bằng cấp sau đào tạo sư phạm chỉ là những mẫu giấy lộn, không thể hiện được quyền năng của nó và cũng là minh chứng cho quá trình đào tạo dỡ dang, thiếu chiều sâu chuyên môn của các trường Cao đẳng, Đại học, Cao học trong hệ thống giáo dục. Âu thế lại vạch áo cho người xem lưng hay biến mình thành những thằng hề làm trò cười cho thiện hạ hay sao?

-Thêm một cơ hội để các cấp, các cơ quan quản lý giáo dục có thể vun vén, ngồi xổm đếm tiền. Việc đề xuất cấp thêm chứng chỉ hành nghề dạy học cho giáo viên, chả khác nào thêm một tiêu chí bắt buộc phải đáp ứng nếu nhà giáo muốn tiếp tục đứng bục giảng, họ phải tham gia thêm một khóa học, ngốn một khoản tiền, một đống thời gian vô ích, nhưng đem lại một khoản thu lợi không nhỏ cho cơ quan quản lý, Bộ giáo dục và các thành viên của mình. Mà trước đó, mỗi năm trước khi bước vào năm học mới, với hàng chục các buổi thảo luận, tập huấn chuyên đề chương trình, sách giáo khoa, các chứng chỉ nghiệp vụ, các dự án của các công ty cung ứng thiết bị …chỉ mang tính giết thời gian, vô bổ, nhằm giải ngân hết nguồn kinh phí cấp mỗi năm cho các cấp, các đơn vị trực thuộc ngành mà không mang lại hiệu quả thực tế đối với nền giáo dục hiện nay.

Bên cạnh đó, sẽ nảy sinh nhiều hệ lụy đằng sau vấn đề liên quan đến “chứng chỉ” như việc chạy chọt, hối lộ, đi đêm để đạt được mục đích hữu thực cho cả hai phía.

Bởi với vấn nạn cung ứng các văn bằng, chứng chỉ dởm tràn lan như hiện nay, thì đây quả là một cơ hội tạo nguồn thu béo bở cho quản lý ngành giáo dục và cũng như các cấp, các ngành liên đới.

Nguyên nhân nòng cốt dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng và gần như mất hết niềm tin vào hệ thống giáo dục nước nhà không phải việc soi xét, đối chứng giá trị bằng cấp so với các nền giáo dục phát triển các quốc gia khác, mà bản chất của cơ chế yếu kém, dưới hệ thống quản lý trì trệ, cố chấp, độc tài.

Đặc biệt hơn ngay từ khi mở cửa đổi mới nền kinh tế, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã không xác định rõ tầm quan trọng của giáo dục, không xem “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng vững chắc cho công cuộc phát triển đất nước”, để có những hoạch định, những chính sách dài hơi, hợp lý. Đó mới là cốt lõi của vấn đề dẫn đến hậu qủa tệ hại của nền văn hóa, con người và xã hội hôm nay.

Thi Phạm

Đề nghị tác giả gửi thông tin tài khoản, bao gồm số tài khoản, chi nhánh ngân hàng mở khoản và tên chủ tài khoản để nghiệp đoàn trả nhuận bút.

Thư ngỏ gửi cô giáo hiệu trưởng Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đắk Lắk nơi thầy giáo Đặng Đăng Phước đang dạy học

Thưa cô hiệu trưởng,

Xin tự giới thiệu với cô tôi là công dân Ngô Thị Hồng Lâm. Năm nay tôi đã ngoài ngoài 60 rồi, tôi cư ngụ tại Vũng Tàu và là một bloger tự do.

Chuyên ngành của tôi: nghiên cứu lịch sử Đảng.

Vừa qua tôi có theo dõi đọc những STT của thầy giáo Đặng Đăng Phước đăng trên trang FB của thầy.

Từ ý kiến của thầy giáo Đặng Đăng Phước tại link bài: https://www.facebook.com/dangphuocMN/posts/1180684788764751 về việc nhà trường thu tiền thuê áo đồng phục của học sinh khi nhận bằng tốt nghiệp. Vấn đề thầy Đặng Đăng Phước đưa ra: “tôi hỏi BGH Trường TCSPMN Đăk Lăk thực hiện cho học sinh thuê đồng phục và thu tiền dựa trên văn bản quy định nào của Bộ Giáo dục?”.

Từ việc thầy Đặng Đăng Phước nêu những ý kiến của mình đã khiến Ban giám hiệu Nhà trường nổi giận với thầy giáo Đặng Đăng Phước và đã chỉ đạo khoa giáo viên tổ chức một buổi họp dưới danh nghĩa “Xét thi đua”. Nhà trường còn dùng những cmt trong STT của thầy Phước để “quan trọng hoá” vấn đề, cáo buộc thầy Phước làm tổn hại uy tín của Nhà trường! Theo chúng tôi đánh giá đây chính là một buổi mang tính “đấu tố” ấu trĩ với thầy Phước.

Xin hỏi các quý thầy cô: hoạt động của Facebook ở Việt Nam là một hoạt động công khai được cấp phép của Bộ Văn hoá, Thông tin và Truyền thông Việt Nam chứ không phải là một trang mạng bất hợp pháp, các cụ ta xưa gọi là “bán bạc giả”. Mọi công dân đều có quyền sử dụng fb mà luật không cấm. Vậy dựa trên cơ sở nào để các quý thầy cô kết luận “thầy Phước làm tổn hại uy tín của nhà trường”?

Ai vào cmt cứ việc, nhưng người đó phải chịu trách nhiệm phát ngôn của họ trước cộng đồng.

Thưa quý thầy cô,

Là một người có nhiều năm trong chuyên ngành nghiên cứu lịch sử Đảng, là một phụ huynh có con em đã thành đạt, chúng tôi thấy rằng: nếu sự việc xảy ra đúng như thầy giáo Đặng Đăng Phước đã lên tiếng thì chúng tôi hoan nghênh và rất mừng. Trong khi ngành giáo dục đã và đang có rất nhiều tai tiếng xấu đến mức vi phạm luật hình sự (điển hình là thầy Sầm Đức Sương Hà Giang đã bị xử lý) và gần đây là thầy hiệu trưởng Đinh Bằng My ấu dâm học sinh nam ở Phú Thọ (đã bị bắt giam), thì vẫn có những người thầy tâm huyết với nghề trồng người, bằng đạo đức và lương tâm chăm sóc học trò như thầy Đặng Đăng Phước, để chúng tôi yên tâm khi con em mình nhận được ở người thầy tấm gương, trong quá trình hình thành nhân cách ở trẻ.

Xét về pháp luật thì câu hỏi của thầy Phước không vi phạm luật hình sự?

Xét về thuần phong mỹ tục thì thầy Phước cũng không mắc phải!

Việc điều hành hoạt động của nhà trường dưới sự quản lý của Ban giám hiệu, đứng đầu là cô giáo hiệu trưởng, phải được dựa trên LUẬT PHÁP chứ không thể theo cảm tính. Khi Ban giám hiệu nhà trường có dấu hiệu “lạm thu” bị phản ánh thì lại dùng quyền lực của mình để áp đặt, lôi kéo các thầy cô khác bè phái tiêu diệt tiếng nói phản biện, và thầy Đặng Phước có nguy cơ đang bị đẩy vào một cuộc “đấu tố” ấu trĩ.

Cũng chính vì “bịt miệng” những tiếng nói phản biện tích cực của quần chúng bấy lâu nay đã là mảnh đất mầu mỡ cho tội phạm hình thành và phát triển, mà vừa qua những “thanh củi gộc” như 18 vị tướng của ngành công an, vài vị của Bộ TTTT&VH, và mới đây là 4 vị nguyên lãnh đạo Đảng Thành phố Hồ Chí Minh, đã được đưa “vào lò” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người quyết tâm thực hiện nghiêm minh kỉ cương phép nước!

Điều mà chúng tôi cần những thầy cô dành cho trẻ là bảo vệ trẻ khỏi các vấn nạn:

Bạo lực trong học đường như bắt trẻ uống nước giẻ lau bảng, hay cô giáo bắt học trò tát học trò.

Bạo lực học đường từ các em học sinh rủ nhau đánh hội đồng bạn học v.v…

Tại sao nhà trường không tổ chức hội thảo chuyên ngành để các thầy cô hiến kế đẩy lùi vấn nạn lưu manh này trong học đường mà lại là cuộc nhằm đấu tố tiếng nói trung thực?

Nhớ lại câu nói để đời của Tổng thống Obama khi ông sang thăm Việt Nam nói rằng: “tôi bị chỉ trích hàng ngày và nhờ đó nước Mỹ lớn mạnh”.

“Gà người gáy gà ta sáng”, thiết nghĩ việc triệu tập cuộc “đấu tố” với thầy Phước của Ban giám hiệu nhà trường, đứng đầu là cô giáo hiệu trưởng, đã đi ngược lại điều 25 Hiến pháp Việt Nam 2013: “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,hội họp, lập hội…”, nhằm đè bẹp tiếng nói kêu gọi sự công bằng và chăm lo cho học sinh từ thầy Đặng Đăng Phước.

GIÁO DỤC PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC, đó là mệnh lệnh và lương tri của thời đại. Hơn bao giờ hết nhà trường XHCN của chúng ta cần phải đề cao tính thượng tôn pháp luật trong các thầy cô và học trò. Cần gương mẫu trung thực, để truyền thụ lại cho lớp trẻ sống biết trung thực: Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai cầm dao doạ giết / Cũng không nói ghét thành yêu.

Trung thực là một đức tính quý báu nhất cần có trong tố chất người thầy dậy trẻ làm người.

Tôi xin dừng tại đây. Kính chúc các thầy cô một năm mới sức khoẻ và dậy tốt học tốt, xứng đáng là những thầy cô kiểu mẫu đứng trên bục giảng truyền thụ kiến thức và đạo làm người cho các thế hệ học sinh. Xã hội luôn vinh danh những người thầy như thế. Cám ơn các quý vị đã lắng nghe!

Vũng Tàu ngày 1/1/2019

Ngô Thị Hồng Lâm

Liên kết ngoài:

Ai đủ khả năng lãnh đạo nền văn khoa của dân tộc Việt Nam?

Tội ác của đội sao đỏ, đội cờ đỏ: Trời đánh không cần tránh bữa ăn.

Lời tòa soạn: Bài viết của tiến sĩ Chu Mộng Long, đại học Quy Nhơn- tỉnh Bình Định.  Với nỗ lực dẹp bỏ sự quá khích tiêm nhiễm vào đầu nhiều học sinh, tiến sĩ Chu Mộng Long phân tích rằng hình thức tổ chức sao đỏ-cờ đỏ để học sinh theo dõi lẫn nhau cần phải được xóa sổ.

Tôi vào lớp đúng 7 giờ sáng, thấy sinh viên đang ăn bánh mì hoặc xôi. Hiển nhiên thấy tôi, các sinh viên đó giật mình và vội vàng giấu thức ăn xuống gầm bàn. Tôi cười:
– Các con cứ ăn tự nhiên. Vừa ăn vừa học cũng được, ngoại trừ ăn những món có mùi và không được xả rác. Ở các nước văn minh, học sinh vừa ăn vừa học vẫn giỏi.
Sinh viên của tôi vẫn không dám lấy ra ăn tiếp. Tôi hỏi vì sao thế, không ăn thì lấy sức đâu mà học?
Một sinh viên rón rén lấy mẩu bánh dở dang ra ăn tiếp và nói:
– Học thầy sướng quá! Trước đây ở phổ thông, 7 giờ kém 15 học chính thức, chúng em phải vào lớp 6 giờ 30. Không kịp ăn sáng, nên thường là nhịn ăn hoặc chúng em tranh thủ mang bánh mì theo ăn trước giờ học. Tất nhiên đứng ở hành lang ăn. Nhiều khi đang ăn thì bị sao đỏ, cờ đỏ đi ngang qua giật phắt ném đi và ghi tên vào sổ đen.


Tôi thốt lên:
– Giời ạ, trời đánh còn tránh bữa ăn!
Sau đó, tôi hỏi một số giáo viên có chuyện đó không? Có, phổ biến, vì đó là nội quy chung. Đến 6 giờ 30 là phải vào lớp truy bài, không được ăn uống gì hết. Trường giao cho sao đỏ, cờ đỏ kiểm soát gắt gao.
Thảo nào các cháu sao đỏ, cờ đỏ tự cho mình to hơn ông trời.
Lại chợt nhớ thời hiệu trưởng Kiệt, sinh viên kí túc xá nấu cháo cho bạn bị ốm ăn. Trong lúc bạn đang ăn thì người quản lý nội trú và cờ đỏ giật phắt đi và đổ vào sọt rác. Sau khi bạo chúa Kiệt bị lật đổ, mô hình cờ đỏ mới hoàn toàn bị dẹp bỏ.


Học thì bị nhồi nhét mọi thứ vào sọ, còn cái dạ dày thì trống rỗng mà học sinh Việt Nam vẫn chịu nổi. Thật là sự chịu đưng phi thường! Và tội ác cũng phi thường!


Chu Mộng Long/fb

Những đức tính dân tộc

1.- Bàn về dân tộc có lỗi thời chăng ?

Nhân loại hôm nay đang tiến mạnh vào giai đoạn liên châu và cả liên hành tinh nữa thì tại sao lại không bàn về quốc tế, nhân loại mà còn đi bám víu vào những cái tư riêng bé nhỏ: dân tộc với quốc gia
Đấy là một câu hỏi phát xuất từ một tấm lòng quảng đại bao la như muốn ôm lấy cả nhân loại vào lòng đang sôi sục lên trong những đầu óc nhất là tuổi trẻ, tuổi ưa lý tưởng? Chúng ta cần nói ngay rằng đó là tư tưởng qúi hoá mà mọi người cần phải vun tưới tài bồi cho mối tình quảng đại ấy ngày được nảy nở tới sung mãn. Nhưng điểm cuối cùng này thưởng hỏng và hầu hết mối tình cao thượng kia trở nên trừu tượng tức là son đẹt. Sở dĩ có sự việc đáng buồn như vậy là vì mối tình cao thượng kia đã không được đôn hậu (đôn hồ nhân) trong tâm trạng an nhiên thư thái (an thổ) nhưng đã phát xuất do phản động chống lại cá nhân chủ nghĩa, là thuyết đã ngự trị lâu dài trên đất Âu Châu. Bởi ông tổ triết là Platon đã lấy sự nhìn ngắm các ý niệm làm cùng đích mà bỏ quên con người thực cho nên không thiết lập nổi tinh huynh đệ phổ biến là cái hồn cho tinh thần công thể. Đã thiếu hồn thì nhất định óc cá nhân gặp miếng đất trống để mọc lên um tùm , biến các người Âu Châu ra hầu như bấy nhiêu hòn đảo to vo cô độc giữa đại dương không có gì nối liền lại với nhau nữa. Bao nhiêu lý thuyết khác có hô hào mối tình chung thì cũng chỉ hô với hào thiếu nội dung chân thực. Vì thế mà có cuộc phản động của rất nhiều tâm hồn quảng đại, muốn cho toàn nhân loại trở nên như một, nổi nhất trong đám này phải kể tới cộng sản. Vì thế cộng sản ra đời với những chữ đầy tinh thần mới , rộng bao la như quốc tế, nhân loại, đại đồng v.v… Tất cả những chữ đó nói lên tấm lòng chân thành thương yêu mọi người chống lại tất cả những gì tư riêng. Bởi vì chính những cái tư riêng đó đã gây ra cá nhân chủ nghĩa là chủ thuyết vô tình dẫn con người đến chỗ chỉ biết có mình, có gia đình mình, cùng lắm thì có nước mình.
Thiện chí cộng sản có dư nhưng họ đã thất bại vì đã đi lối phản động, mà cái tật lớn của phản động là đánh mất một vài cái tế vi. Mấy cái tế vi đó chỉ với tinh thần bình tĩnh thanh thản mới nhận ra được. Tuy rất tế vi nhưng hậu quả lại to lớn vô biên. Đây là cái tế vi đầu tiên: Nếu hỏi yêu toàn thể nhân loại hay yêu một số người đàng nào cao hơn thì câu thưa rất dễ dàng: yêu toàn thể nhân loại cao hơn. Đó là lời đáp rất đúng và thường tình con người đi theo câu đó, và đấy là mầm mống gây ra tai hoạ, là vi hai chữ nhân loại đễ biến thành một ý niệm trừu tượng. Bởi vì khi tâm hồn con người bị qui hướng mạnh vào cái được tin là “toàn thể” thì dễ quên đi cái tiểu thể. Khi tôi không yêu anh ất chị Giáp là những nhân lân của tôi thì nhân loại chỉ còn là những danh từ trống rỗng. Để có 10 quả cam thì cần phải có 1,2,3 quả cam trước đã, nói khác nếu muốn có đại đồng thì phải có tiểu dị. Tiểu dị mới khó, cho nên yêu dăm mười người bên cạnh tôi khó hơn yêu cả nhân loại. Và cả nhân loại chỉ là một danh từ trừu tượng nó không hôi hách, không lẩm cẩm, không bẩn gắt, không ích kỷ…, thì đừng nói yêu một nhân loại ngay cả trăm ngàn nhân loại tôi cũng yêu ngon lành không sứt mẻ. Nhưng tình yêu ấy sẽ làm sứt mẻ những con người sống thực bên cạnh tôi.. Đấy là sự thật mà nếu không nhận ra thì những chữ đại đồng nhân loại sẽ trở thành cái bung xung che đậy lòng căm thù lân nhân. Tinh thần dân tộc đã bị lu mờ là do 80 năm thâu hoá bừa bãi văn hoá cá nhân Tây Âu để vun tưới cho loại tình yêu nhân loại trừu tượng kiểu đó. Lòng yêu thương nhân loại nơi một Hồ Chính Minh không ai dám chối cãi là cao, nhưng nó đã chắn mắt ông không cho ông nhận ra rằng ông đã tiêu diệt cả hàng ngan vạn đồng bào của ông tức là tiêu diệt những cái “tiểu dị” để phụng sự cho cái “đại đồng” nhưng đại đồng ấy đặt ở đâu? ở Moscou? hay Bắc Kinh? Tại sao lại không đặt ngay ở cái nước Việt Nam này? Tại sao không yêu thương những người đang sống ở đây và bây giờ, lại phải hướng mắt về những con người mai hậu ở mãi tận đâu bên Tàu, bên Nga, bên quốc tế? Vậy thì chú tâm đến dân tộc đã không phai là một ngãng trở nhưng còn là điều kiện thiết yếu để đi đến quốc tế, đến nền huynh đệ phổ biến chân thành, bởi vì không có phần mở lấy chi làm nên tập thể? Nếu thiếu mối liên hệ ràng buộc các phần nhỏ thành toàn thể thì cần phải đi tìm cái dây đó chứ không nên phá bỏ phần mớ! Nếu mỗi người đều sống cho mình, cho gia đình mà không lo cho nước, cho nhân loại thì cần tìm ra cái triết lý tạo nên tinh thần công thể để ràng buộc các tư nhân, các gia đình lại chứ nếu đem bỏ gia đình, bỏ tổ quốc đi hầu đạt đến quốc tế, thì sẽ được một quốc tế thiếu nội dung: gọi là trừu tượng. Vậy thì dù bước vào thời đại liên châu hay liên bang cũng cần có bang để mà liên, cho nên nói đến dân tộc là cần thiết, càng cần thiết hơn nữa khi những làn sóng quốc tế rỗng đang cám dỗ tâm trí rất đông người, đến độ trở nên một đe doạ bóp ngạt thở chút tinh thần dân tộc còn sống sót và đang ngoắc ngoải rẫy chết.

2- Sao không mới mà lại cũ

Bạn bè sẽ hỏi sao không mới mà cũ , vì nếu nói đến dân tộc thì sẽ lại phải đi moi móc lên những cái cổ xưa, thì nó sẽ níu chân mình lại không cho tiến xa? Thưa rằng cái đó tuỳ phong thái trở lại với cái cổ: chỗ quan trọng không là cổ với kim nhưng là đường lối. Có những đường lối làm cho sống động mà cũng có những đường lối chỉ chất đống lại không tiêm được luồng sinh lực nào vào những dữ kiện thâu nhập, với đường lối đó thì dẫu dữ kiện có mới, rồi cũng đốc ra những tri thức lạnh lùng chỉ tốt cho bác vấn mà thôi. Vậy thì không cần ngại cổ với không cổ, nhưng nên quan tâm đến đường lối, một khi đã có đường lối sống động thì chúng ta đừng ngại bàn đến dĩ vãng dân tộc. Hơn thế nữa càng nên bàn đến dĩ vãng vì nó là một động lực có sức định tính con người hơn hết. Đặc tính của sự vật là sự hiện hữu lù lù ra đấy, trọn vẹn trong lúc này, không một qui chiếu nào vào dĩ vãng hay một dự phóng nào vào tương lai. Con người khác con vật ở chỗ đó, ở chỗ có cả dĩ vãng lẫn tương lai, nên càng đào sâu vào dĩ vãng thì càng là người vì đào sâu thì không còn bám víu những dữ kiện lẻ tẻ những sẽ đạt tới vòng sinh sinh nối kết dĩ vãng tới hiện tại tương lai làm nên hiện tại miên trường bơm hăng say cho đời sống khiến nó trở nên sâu xa thăm thẳm. Đức tinh này biểu lộ một sự thống nhất bao la mà Việt Nho kêu là sự thái hoà hợp với những tích luỹ lịch sử (thời trời) cũng như hoà hợp với những điều kiện của khu vực (hiện tại). Những điều này trước đây không được triết học lý niệm lưu tâm vì là triết học lý niệm thì chỉ những ý niệm đã múc cạn sinh lực của nó rồi, vì thế mà người nay kêu là triết học bật rễ, không nhập thể (désincarné) tức là loại triết không chỉ biết đến điều kiện không thời gian. Chỉ căn cứ trên những câu định nghĩa khái quát về con người rồi đem ra úp vào đầu cổ mọi người bất kỳ ở đâu: đem chẳng hạn những suy tư của Karl Marx trước những hoàn cảnh đặc thù của Âu Châu thế kỷ 19 mà úp vào đầu cổ người Việt Nam thế kỷ 20…. là một việc hoàn toàn trái với thực tế: hậu quả tai hại của triết học duy tâm lý niệm xuất phát từ đó.

Theo triết Việt thì con người là kết quả của đức trời đất. Trời là thời gian, đất là không gian. Vậy con người kết quả của đất trời thì phải tuân theo điều kiện của khu vực cũng như thời đại và vì thế xây trên nền tảng dịch lý để luôn luôn thích nghi với những điều kiện thời không.

Con người có quyền làm khác chăng? có quyền coi thường điều kiện không thời gian đó chăng? Jung nhận xét thấy cái cười của tổng thống Roosevelt cũng như bao người Mỹ khác rất giống cái cười dân da đen bản thổ Châu Mỹ (Les problèmes de l’homme moderne 62, 43). Đó là ấn tích mà khu vực đóng lên thân xác của những người này như vậy dù muốn dù chăng thì người Mỹ cũng mang ấn tích của nơi cư ngụ. Ai cũng nói đến bưởi Biên Hoà, Cau Bà Điểm, nhãn Hưng Yên… tức là vô tình nói đến điều kiện khu vực. Ngày nay phương pháp trồng tỉa đã nâng những nhận xét thường nghiệm đó lên bậc khoa học. Vì thế trước khi quyết định trồng loại cây nào thì phải phân tích chất đất, tìm hiểu tất cả những yếu tố thiên nhiên bao quanh mới quyết định được loại cây nên trồng, trồng ẩu thì thất bại. Cũng nguyên lý đó đang được áp dụng vào việc trồng người và được đặt nổi do những khoa học mới chẳng hạn vào khoa học sau đây.

Ethologie là một ngành tâm lý loài vật học về các lối cử động, mỗi vật có một thế giới bao quanh riêng (Umwelt của V.Uexkull). Con báo nhốt trong chuồng tỏ ra rất khờ khạo, chỉ cần đi quanh một chút là có mồi, mà vẫn không nhận ra là vì thế giới bao quanh giả tạo không mang ý nghĩa nào đối với nó. Ngược lại khi thả nó vào hoàn cảnh thiên nhiên của rừng rú thì tất cả đều có nghĩa nên nó lượn quanh rất tài tình để bắt mồi. Người ta đang mở rộng phạm vi Ethologie áp dụng cho người và không còn chịu học về người cách to vo cô độc như trước nữa, nhưng học nó trong môi trường và qua mọi động tác có tính cách xã hội và tâm lý. Đường hướng này đã phần nào giống với triết học Đông , học về con người qua những công việc đồng áng giữa tiếng hát câu hò, cái cười đưa duyên, để do thám tình ái (Kinh Thi) những lối cai trị đối xử (Kinh Thư) những mối nhân luân đầy ắp mùi vị nhân tình thế thái nóng có lạnh có (Xuân Thu tả truyện). Vì thế khi ra trường người đi học đã làm quen khá nhiều với tâm lý của con người sống thật. Chúng ta có quyền hi vọng những cố gắng của Ethologie sẽ đưa ta trở lại cái học thiết thực lúc xưa. Khoa thứ hai là môi sinh (Ecologie) nhấn mạnh về ảnh hưởng khu ực trên những yếu tố tâm lý như lý tưởng, những nhu cầu, những lý do, cùng đích, nhận xét v.v… Thí dụ thiếu niên phạm pháp có nhiều hơn nơi những người di cư, bệnh thần kinh loạn óc nhiều hơn trong những khu xóm xô bồ tứ chiếng như chung quanh nhà ga hay các đô thị lớn v.v… Cuối cùng phải kể đến khoa uyên tâm mới khám phá ra nhiều cái bất lợi khi người ta không theo được điều kiện thời không, thí dụ một trong những tâm bệnh gọi là Schizophrenie người bị chứng đó thì tâm hồn như bị bổ đôi, nhân tính như bị phân tán ra nhiều khu vực riêng biệt không liên hệ với nhau. Hầu hết con người đều bị chứng nay ở trình độ nhẹ: nó ở tại đời sống thiếu thống nhất, chủ trương thiếu nhất quán vì bao gồm nhiều mâu thuẫn mà không hay biết. Và do đó không còn sự thâm sâu, nên không đạt tới tâm linh là tác động là vọt lên sự an nhiên thư thái. Con người đời này mang bộ mặt đầy lo âu khắc khoải là do đó.

Sau cái nhìn khái quát đặt trên đường vận hành của khoa học như trên ta nhận ra rằng có bàn về dân tộc tính thấu triệt mới là đi theo đúng đường hướng khoa học và một nền quốc học muốn đào tạo nên nhiều vĩ nhân thì không thể không đi theo con đường dân tộc. Đấy là việc cần chứ không là việc làm vì danh dự quốc gia quá khích nào cả. .

3- Những điều kiện qui định một dân tộc tính

Tuy nhiên cần phải tìm về dân tộc tính cách nào để tránh nạn bị ngưng đọng lại đợt cổ tục học hay mấy sách khảo cổ chất chứa toàn những yếu tố chết vì bám sát lấy tính chất thổ ngơi hình thức. Kinh điển gọi người là thiên địa chí đức, chứ không thiên địa chi hình. Vậy cần làm thế nào để đạt tới đợt Đức. Đức cùng với Tính là một, nên nói dân tộc tính hoặc là đức tính của dân tộc mà không thể nói khác. Trong viễn tưởng dân tộc thì Đức phải hiểu là luồng linh lực từ xa xưa tràn về và sôi lên sùng sục tiêm vào lòng ta một sức thần diệu như dâng lên mãi từ một số những phương thế giúp cho được gặp thấy luồng sóng đó, chẳng hạn về việc tế gia tiên khi giữ đúng với trai ngoại gái nội (như đã bàn trong quyển căn bản). Chúng ta có thể kể bào đây những lễ tế Thiên, tế Đình (tế Thần Hoàng)… là bấy nhiêu những vòi Robinet làm chảy ra những tia sống động, những cái mà tâm lý kêu là “centre de destin” = trung tâm quyết định vận mệnh như Bachelard gọi thế trong quyền la poétique de l’espace (P.28) hoặc nói như Freud đó là “những dây tình ái làm thành nền móng của hồn dân tộc” (Les attachements affectifs qui forment le fondement de l’âme collective). Ngoài ra chúng ta có thể tìm trong những linh tượng của dân tộc như Âu Cơ, Mỵ Châu, Hùng Vương… Nếu khéo khai thác thi đấy cũng là một gestalt, tức là một loại cơ cấu giữa khả năng linh động hoá tâm hồn dân tộc. Và như thế là chúng ta đi lại gần vấn đề quyết định quan điểm khai thác dân tộc tính. Chúng ta hãy mở đầu bằng câu hỏi rằng yếu tố nào quyết định dân tộc tính hơn hết? Hỏi như thế vì ai cũng biết rằng có rất nhiều yếu tố hoặc thuộc không gian cư ngụ (quê nước) hoặc thuộc thời gian (lịch sử) hoặc thuộc dân tộc (dòng máu) cũng như thuộc văn hoá… Chính vì nhiều yếu tố cấu thành dân tộc nên vấn đề xác định dân tộc tính trở thành phiền toái và rất bấp bênh, vì quá ít người biết phân biệt rành mạch quan điểm rồi vô tình đựa quan điểm tư riêng lên bậc phổ biến. Vậy cần chúng ta phải soát lại tầm mức giá trị của từng yếu tố.

Trước hết là dân tộc theo khía cạnh dòng tộc. Đây là một yếu tố được hầu hết các học giả trước cho là quan trọng nhất, nếu không là độc nhất. Đến nay người ta mới nhận ra rằng đó là yếu tố ít nền tảng nhất nên ít đáng tin cậy hơn hết. Vào những năm 1950-1951 văn hoá liên hiệp quốc đã uỷ thác cho một số chuyên viên thời danh nghiên cứu về vấn đề chủng tộc, thì đại để đã đạt kết luận như sau: trong cả nhân loại chỉ có ba nhóm dân lớn: một là caucasoide (da trắng), hai là Negroide (da đen) và ba là da vàng của Mongoloide. Ngoài ra các nhóm nhỏ khác chỉ có trong óc các người chỉ trương mà thôi. Về những lối phân chia cho rằng dân da đen nổi về giác quan, da trắng về lý trí… đều bị cho là bịa đặt, cũng y như thuyết cho rằng dân Aryen nổi vượt hơn các dân khác vậy. Hiện nay được kể như đã chứng minh (O.Klinneberg. Fr. Brown…) rằng sự dân này nổi vượt hơn dân khác chỉ là tương đối do hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hoá mà thôi chứ không vì yếu tố chủng tộc. Bởi vậy trong thực tế chỉ có thể xác định cách tương đối và theo khía cạnh thích hợp. Vì chúng ta đang bàn đến vấn đề quốc học, nên khía cạnh tương hợp ở đây phải là văn hoá. Đây cũng là khía cạnh tương đối vững nhất vì có một số tiêu biểu (sách và thể chế) thế mà lại ơn ích nhất: ơn ích vì ta có thể tác động bằng vun tưới, tài bồi thế mà lại hợp với đề tài chúng ta đang nghiên cứu: chúng ta không nghiên cứu về chủng tộc, thị tộc, dòng máu… nhưng là về dân tộc tính tức là những đức tính phân biệt nhóm người này ra khỏi nhóm kia đó là vấn đề thuộc văn hoá… Để một tập quán một thói tục có thể gọi là dân tộc tính thì phải đắp ứng được hai điều kiện: một là trường cửu tính hai là đặc thù tính mới hợp câu định nghĩa con người là thiên địa chi đức, Nét thứ nhất thuộc thiên nó quan trọng ở chỗ trường cửu vì có vậy mới là tính là đức mới bảo đảm là thuộc thiên, theo câu “thuận thiên giả tồn”. Cái gì tồn tại lâu dài là do trời. Nếu có tồn trường thì mới có thuận thiên và mới là đức tính, mới là mố cầu đi sang nhân tộc, vì tính trung thực không được nằm ngoài nhân tộc tính và đó có thể gọi là giống tức phần phổ biến bao la , trong câu định nghĩa trung thực gồm cả phần phổ biến lẫn phần tư riêng để xác định. Dân tộc tính cũng phải bao hàm cả hai phần đó. Trước hết là phần phổ biến , một nền văn hoá cao hay thấp là tuỳ ở nó có được nhiều yếu tố phổ biến hay chăng, vì chỉ có những yếu tố đó mới trường tồn, mới hợp cho con người muôn thuở, nói khác mới đáp ứng cho nhu yếu nền móng của mọi con người không phân biệt Đông Tây Kim Cổ. Tuy nhiên phổ biến chân thực không bãi bỏ cái tư riêng vì chính sự tư riêng mới là “nơi” thể hiện cái phổ biến, cái vô biên. Chính vì thế cần phải có yếu tố đặc trưng, vì nếu không thì không thể nói dân tộc mà chỉ có thể nói nhân tộc. Sở dĩ phải nói dân tộc, vì nhân tộc còn quá mông lung nó thuộc thiên, thuộc Thể, cần phải có nét độc đáo mới có phần hai là “địa chi đức” tức cái gì riêng biệt, thuộc Dụng vì thế cần cả chung (đức tính) cả riêng biệt đặc thù (dân tộc). Đấy là hai nét căn bản mà mỗi khi nói đến dân tộc tính đều phải kể tới.
Hãy đưa ra một thí dụ để minh hoạ. Chẳng hạn sự phong phú và vai trò quan trọng của ca dao có phải là một dân tộc tính của nền văn hoá Việt Nam chăng? Nếu thưa là có thì người ta có thể đặt vấn nạn rằng: Không thể nói vậy được vì cao dao trong bất cứ nền văn hoá nào mà chẳng có. Vậy điều đó không là đặc trưng nhưng chính vì đâu đâu cũng có nên là đức tính nghĩa là cái gì phổ biến thuộc mọi người. Bởi thế không nên tìm đặc trưng ở chỗ có hay không, vì tất cả mọi người đều có, đấy là điều kiện bất khả vô. Vậy thì phải tìm cách thể hiện và lúc ấy ta khám phá ra rằng chỉ Việt Nho mới có bộ “nạp ngôn” lo việc thâu nhặt lời của dân chúng, (tức ca dao vì dân chúng hay dùng lối vắn tắt là ca dao) Thứ đến là khi đưa về lại đặt vào kinh điển tức là những sách cao quí nhất của dân nước nên kể là “lời dân” được tôn kính chứ không thâu về rồi xếp xó đó hay chỉ để giữ vai trò trang trí. Rồi nữa ông trời Đông phương không có nói, nên tiếng dân không bị át, nhưng vẫn làm chủ tịch trong văn hoá. Đó là vài ba nét đặc trung trong nền văn hoá Việt Nho không tìm ra được nơi khác. Và vì thế ta có quyền nói ca dao kiểu nói thông dụng của dân là một nét đặc trưng của dân tộc tính. Trong câu đó có cả yếu tố nhân tính chung cho mọi con người đâu đâu cũng có ca dao, đồng thời là dân tộc tính vì ca dao ở đây có một cách chính thức, được trọng hậu. Vậy khi ta nói ca dao đóng vai quan trọng đặc biệt trong văn hoá Việt Nho thì không nên nhằm vào sự có vì đâu cũng có, nhưng nhằm vào sự đặc biệt của nó là:

1.- Được thâu nạp do một bộ trưởng trong chính quyền.
2.- Được kết đúc vào kinh điển.
3.- Không bị tiếng nào khác lấn át.
Quả quyết như vậy ta thấy lý trí thoả mãn hay ít nhất là ta đã có một số tiêu điểm cụ thể để xác định điều muốn nói.

Vậy mỗi khi bàn đến một đức tính nào được coi như là đặc trưng thì phải kể ra được một số nét thực sự đặc trưng, nếu không thì kể là vu vơ may ra trúng. Thí dụ bảo rằng sự mềm dẻo thích nghi thâu hoá là đức tính của dân Việt vì đã tiếp thu Phật giáo, Ki Tô Giáo, văn hoá Tây Âu v.v… thì mới đúng cho phần Dụng mà chưa chỉ ra được lý do nội tại. Như thế người ta vẫn có thể chối đi vì chẳng cứ gì Việt Nam, mà bất cứ dân tộc nào nếu có tồn tại đến nay mà chẳng biết thích nghi thâu hoá bởi đó là điều kiện để sinh tồn. Vì thế chưa đưa ra được lý do riêng biệt thì chưa nói được là dân tộc tính, mới chỉ là nhân tộc tính tức là người nào muốn sống cũng phải có đức đó. Đưa ra lý do địa dư như nước ta ở vào vị trí ngã ba nơi gặp gỡ các luồng văn minh thì cũng đã được nhưng chưa sâu đủ, vì cũng có các nước khác như thế . Nhưng nếu đưa ra lý do nước ta được tô tạo trong tinh thần Kinh Dịch tức là đã đem tính thích ứng lên hàng đầu đặt thành một kinh, một sách chuyên dậy về cách uyển chuyển thâu hoá. Có móc nối được như vậy thì mới có quyền gọi được là đặc trưng: đặc trưng ở chỗ đã không còn thâu thái thích ứng bừa bãi nhưng thích ứng theo nguyên lý đã nhận thức và ghi lại trong kinh điển v.v…
Sau đây là ít nét có thể gọi được là dân tộc tính đã bàn trong các sách trước chỉ ghi lại đây như một bản tóm.

1.- Văn tổ trong lễ gia tiên

2.- Bình sản (căn bản)
3.- Tình huynh đệ phổ biến (Căn bản)
4.- Thống nhất văn hoá (Căn bản)
5.- Kính lão (Trọng xỉ)
6.- Dĩ hoà vi quí….

Mời đọc sơ qua nhiều người đã la lên rằng đâu có đặc trưng thí dụ “tình huynh đệ phổ biến” thì nhiều nền văn hoá đề cập và nhấn mạnh chứ có riêng gì của Việt Nho. Nhưng nếu xét cặn kẽ thì mới nhận ra rằng đó là nét đặc trưng. Bởi vì không phải nói đến nhiều, nhấn mạnh lắm mà được. Làm thế chỉ là luân lý nghĩa là khuyến thiện ở bình diện lương tri thường nghiệm. Càng nói nhiều càng nhắc nhở luôn thì càng tỏ ra chưa đạt cơ cấu uyên nguyên. “Người ta chỉ nói tới răng khi răng đau” Bernard Shaw. Các báo chí nói đến điện khu bị cúp điện v.v…. Vậy căn cứ vào sự rậm lời mà quyết đoán là có thì dễ sai. Nên xem vào hậu quả thiết thực “xem quả biết cây” là câu sách hay nhất nhưng bị triết học lý niệm và các nhà văn chương ít chú tâm. Chỉ vận hành chung quanh Từ và Ý vì không đạt cơ nên không xét ở Dụng, nói để hiểu: xem quả (Dụng) thì biết cây (Cơ).
Trên đây chỉ là dăm ba thí dụ chứ không có ý trưng ra nhiều vì phải bàn khá dài, không hợp cho bài này chỉ có ý nhắc đến một số nguyên tắc. Ai muốn đi vào chi tiết từng đức tính một xin xem mấy sách của chúng tôi đã bàn khá kỹ lưỡng như Căn Bản, Việt Lý v.v…
Nói về Việt Nam như ngã ba các văn minh thì đúng nhưng không đặc trưng. Trong quyển Philosophie comparee ông Masson Oursel còn kể ra Tibet và các Inoulindes (P.87)

Trích Kim Định- chương 3 sách Vấn đề Quốc học

Cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai: viết cho ngày hiến chương các nhà giáo

 

Còn hơn chục ngày nữa Việt Nam  sẽ kỷ niệm ngày hiến chương các nhà giáo .

Chưa bao giờ nền giáo dục Việt Nam lại vô giáo dục như thời điểm hiện tại . Trước đây , tôi được may mắn học dưới mái trường Việt Nam Cộng Hòa . Thầy cô lên lớp tác phong chuẩn mực . Thầy giáo bỏ áo vào quần , trang phục của cô giáo luôn là chiếc áo dài .

Ngoài việc trau dồi kiến thức , chúng tôi còn được dạy bảo đạo đức , bản thân tôi cũng từng bị phạt khẻ tay khi viết chữ xấu hay một đứa con trai bị phạt quì khi không nghe giảng …. Mức độ phạt chỉ dừng đến đó . Thế nhưng 2 từ thầy cô vẫn được phụ huynh và học sinh gọi một cách trân trọng

Thảm cảnh của nền giáo dục Việt Nam thời hiện tại . Càng ngày càng xảy ra hàng loạt việc bức xúc cho toàn xã hội , các thầy cô là người trau dồi đạo đức kiến thức cho các em mà hành xử không thua gì bọn xã hội đen . Thầy giáo đem dao vô trường rượt đánh giáo viên nữ . Cô giáo thì đập đầu học sinh vô tường chỉ vì tội vẽ bậy lên tường …. Và còn nhiều rất nhiều vụ việc đã xảy ra mà chúng ta đã biết . Đạo đức nghề giáo ngày càng bị tha hóa , nhân cách giáo viên ngày càng bệ rạc .

Nhà dột từ nóc dột xuống , liệu tương lai con cháu chúng ta sẽ ra sao khi chúng trực tiếp chịu ảnh hưởng môi trường vô giáo dục từ các hành vi của thầy cô giáo thời hiện nay .

Ngày xưa đi học , đâu cần phải có ngày hiến chương các nhà giáo , mà phụ huynh lẫn học trò luôn tôn trọng thầy cô hết mực . Hiện nay , càng lễ lớn càng phải có quà cáp , phong bì lót tay cho giáo viên .

Ở các quốc gia trên thế giới , họ đều lấy nền giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. Riêng Việt Nam ta một trong những thành tựu lớn nhất của ngành giáo dục là nhân cách suy đồi , đạo đức xuống cấp của những thầy cô qua hành động vô giáo dục của họ .

Tạ ơn người đứng đầu ngành giáo dục là ông bộ trưởng Nhạ , nhờ ông mà tôi đã biết thêm giáo viên ngoài chuyên môn đứng lớp còn có nghề làm thêm đi ” TIẾP KHÁCH “, giáo viên nam rượt đánh giáo viên nữ không thua gì film kiếm hiệp . Cô giáo đập đầu học sinh vô tường dẫn đến chấn thương đã được cô hiệu phó bao che …. Ôi nền giáo dục Việt Nam sau 43 năm giải phóng đã biến thành một đống rác thải không hơn không kém .

Viết bởi cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai- thân hữu Nha Trang của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam

Nói thêm một chút về thi tốt nghiệp trung học phổ thông

43318851_562889684171636_7015906954363011072_n.jpg
Hôm qua GS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học VN, có trao đổi ý kiến về việc Tổ chức thi THPT. Tôi nhất trí với quan điểm của GS Dong và muốn nói rõ thêm vài ý:

1. Đừng quan trọng hóa kỳ thi này, đừng có mê hoặc HS về tấm Bằng Tú tài, vì có tấm bằng này, HS chưa xin được việc làm, mà mới đủ điều kiện đi học các nghề. Do vậy, ĐỪNG HỌC VÌ THI! Mà học để HS TRƯỞNG THÀNH toàn diện, cả thể chất, kiến thức cơ bản, năng lực tự chủ bản thân và khả năng hoạt động xã hội, có nhân cách CÔNG DÂN đàng hoàng. Áp lực học thi căng thẳng triền miên và Kỳ thi tổ chức tốn kém, nhiêu khê, nhiều tiêu cực như vừa qua, không những không đem lại ích lợi gì cho sự TRƯỞNG THÀNH của HS mà còn hủy hoại sự phát triển lành mạnh của các em. Tại sao các nhà quản lý đất nước và ngành GD mãi vẫn u mê, chìm đắm vào vòng thi cử vô bổ, vô tích sự, không nhận thức ra điều cơ bản ấy? Mục đích học tập do UNESCO đề xướng bao lâu nay là: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình… chứ đâu học cốt để thi mấy môn học?

2. Nên tổ chức thi như thế nào? Theo tôi, học môn nào sẽ thi hết môn ấy. Thi để giúp HS ôn tập củng cố kiến thức và thể hiện bản thân. Có HS dốt Văn, nhưng Thể dục, thể thao lại xuất sắc; có HS dốt Toán, nhưng Sử lại giỏi; có HS dốt Lý những giỏi Sinh… Phải học gì thi nấy, để HS học toàn diện và để mỗi HS có sở trường, năng khiếu về môn gì đều được tự thể hiện “để tự khẳng định mình”…
Vậy thi như thế nào? Tham khảo “Ngân hàng đề thi” hay “Ngân hàng câu hỏi ôn tập các môn học” của Bộ GD, các Sở GD ra các câu hỏi hướng dẫn ôn thi cho từng môn. Các nhóm HS sẽ cùng nhau ôn tập, trao đổi chuẩn bị thi lần lượt TỪNG MÔN. Việc thi cứ bình thường diễn ra suốt cả HỌC KỲ 2 lớp 12, giáo viên dạy môn nào chấm thi môn ấy, qua đó sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm cho việc dạy – học để cải tiến tốt hơn. Thi hết các môn thì tổng kết, báo cáo, để Sở GD cấp BẰNG TỐT NGHIỆP cho HS. Mỗi trường có thể có vài ba % HS không được cấp Bằng Tốt nghiệp, do chưa đạt được một số điều kiện quy định khách quan, mà HS, GV đều thấy thỏa đáng. Như vậy là tính công khai, công bằng, trung thực… được tôn trọng. Như vậy, trách nhiệm, uy tín, quyền tự chủ của Hiệu trưởng, của Nhà trường càng được thể hiện rõ. Ai làm bậy thì sẽ bị xử lý công khai, minh bạch. Nhờ vậy, dần dần nhà trường sẽ lành mạnh hơn.

3. HS sau tốt nghiệp THPT chọn học ngành nghề gì, thi vào trường nào đòi hỏi được HƯỚNG NGHIỆP, TƯ VẤN trong quá trình học THPT. Vì vậy, việc bắt HS thi “cấp tập” mấy môn rồi cứ cầm bảng điểm, nháo nhào, chạy từ trường này sang trường khác cốt sao đủ điểm được nhận vào bất kỳ khoa nào, trường nào, là phá hủy hết công tác giáo dục hướng nghiệp, tư vấn chọn nghề… Quá trình học THPT và Hướng nghiệp, giúp cho HS trưởng thành, tự biết trả lời các câu hỏi: Mình yêu thích công việc/nghề gì? Mình có năng khiếu, sở trường học nghề đó không? Tại sao?; Gia đình mình có điều kiện để theo học nghề đó không? Học xong làm việc đâu? Triển vọng ra sao?… Trên cơ sở đó HS mới quyết định đi đi làm ngay hay vào trường nghề học ngắn hạn, trung hạn; học Cao đẳng, hay Đại học, học Khoa nào, Trường nào?… Chọn nghề là một quyết định quan trọng của cuộc đời, HS hết lớp 12 phải có đủ trưởng thành để tự mình cân nhắc, quyết định. Như vậy việc tuyển sinh vào các trường Đại học, Chuyên nghiệp cần để mỗi trường, hoặc Khối trường tổ chức thi, tuyển theo những yêu cầu riêng, sát hợp với ngành nghề và mục tiêu đào tạo của trường. Các trường Đại học, Chuyên nghiệp không nên đồng loạt tuyển sinh, đồng loạt khai giảng, mà nên tổ chức so le để tạo thuận lợi cho HS lựa chọn…

Nếu giáo dục đúng đắn, HS hết lớp 12 sẽ trưởng thành, khi đứng trước nhiều lựa chọn, các em sẽ biết tin vào khả năng của mình, quyết định của mình và tự tin rằng: Chưa chắc con đường nào sẽ hay hơn con đường mình chọn; chưa biết rồi ai sẽ trưởng thành hơn, có ích hơn cho gia đình và xã hội… Như vậy giáo dục mới lành mạnh.
9/10/2018
GS.Mạc Văn Trang.

Theo facebook Mạc Văn Trang

Chính phủ Nhật đã lo bữa ăn trưa cho học sinh thế nào?

43207444_561036307690307_8020589604073635840_o.jpg
Không biết ngẫu nhiên hay cố ý, Chương trình Chuyển động 24h của VTV1, hôm 04/10, sau khi đưa tin 150 HS ở trường bán trú huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang bị ngộ độc sau bữa ăn sáng, liền đưa tin về Chính phủ Nhật bản đã chăm lo bữa ăn trưa cho HS như thế nào. Nhóm PV thường trú của VTV1 tại Nhật bản đã đến các trường học tại Nhật Bản, tìm hiểu về bữa ăn trưa của HS và cho biết:

– Từ năm 1950, sau chiến tranh, nước Nhật vô cùng khó khăn, nhiều nhà nghèo không đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, nên chính phủ Nhật, dù phải nhận viện trợ và đi vay, nhưng đã quyết định lo cho HS phổ thông toàn quốc có bữa ăn trưa miễn phí, đủ dinh dưỡng, dù HS con nhà giàu hay nghèo. Chính phủ coi Trẻ em là tài sản quốc gia, phải được bảo vệ, chăm sóc tốt…

– Mỗi trường học đều có chuyên gia dinh dưỡng để đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, thành phần dinh dưỡng bữa ăn cho từng khối lớp theo quy định của Bộ Giáo dục;

– Nhờ chế độ ăn uống đảm bảo đủ chất và chế độ luyện tập thể dục, thể thao được tổ chứ tốt nên từ 1950 đến 50 năm sau, chiều cao trung bình của người Nhật tăng được 14cm và thể chất người Nhật được cải thiện rõ rệt đảm bảo có sức khỏe tăng năng suất lao động…

Thảo nào người Nhật họ gắn bó với đất nước, lao động quên mình, tin tưởng chấp hành nghiêm minh pháp luật và những chính sách của Nhà nước…

Trông người lại ngẫm đến ta mới thấy lạ lùng. Ta là nước XHCN tốt đẹp, có Đảng lãnh đạo sáng suốt, tài tình, ra nhiều Nghị quyết, nhiều khẩu hiệu về trẻ em hay nhất thế giới; kinh tế phát triển liên tục với GDP ở mức cao trong nhóm hàng đầu thế giới; ta tự hào đủ thứ với những “thành tựu có tính lịch sử” vân vân và vân vân… Vậy mà năm 2018, bộ trưởng Giáo dục tuyên bố: Phải tính đúng, tính đủ chi phí (bằng sự đóng góp của gia đình HS) mới đảm bảo chất lượng!?… Và bữa ăn trưa ở trường do cha mẹ HS đóng tiền, nhiều nơi còn bị xà xẻo; HS miền núi thì ôi thôi, có chỗ HS chỉ ăn cơm với muối và rau rừng hay bắt chuột ăn cải thiện…

Thì ra đối với chính quyền này, tài nguyên quốc gia: Rừng, biển, đất đai, hầm mỏ đã khai thác cạn kiệt, tan hoang; còn tài nguyên CON NGƯỜI cũng chỉ biết khai thác chộp giựt, ăn sẵn chứ chả biết chăm lo cái chó gì! Đó là chưa nói đến sự khốn khổ với hệ thống y tế và thuế khóa vắt kiệt sức người dân…Thế thì làm sao thế hệ trẻ có thể tin yêu chính quyền; làm sao người dân phải biết ơn, gắn bó với chế độ này?
05/10/2018

Giáo sư Mạc Văn Trang/fb

Chủ tịch hội phụ huynh cũng tháo chạy khỏi trường học

20769968_108890523167639_942714016360385408_n.jpg

Tôi được bầu làm Hội trưởng Hội Cha Mẹ học sinh, nơi con trai mới vào lớp 1 ở một trường tư thục.

Sau buổi họp phụ huynh đầu tiên, tôi quan sát cách dạy-học tại đây. Và lập tức, tôi đưa ra quyết định cho con nghỉ học.

Cô chủ nhiệm lớn tuổi, là một nhà giáo về hưu đi làm thêm. Cô giữ trật tự trước lũ nhóc hiếu động bằng cách liên tục đập mạnh cây thước lớn xuống bàn học sinh, hết bàn này sang bàn khác. Một không khí căng thẳng bao trùm. Những bé thơ phải ngồi yên tại một chỗ ngồi quy định và ê a cả ngày theo lối học vẹt.

Đã thế, khắp nơi trong trường, người ta treo đủ loại khẩu hiệu cứng nhắc, rập khuôn. (Ảnh).

Trước đó, từ phản ánh của một số phụ huynh, tôi có buổi làm việc với lãnh đạo nhà trường. Rất dễ để nhận ra rằng, mình có thể thay đổi chứ họ thì không.

Tôi viết thông báo lên group Hội Cha Mẹ và đến trường rút hồ sơ. Thật bất ngờ, khoảng chục phụ huynh khác cùng kéo đến và làm điều tương tự.

Lúc đầu, tôi dự định cho con ở nhà để tự dạy, dạng mô hình Home Shool. Nhưng cuối cùng, từ sự mách bảo của một gia đình hàng xóm người Nhật, chúng tôi tìm được ngôi trường Quốc tế có phong cách giáo dục nhân bản.

Kế hoạch của tôi là cho những đứa trẻ nhà mình học xong lớp 3 hoặc lớp 6. Đến khi đó nếu giáo dục Việt Nam vẫn không cải thiện thì chúng tôi sẽ cho con ở nhà tự học-Home School.

Nhìn rộng ra toàn cảnh giáo dục hiện nay, lòng dâng lên một cảm giác đầy thương xót trước thân phận trẻ thơ nước nhà.

Đến Chính phủ và Trung ương mà còn ê a tập đọc, thì lấy gì mà trông chờ, kỳ vọng?!

Yên Trường/fb