Trường Nhân văn mà chưa nhân văn: thầy nước ngoài bất lịch sự với học sinh Việt

Sau đây là bức thư của một học sinh gửi đến Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam, tố cáo trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Nhân văn Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin trích bức thư để ban giám hiệu trường Nhân văn sửa lỗi và tiến bộ hơn về sau:

Con năm nay con đã 12 tuổi.
Năm 2018 con đã nhập học trường Nhân Văn. Đây là một trường chuyên đánh học sinh. Mỗi khi làm sai đều bj đánh. Mỗi tối con cảm thấy rất mệt mỏi vì một bài toán hay bài văn con cho là không khó. Khi ở trường công con học khá còn trường này con học rất kém. Cô giáo chủ nhiệm còn bảo trường công không đúng thực lực.
Thậm chí lớp trưởng lớp em còn học rất dở, bạn đó còn không biết Tiếng Anh, lý do đc làm lớp trưởng là đầu gấu, Hung dữ. Lớp trưởng còn đưa dây nịt cho thầy nội trú đánh.
Cô giáo không kèm học trò mà để những đứa đầu gấu kèm bạn, trong lớp có bạn tên là mẫn nhi, tính tình rất sửu nhi, em đã từng bj nó tát vào mặt. Cô giáo nói thẳng mặt:
-Bạn nhỏ con nhưng không ai dám đụng ( bạn mẫn nhi đã có thế lực của cô giáo bảo vệ )
Cô giáo Tiếng Anh và thầy nước ngoài thường xuyên kí đầu học sinh, có hôm ông thầy nước ngoài lấy miếng dán của bạn bảo cào xước tay con. Buổi họp phụ huynh cô giáo nói:
-Thầy nước ngoài vui tính nên chuyện kẹp nách là bình thường.

Bài viết thuộc Chương trình cải thiện ứng xử sư phạm cho người giáo viên do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức.  Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/Knq8Gq

Quảng Bình: Cô giáo tát học sinh chấn động não

Cô giáo H. đã xách tai và tát vào má học sinh lớp 1 hai cái vì em này làm kiểm tra cả 2 đề. Ảnh: VOV

Cháu bé ở trường tiểu học số 1 Hồng Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình (lại Quảng Bình) mới 6 tuổi, cô giáo xách tai, tát 2 cái, chảy máu tai.

Bác sỹ chẩn đoán cháu bị chấn động não.

Chị hiệu trưởng Nguyễn Thị Cẩm phát ngôn :”Nhà trường xác định đây là hành vi sai trái, vi phạm điều cấm của ngành giáo dục. Nhà trường đã họp và thi hành kỷ luật bằng hình thức phê bình trong Chi bộ và trước Hội đồng sư phạm”.

Kỷ luật nặng thế thì các giáo viên khác sợ chết khiếp.

Nhà báo Oanh Bùi/ Facebook

Học sinh ngỡ ngàng tra vấn: sao hôm nay cô lại ăn mặc như vậy?

PHÁ BỎ THÓI QUEN?

Khi tôi nhìn thấy hình ảnh các cô sinh viên sư phạm mặc áo dài trắng với quần đùi để chụp ảnh kỷ yếu, rồi xem lời bình luận của mọi người trên mạng tôi thấy buồn vui lẫn lộn với nghề.

Thực ra, mấy cô đó, tôi cho là có cá tính, thích nổi bật, phá cách, và họ đang thay đổi hình ảnh giáo viên, có thể theo chiều hướng xấu nhiều hơn tốt?

Cũng như khi nhìn thấy cô giáo mầm non sử dụng thuốc do chính cô ta cung cấp với những hình ảnh phản cảm của một cuộc sống thiếu khuôn mẫu của một nhà giáo, người trong nghề như tôi thấy muốn bơ đi để sống. Nhưng với nghề giáo, bơ đi là đang chết dần.

Hình ảnh nhà giáo đạo mạo, mực thước, tác phong lẫn ăn mặc quy chuẩn, giản dị, khuôn mặt phải thân thiện, lời nói phải rõ ràng tránh úp mở, nói lửng, nụ cười phải rạng rỡ, …,gần như đã trở nên hiếm hoi. ( hiếm đến mức khi một ngày tôi bước vào lớp với bộ quần áo – chứ không mặc váy như mọi khi, học sinh đã ngỡ ngàng, rồi chúng tra vấn, sao hôm nay cô lại ăn mặc như vậy, cô phải như thế này thế kia, cô phải giống với cô X ấy. Chúng tranh nhau nói, nói nhiều tới mức tôi không có chỗ để đáp lời, bực quá tôi phải ngắt lời chúng: Các em hãy quan tâm đến bài học của cô nhiều như đã để tâm tới trang phục của cô thì cô vui hơn)

Chưa kể nhiều thầy cô giờ đây xài hàng hiệu từ túi xách đến trang phục, phụ kiện – thứ hàng hiệu tạo một khoảng cách rất xa với đồng phục của những đứa trẻ ngồi phía dưới.

Hay các thầy cô cũng quen thói nói bóng gió xa xôi, hỏi xoáy đáp xoay kiểu trò chơi truyền hình,…

Và nhiều nữa.

Giáo dục Đại học ngành Sư phạm phải nhìn lại rất nhiều nội dung.

Cô giáo Đỗ Thư

Những cô giáo hư

Trong vụ việc hai nữ sinh trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh dùng áo dài mặc quần cộc uốn éo chụp hình trước cửa chính khuôn viên ngôi trường này đáng phải lên án.

Ở đây có hai vấn đề: thứ nhất là dùng áo dài truyền thống dân tộc để chụp ảnh lố bịch với mục đích khoe da thịt với những động tác dung tục; cái thứ hai, đây là những giáo viên tương lai, những người mà sẽ đứng trên bục giảng để dạy người khác về cả tri thức và đạo đức làm người. Chính vì cái nghề mô phạm được coi trọng hàng đầu, nên không thể tuỳ hứng huỷ hoại nó.

Việc đầu tư cho bản thân hoặc là nữ quyền ở đây sẽ bị loại trừ, vì bản thân nữ quyền là tôn vinh các giá trị của phái nữ và nó sẽ phải phù hợp với cái đặc thù của nó. Rõ ràng là giáo viên có quy tắc đạo đức khác với nhà báo và cũng khác với luật sư. Ở các quốc gia khác, họ còn điều chỉnh ngay cả đến mối quan hệ giữa thầy cô và học sinh. Và những người học ngành sư phạm phải tuân theo những chuẩn mực ứng xử đó.

Nếu các nữ sinh này thấy rằng việc khoe chân, mông và da thịt là thoả đáng theo quyền cá nhân, thì có thể lựa chọn ở một địa điểm khác và không dùng nó làm kỷ yếu tốt nghiệp trường sư phạm, nhất là tạo dáng với các tư thế rất dung tục như thế. Việc bị lên án về mặt đạo đức đối với các giáo viên tương lai này là hoàn toàn đúng với lẽ tự nhiên về đạo đức xã hội và nghề nghiệp.

Nghề giáo đòi hỏi một hình ảnh cao đẹp và trang trọng hơn những nghề khác, vì nó với trọng trách dạy người thì không thể gồm những thể dạng vô đạo đứng vào vị trí đó được.

Luật sư Lê Văn Luân/ Facebook

Ông Đàm Ngọc Tuyên viết thư cho cô giáo Trần Thu Hương

Thưa bà PGS.TS Trần Thu Hương! Tôi vừa đọc xong bài báo có tựa “Ném đá hiệu trưởng Đinh Bằng My quá nhiều là phi đạo đức” của tác giả Quý An, đăng trên tờ Kiến Thức Online, lúc 6h ngày 28/12/2018. Tựa bài báo cũng chính là câu nói nhận định của bà, “dưới góc độ tâm lý học” về việc dư luận lên án gay gắt ông Đinh Bằng My đã dâm ô hàng loạt học sinh nam, xảy ra tại Trường phổ thông Dân nội trú THCS Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ – nơi ông My làm hiệu trưởng!

Tôi đã dành thời gian đọc đi đọc lại từng câu, từng chữ nhiều lần, xem lại từng dấu chấm (.), dấu phẩy (,) trong phần trả lời phỏng vấn của bà, mà bà đã trả lời PV báo Kiến Thức, trong bài báo nói trên. Tôi đã phải cẩn trọng như vậy, bởi vì hai lí do:

– Tôi sợ rằng, PV tờ Kiến Thức Online có sự nhầm lẫn nào chăng, khi mà người trả lời phỏng vấn có học hàm, học vị là PGS.TS, là Giảng viên khoa Tâm lý học của trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội.

– Tôi sợ rằng, thị lực của tôi đang có vấn đề không ổn.

Sự cẩn trọng trong trường hợp này của tôi, hoàn toàn không thừa thãi chút nào. Để rồi từ đó, tôi mới có thể đi đến quyết định viết thư này gởi đến bà. Chỉ với hy vọng, bà dành chút thời gian trả lời giúp câu hỏi của tôi (và hàng triệu người dân Việt khác – những cá nhân lên án tội ác của ông Đinh Bằng My). Câu hỏi như sau:

‘- Xuyên suốt trong phần trả lời phỏng vấn của bà, cái từ “đạo đức” và “phi đạo đức” được bà chủ quan nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Vậy, cái “đạo đức chủ quan trong suy nghĩ của bà”, là “đạo đức” của loài vật nào, bởi nó đéo phải là “đạo đức của loài người của chúng tôi đâu, thưa bà! Ngay cả chó, mèo cũng không tồn tại trong tư duy của chúng thể loại “đạo đức của bà” đâu, bà PGS.TS Trần Thu Hương nhé!”

Thưa bà PGS.TS Trần Thu Hương! Tôi tin rằng, sẽ có rất nhiều Người, khi đọc xong hết bài báo trả lời phỏng vấn của bà, sẽ tỏ lòng thương hại đau xót không dành cho bà, mà dành cho Cha, Mẹ, Ông, Bà, dòng họ tổ tiên của bà! Bởi vì sao? Vì cho dù “đám đông quần chúng” đã “phi đạo đức” khi “ném đá” ông Đinh Bằng My thế nào đi chăng nữa, thì họ vẫn còn rất Người, cho nên tự khắc sẽ xót thương cho Cha, Mẹ, dòng họ của bà đã trót sinh ra bà! Không xót thương sao được, khi dưới góc độ nhìn “phi đạo đức” của họ, thì bà đéo phải giống Người!

Tôi cũng may mắn được làm Cha con trai của tôi, nên phần nào thấu cảm nỗi lòng của bậc làm Cha, Mẹ, nếu chẳng may sinh con ra là một giống loài khác, như trường hợp dòng họ bà đang phải gánh chịu nỗi bất hạnh này! Tôi phải cân nhắc khi dùng từ “bất hạnh”, mà không dùng từ “nhục nhã”.

Thưa bà! Như trên đã nói, bất kì Người nào, khi đọc bài trả lời phỏng vấn của bà, đều nhận ra phương thức ngụy biện đến độ trơ trẽn, khốn nạn nhưng được ẩn chứa đằng sau những câu từ mà bà dày công trau chuốt. Vì lẽ đó, nên tôi không có định phân tích chỉ ra những xảo ngôn, ngụy biện của bà mà làm chi nữa! Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng nên nhắc cho bà biết thêm một đôi điều. Nếu một Người có học hàm, học vị PGS.TS, thì họ đủ tự trọng khi phát ngôn trên truyền thông đại chúng, sẽ không dùng cụm từ ” dư luận ném đá” để diễn đạt thay thế cho nghĩa của cụm từ “dư luận lên án gay gắt”. Bởi, giản đơn từ “ném đá” là từ “lóng”! Rồi tiếp theo, nếu một Người là PGS.TS chuyên ngành Tâm lý học, thì không một Người nào lại đi lí giải, bao biện cho hành vi tội ác “ấu dâm”, “xâm hại tình dục trẻ em” đồng giới (,kể cả khác giới), giống như cách lí giải của bà, mà tôi sẽ trích nguyên văn sau đây:

“Đầu tiên, tôi cho rằng có thể ông My không có cảm giác an toàn trong mối quan hệ với người khác giới nên muốn trốn trong một mối quan hệ đồng giới. Chẳng hạn, nếu thầy yêu cầu các bạn học sinh nữ lên phòng hiệu trưởng thường xuyên thì rất dễ bị nghi ngờ. Mối quan hệ đồng giới có vẻ an toàn hơn, vì vậy sự việc mới có thể kéo dài nhiều năm.

Một phần, nguy cơ mang thai ngoài ý muốn là không có, một phần chẳng mấy ai nghi ngờ khi thầy hiệu trưởng gọi học sinh nam lên phòng làm việc của mình. Bên cạnh đó, các bạn học sinh thường còn rất ngây thơ, trong sạch, nên nguy cơ xảy ra truyền nhiễm hầu như không có”

Đến đây, thì không còn nghi ngờ gì nữa, bà có học hàm, học vị PGS.TS thật, nhưng không thuộc Người! Mà đã vậy, viết thư thêm cho bà thêm, liệu rằng bà có hiểu hay không?! Vì, nếu người nhận thư này là Người, khi đọc xong bức thư, việc đầu tiên họ sẽ tìm đến cầu Long Biên đấy, thưa bà!

Trân trọng chào bà!

Sài Gòn, 28/12/2018
Đàm Ngọc Tuyên

Suy nghĩ về việc cô giáo gọi cả lớp đánh một em học sinh

Cái clip này đã lâu rồi…

Nhưng nay thay vì giảm bạo lực thì giáo viên giáo dục bằng cách kêu cả lớp công khai tát một học sinh …


Bạo lực giữa học sinh và học sinh (với nhau) đã tăng cấp lên bạo lực giữa giáo viên và học sinh.

Giáo viên đã học được rằng sự tuân phục đến bằng cách này chứ không học ra cách nào khác. Vì nó quá khó khăn để học giáo dục khi mà các sv vào sư phạm với tổng 9 điểm ba môn thi trong một lĩnh vực gần như nghệ thuật đòi hỏi người ta vừa phải có trí tuệ để sáng tạo vừa phải có tâm hồn để thấu hiểu . Chính vì thế mà xã hội mới cần thầy cô giáo, yêu quý và tôn trọng thầy cô giáo.
Buồn rằng tôi cũng phải thấy có mình trong đó…


Các bạn còn đứng trên bục giảng hãy luôn học giáo dục thay vì chỉ chăm chăm chuyên môn… dù rằng ai cũng phải kiếm sống.
Dân trí, dân khí Việt Nam đã kém thì với lối giáo dục bạo lực chủ yếu nhằm tuân phục tạo ra những nô lệ, Việt Nam ngang tầm năm châu bốn bể mãi mãi là một lời hiệu triệu giả dối.

Cô giáo Ngô Thị Thứ.

Học kinh điển ở tuổi nào?

Kim Định.

Thưa phải dạy ngay từ lớp năm hay tư.

Lớp mẫu giáo để dạy biết đọc chữ quốc ngữ đặng dùng làm chuyển tự. Sau đó đến lớp năm hay tư trở đi mỗi năm dạy một số trang sách Nho đã được chọn làm kinh điển, sao cho khi đến lớp nhất em nào thôi học cũng đã nhập tâm một số hương hoa cốt cán từ tổ tiên xa xưa trối lại để làm hành trang (viaticus) tức một thứ lương thực thiêng liêng khi phải vào đời. Vì thế bất cứ ai trong nước cũng có quyền hưởng thụ, và để được như thế bộ giáo dục sẽ chăm lo sao cho không ai bị thiệt, dẫu không có tiền để học cao, nhưng về di sản thiêng liêng của đất nước đều được tham dự. Do đó chương trình cưỡng ép giáo dục tới đâu là phải thu xếp cho học “sách dân tộc” căn bản nhất tới đó. Thí dụ nếu chỉ đến lớp nhì thì phải dạy hết mấy sách đó ở lớp nhì. Nước ta nay có thể lấy lớp nhất làm nền tảng chung cho mọi người dân giàu nghèo đều được giúp cho học được tới lớp đó. Và cái học ấy phải giàu tính chất tâm linh. Đã nói đến tâm linh là nói đến cái chi huyền mặc u ẩn, là những cái gần tuổi trẻ hơn cả. Trẻ con như mới thoát ra khỏi trạng thái đồng nhiên sơ khởi chưa kịp đi sâu vào thế giới hiện tượng chia ly phân rẽ, nên lòng đang tràn ngập những cái gì thuộc đại đồng bao la. Đây là tuổi thuận lợi nhất để các em học những bài học về tâm linh tức những cái gì không có phân định cõi bờ rõ rệt kiểu toán, lý, hóa, vạn vật. Dạy toán, lý, hóa quá sớm cho trẻ em là gây nguy hại, làm khô cằn đời sống tâm linh của chúng sau này. Phải dành thời gian đầy mơ mộng này cho những bài học cần ghi nhớ suốt cả đời, càng đi sâu vào đời càng cần trở lại những bài học lúc niên thiếu để suy gẫm. Đem Nho giáo mà dạy cho các em là đặt các em vào trong thế giới ngôn ngữ của tiềm thức (subtrat linguistique inconscient) với những danh từ không bị quy định nên dễ quyện theo sức mạnh của cảm xúc, rất dễ giúp đi vào vùng tiềm thức nghĩa là sẽ có được những trực giác giàu nội dung tâm linh sâu xa. Người xưa nổi vượt người nay ở điểm đó. Muốn không thua người xưa ở điểm này ta cũng cho các em học lại một số sách như người xưa, cần nhất là học thuộc lòng rồi thứ đến là nhận xét mặt chữ và biết nghĩa đen mỗi câu, và chỉ cần có thế. Đề nghị này có thể coi như chướng tai nhưng nghĩ thế là tại óc duy trí hiện tại. Theo duy trí thì chỉ có lý trí mới có giá trị, nên giáo dục thường bị cám dỗ dạy trẻ như kiểu người lớn tức là tập suy luận. Đó là một sự quá trớn của óc duy trí chuyên tôn thờ óc suy luận mà hạ giá mọi năng khiếu khác, nhất là trí nhớ, coi sự thuộc lòng như là học tủ, không hiểu chi… Đó cũng là tại sự phản động lại lối học từ chương xưa đã quá quan trọng việc ký tụng thuộc lòng. Đã nói tới phản động là nói tới quá trớn không còn nhìn nhận ra giá trị của trí nhớ, và coi cái học thuộc lòng là vô bổ, không biết đến bốn đợt suy luận của con người phải trải qua là trí nhớ (pensée-mémoire) ở tuổi trẻ, óc suy tư (pensée réflechie) ở tuổi trung học, óc tìm kiếm (pensée inventive) ở đại học và óc sáng tác (pensée créatrice) ở hậu trường. Trẻ chưa mở mắt đã dạy suy luận ngay là lầm. Sự sai lầm đó hiện đang được khoa phân tâm vạch trần, bằng tìm ra những ơn ích sâu xa của học thuộc lòng: lúc đã đọc đi đọc lại một số câu thì chú ý không phải để ở dòng chữ với nghĩa nữa nó rút dần vào nội tâm để gây tác động. Tác động đó càng mạnh khi bản văn đã học thuộc lòng lại là bản văn cô đọng, lúc đó những ý tưởng sẽ dễ thấm sau vào tiềm thức và gây ảnh hưởng mạnh mẽ ngoài tầm sức của lý trí và ý muốn. Đó là luật tâm lý học đã được các nhà phân tâm nhận ra và áp dụng vào việc tự kỷ ám thị “des paroles répétées inconsciemment ont une action. On peut admettre une sorte de concentration parfaitement machinale et inconsciente”.

Sự học thuộc lòng được nhận ra có công hiệu giúp rất nhiều vào việc làm tăng trưởng sự chú ý kéo dài (attention volontaire soutenue) vì thế đó là một trong những cột trụ của giáo dục nên câu nói “lặp lại nhiều lần là linh hồn của sự dạy dỗ” có thể coi như châm ngôn của nhà giáo dục nhất là ở đợt tiểu học (la répétition est l’âme de l’enseignement) (xem Suggestion et Autosuggestion của Charles Baudoin, édition Delachaux những trang 126, 133, 144). Có đọc nhiều phân tâm ta mới hiểu Đông Tây kim cổ đều coi trọng việc ký tụng, có tôn giáo còn làm thành những lời thần chú, những kinh cầu để nhật tụng là cốt cho tư tưởng được ngấm sâu vào tận tiềm thức. Trong quyển “Les fondements de la mystique tibétaine” ông Govinda có viết: “dùng cách lắp đi lắp lại có nhịp nhàng để đóng sâu vào một tư tưởng, tạo dựng một ý nghĩ, thì hiệu năng sẽ quy kết lại như giọt nước nhỏ xuống không ngừng cho tới hi nó thấu nhập khắp mọi cơ thể của hoạt động và trở thành một sự kiện cụ thể của lý trí hay cả xác thân” (p.189). Như thế là khoa phân tâm cũng như khoa huyền niệm đều công nhận sự học thuộc lòng là rất cần thiết. Do đó ta biết được tại sao lúc xưa nhiều người học chữ Nho rất lơ mơ vậy mà lại sống theo Nho được rất nhiều, là vì nhờ học tự còn bé, học thuộc lòng nên đàng sau mỗi câu nói là một nguồn sống tâm linh kết tinh do biết bao cảm xúc và kinh nghiệm của người xưa như còn phảng phất đâu đây, như được bọc trong ánh bình minh của dân tộc lúc còn đang bập bẹ dưới ánh sương mai của quê nước. Nay mỗi thế hệ cũng như được học những câu sách đó nên mội câu hầu như được bọc bằng bầu khí tươi vui thơ mộng của thời khai quốc, của dân tộc, nên mỗi câu có thể xem như hồng huyết cầu thêm sinh khí cho cơ thể tinh thần, đồng thời gây nên giữa tất cả những người đã học một số những phản đáp có điều kiện làm nên một thứ quê hương tinh thần với một thứ ngôn ngữ riêng của nó tuy rất âm u nhưng chỉ cần nhắc đến một hai câu thì hầu như tất cả đều rung lên theo một tiết điệu ràng buộc mọi người dân trong nước “Mối tình giáo khoa thư”. Những ai đã có dịp xuất ngoại trong khi gặp người đồng hương nhắc đến một hai điệu hát cung hò vài ba câu sách đã cùng học ở tuổi niên thiếu là khơi lại cả một khối tình u linh bát ngát khiến cho cảm thấy được cơ sở tinh thần của nước và mối tình dân tộc trở thành mạnh mẽ lạ thường. Cho nên chương trình lý tưởng của bậc tiểu học phải gồm mấy sách nòng cốt của dân tộc, và hầu như không nên thay đổi. Chính vì thế phải học thuộc lòng bản văn chứ không học bản dịch (thí dụ kinh Thi) vì bản dịch sẽ thay đổi theo mỗi thời, không có được sự cố định như bản văn. Sự không thay đổi này rất cần cho mọi thế hệ gặp nhau. Phương chi ở tiểu học không cần thay đổi vì đây mới học những điều căn bản, là mấy yếu tố hầu như không mấy đổi thay. Đàng khác đối với trẻ nhỏ thì cái chi cũng còn là mới mẻ không cần phải luôn luôn đổi mới, khác với chương trình đại học năng phải đổi để theo kịp các bước tiến bộ, nếu ở tiểu học cũng đổi thay là chạy theo lưu

tục và hầu chắc sẽ cho trẻ con học những câu nói thiếu hẳn chiều sâu của dân tộc, những câu nói mới do một cá nhân nghĩ ra chứ chưa từng đi qua miệng của tiền nhân, chưa được nhuần thấm những cảm xúc rung động của hàng trăm thế hệ đi trước. Rất đáng thương cho con người thời đại đã tiêu phí trọn vẹn cái tuổi thơ mộng ngây ngất vào việc học những câu nói tầm phào vớ vẩn như “con chim có hai cánh nên biết bay” và những câu đại loại nghĩa là những câu mà sau này một em bé chăn trâu nào bất cứ lớn lên cũng tự biết ngay được khỏi cần ai dạy. Tóm lại chương trình tiểu học nên gồm một phần các sách của dân tộc mà tất cả mọi người dân dù không có may mắn được đi học lâu cũng đều phải biết thuộc lòng, thì đấy sẽ là những tiêu biểu đầy sinh lực giúp cho cá nhân cũng như cả dân tộc có huớng sống mạnh mẽ. Ở đây tưởng nên đề cập đến vấn đề tại sao lại đưa vào sách kinh điển một số thần thoại.

Tại sao lại cho học sinh học sách thần tiên?

Câu hỏi đặt ra do óc duy trí của thời đại. Nhiều khi không đặt ra minh nhiên thì thái độ cũng là thế. Nhiều giáo viên khi bó buộc phải kể một câu chuyện tiên, hay thần thoại cho trẻ thì bao giờ cũng dặn dò trước rằng không có như thế đâu, đấy chỉ là chuyện vui. Sự cẩn thận này phát xuất do thời đại duy lý tôn thờ khoa học sợ các em sẽ mê tín dị đoan, tin theo những chuyện ma quái vô bằng. Đó là một trong những cái cận thị của giai đoạn duy trí, duy trí đến nỗi lấy tâm trí người lớn bao trùm lên trẻ con, và lập chương trinh cho trẻ con theo đà tiến của người lớn, làm hại rất nhiều cho chúng. Thế hệ này đâu đâu cũng kêu thiếu trưởng (chef) thiếu những tâm hồn mạnh mẽ dám lãnh nhận trách nhiệm… thì truy căn ra phần lớn là tại giáo dục duy trí mà ra.
Con người trở nên lớn nhỏ là tại nó có tạo dựng nổi cái cơ sở tinh thần hay chăng. Sự tạo dựng này phần lớn do ba yếu tố: hoàn cảnh, năng khiếu, nền giáo dục. Và thường xảy ra trước 10 tuổi, chia ra hai giai đoạn: giai đoạn tiền giáo dục hay giáo dục gia đình, và giai đoạn sau thường từ 5 đến đến 10 tuổi. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc thành nhơn, lớn nhỏ là tuỳ theo khả năng biết sống trên bình diện hình ảnh, chính hình ảnh định hướng đời sống của mỗi người. Nếu khả năng tạo hình và sống hình này kém quá thì con người trở nên yếu đuối, vật vờ. Vậy muốn cho trẻ con có cơ hội phát triển khả năng tạo hình thì cần vun tưới óc tưởng tượng. Óc tưởng tượng mạnh mẽ làm cho người có nó trở nên vĩ nhân, trở nên nhà phát minh khoa học, sáng chế, văn hào… Vì tất cả đều là những người giàu óc tưởng tượng. Phương thế phát triển óc tưởng tượng là truyện thần tiên, phiêu lưu vì trong đó nhân vật không bị trói buộc vào những điều kiện hạn cục của không thời gian: muốn bay lên mây hay lặn dưới biển đều được cả. Vừa ở bên Đông chỉ việc đằng vân là bay sang Tây mà không hề hấn gì. Khi bị nạn vẫn mãi mãi sống, và có đầy những phép thần thông hô phong hoán vũ… Đó là toàn những nét của cõi tiên bồng thần linh biểu thị cõi u linh man mác là quê hương của con người đại ngã. Con người bị đuổi ra khỏi quê hương thần tiên đó là lúc sợi dây rốn bị cắt đứt không có sống đồng hóa với mẹ để một mình đi vào cõi hiện tượng hạn hẹp. Đó là một bước bị tống cổ ra khỏi cõi thiên thai, nên nhiều trẻ bị mang thương tích trong thần kinh (traumatisme) vì thế thiên nhiên cũng phải chia quá trình phân hóa con khỏi mẹ thành nhiều chặng. Chặng đầu là lúc cắt rốn (cordon ombilical), chặng hai là lúc trẻ thôi không được bú nữa. Đấy là những bước đầy đau thương đưa con trẻ vào đường xuất tiến (évolution) ngược với đợt phản hồi (involution) sau này ở tuổi già trở lại tâm linh đại đồng. Đợt xuất tiến xảy ra ở quãng tuổi thứ 5 đến 10 khi trẻ con chưa đủ sức đi sâu vào thế giới hiện tượng với những thực tế phũ phàng của nó, nên tâm hồn các em cần được nuôi dưỡng bằng những truyện thần thiên. Và đấy là lý do sâu xa tại sao các em lại thích nghe truyện truyền kỳ.
Đối với nền nhân bản tuyền vẹn thì khiếu năng nào cũng được coi trọng và được chăm nom phát triển theo đà đi lên của tuổi. Phải dành tiểu học cho trí nhớ và óc tưởng tượng, trung học cho sự suy luận nhận xét, đại học cho sự sáng kiến phát minh… Nếu phân chia như thế ta sẽ thấy chưa vội gì bắt trẻ con đi vào thực tế quá sớm, chưa đến lúc đó. Với các em truyện chưa cần đúng với thực tế, chỉ cần đầy phiêu lưu kỳ ảo. Sự thích thú của các em khi nghe truyện biểu lộ một nhu cầu thâm sâu là nuôi dưỡng vun trồng óc tưởng tượng. Đấy là điều óc duy trí không nhận ra, nên rút khỏi chương trình tất cả những truyện truyền kỳ, vội đem những truyện quá thực tế lý sự nhét vào đầu óc của trẻ là làm hại chúng mất nhịp sống sung mãn giai đoạn thần tiên cần thiết cho việc phát triển đều đặn, và nuôi dưỡng cơ sở tinh thần. Đem lý luận phân tích đặt trước sự học thuộc lòng và tưởng tượng là gây cảnh tan nát, quay cuồng trong đầu óc con trẻ sau này. Ngược lại cho học thuộc lòng, cho trẻ nghe truyện thần tiên, rồi sau này đến trung học và đại học mới tập phân tích thì cơ sở tinh thần mạnh và óc phân tích được vun tưới đúng lúc. Nền giáo dục hiện đại y cứ trọn vẹn trên có hai cơ năng là lý trí và ý chí (volonté) nên chỉ sản ra được những người lý trí què quặt, tâm tư vật vờ thiếu hẳn cột trụ tâm linh. Con người theo giáo dục lý trí chỉ là con người có óc suy luận nghĩa là vẫn mãi mãi khuôn mình vào trong vỏ cá nhân ly cách, chứ không biết được tới chiều kích vũ trụ bao la của con người nguyên vẹn đã được phát triển hết mọi cơ năng tuỳ theo với lứa tuổi.

Đấy là một thiếu sót căn bản mà nền giáo dục hiện đại phải sửa chữa. Cần phải đưa vào sách học vở lòng một số truyện thần tiên kỳ ảo. Đối với nước ta đó sẽ là những truyện về đời Hùng Vương, Âu Cơ, Loa Thành, Sơn Tinh Thuỷ Tinh… làm thành một sách cho trẻ học. Có thể đặt thành thơ rồi phổ nhạc cho ca vũ càng tốt. Lúc kể truyện tuyệt nhiên không được nói là truyện tạo. Cứ kể một cách say sưa cho trẻ tham dự toàn vẹn vào câu truyện, giúp cho chúng nó nảy nở óc tưởng tượng. Sau này lớn lên cỡ 12- 13 tuổi lúc trẻ bắt đầu phát triển óc suy luận thực tế, thì chúng sẽ nhận ra điều đó chỉ là chuyện ẩn dụ, huyền sử, không cần và cũng không nên giải thích sớm làm gì. Mỗi giai đoạn giáo dục sẽ nhằm phát huy một vài tài năng: ở tuổi niên thiếu là óc tưởng tượng và trí nhớ, chưa vội xác định là cột chặt tâm trí vào thực tế điều đó có thể gây hại cho sự triển nở óc tưởng tượng. Cũng vì thế mà không nên cho học toán quá sớm, để đến lớp nhì, lớp nhất hãy bắt đầu.

Đây là chỗ nên ghi nhận đức tính âm u của Nho giáo. Chính sự âm u thiếu xác định đó mà nó thành linh tự linh ngữ, tức là ngôn ngữ diễn đạt tâm linh là những cái gì u ẩn linh động. Nếu ở khoa học thiếu xác định là dở thì ở đây thiếu xác định lại là hay.
Đã thế xét về sự nảy nở nhân cách thì tâm hồn người học không bị bóp nghẹ bởi sự quá xác định kiểu triết học, nhưng dành cho tâm hồn một quãng trống để có thể vận hành dễ dãi cho mỗi tuổi co giãn khác nhau. Cũng y như đốivới cả một dân tộc ở một khúc quanh lịch sử cần một triết lý khác trứơc cho hợp với cảm quan giai đoạn. Nếu kinh điển đã xác định sẽ gây khó khăn cho việc đổi mới này. Còn khi kinh điển dùng lối văn u linh thì không cản trở chút nào cho việc thiết lập một nền triết lý mới mà vẫn móc nối được với kinh điển. Vì những câu trong kinh điển thường chỉ là những câu phương ngôn triết chứ không phải là thành phần của một hệ thống tư tưởng, một ý hệ. Lấy một mảng ý hệ ghép vào một triết lý mới là điều khó khăn hơn nhiều lần khi chỉ lấy có những câu châm ngôn. Những câu mờ mờ ý nghĩa, lơ mơ ăn tiền là tại đó.

Một giáo viên buộc phải nghỉ dạy vì đánh học sinh, nay lại được mời đến để tuyên truyền an ninh quốc phòng.

Cô giáo Đỗ Thư, người báo tin

Trên trang Facebook của mình, cô giáo Đỗ Thư ở Hà Nội cho biết chuyện xảy ra ở trường: Một giáo viên buộc phải nghỉ dạy vì đánh học sinh, nay lại được mời đến để tuyên truyền an ninh quốc phòng. Cô thắc mắc đặt câu hỏi: Vậy phải hỏi “An ninh quốc phòng là gì?”

Mời bạn đóng góp ý kiến và gửi về hộp thư: info@nghiepdoangiaochuc.org

Cần vận động cho một nền giáo dục lưỡng diện

Khỏi nói thì ai cũng biết là nền văn minh hiện đại đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng đến nỗi gây ra tâm trạng bất an nơi mọi người nhất là phái trẻ. Nơi họ tâm hồn bất an thường đi kèm theo lòng phẫn nộ phản kháng om xòm, bằng chứng là sinh viên trên khắp thế giới đều có những cuộc biểu tình bãi khoá để đòi cái này yêu cầu cái kia, nhưng đấy chỉ là những biểu lộ cục bộ. Còn cái mục tiêu chung không hiện lên rõ rệt thì lại chính là tất cả các nền văn minh hiện đại mà từ trong tiềm thức họ muốn đập phá cho tan tành. Nhưng nếu có ai hỏi tại sao lại muốn đập phá? và đạp phá rồi sẽ lấy chi thay thế cho, thì đó là những câu hỏi ít được đặt một cách rõ rệt, càng ít hơn nữa sự đi tìm những câu đáp thấu đáo. Và đó sẽ là nhưng dấu hỏi mà trong buổi nói truyện hôm nay chúng ta sẽ thảo luận tìm kiếm.

Trước hết chúng ta phải hỏi tại sao đối kháng như vậy? Chúng ta phải ngạc nhiên mà hỏi là vì văn minh không tiến bộ đến tận cung trăng sao mà cần chi phải phản kháng? Theo nhiều triết gia thì vì đây là một nền văn minh chỉ có một chiều cho nên cũng biến con người trở nên một chiều và như vậy là con người bị tha hoá. Tiết gia Herbert Marcuse gọi là con người nhất diện “One dimensional man”, còn Heidegger kêu là sụ mất ý thức về nét gấp đôi. Tôi cho rằng nhận xét như thế rất đúng, và nó giúp ta nhận ra rằng nhân loại sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng này ngày nào tìm ra được một nền triết lý có nét gấp đôi, một nền giáo dục có tính chất lưỡng diện. Nếu bạn hỏi thêm: ai hay nước nào sẽ có đủ điều kiện để tìm ra những cái đó và nếu chúng ta được phép suy luận tiên nhiên thì câu thưa sẽ là nước Việt Nam này. Bởi vì nếu nói cách tiên nhiên thì nên căn cứ vào vật biểu, vì vật biểu nói lên sử mệnh của một nước, vậy mà hầu hết các nước trên thế giới chỉ nhận có một con thú làm vật tổ: nước Pháp con gà, nước Anh con sư tử, nước Nhật mặt trời… Riêng có nước Việt Nam thì vật biểu không là một mà là hai tức tiên và rồng: non và nước: nước đi với rồng non đi với tiên. Luôn luôn cặp đôi như thế để nói lên lưỡng nhất tính của nền văn hoá Việt Nho. Tuy nhiên đấy là truyện xưa khỏi nhắc đến nhiều vì có thể coi là bới móc truyện cũ mãi tự đời hồng hoang mông muội. Vậy chúng ta hãy nói đến truyện hôm nay thì hiện nước ta đã bỏ hồn non nước để đi sâu vào triết học một chiều của con gà và vi gà là què nên phải ăn quyện cối xay một chiều. Điều này thì ai cũng biết nhưng cần phải nói tới vì ít mấy người nhận thức ra sự nguy cơ của lối hành xử như vậy, cũng như đề ra được phương dược chữa trị liền. Bởi thế mà tôi lấy làm đề tài cho buổi nói truyện hôm nay, và tôi tự hạn cục vào một phương diện giáo dục mà thôi.

Một nền giáo dục lý tưởng phải bao gồm hai chiều kích một là làm ăn hai là làm người, nói khác là thành công và thành nhân. Nói thế thì ai cũng nói được nhưng để cho lời nói có nội dung chân thực thì phải có một kế hoạch cho thành công và một đường hướng cho thành nhân. Thiếu hai điểm đó thì chỉ là văn chương.

Vậy trước hết xin bàn về thành công. Để đạt điểm này thì cần phải có một kế hoạch. Vậy mà tự ngày độc lập chưa thấy chi cả gọi là kế hoạch. Nếu có thì phải lưu ý điểm này: nước ta chậm tiến, còn bị chiến tranh triền miên ghìm xuống cuối sổ các nước chậm tiến. Vậy cần phải sửa soạn gấp cho việc kiến thiết là sửa soạn trước hết việc đào tạo chuyên viên, tức lo cho Đại học. Thế mà tất cả chú ý giáo dục tới nay được dồn hầu trọn vẹn vào trung tiểu học mà bỏ lơ Đại học: ngân sách giáo dục năm nay là 8 tỉ thì dành cho trung tiểu học 6 tỉ rưỡi, còn Đại học tất cả chỉ có nửa tỉ không mấy khác chương trình của thực dân đào luyện thông ngôn và bỏ bê Đại học là đúng đường lối giữ nước mình làm một thị trường tiêu thị hàng cho mẫu quốc. Tại sao nay chung ta đã lấy lại độc lập rồi con tiếp tục lề lối làm việc của thực dân. Theo tỉ lệ các nước tân tiến nhất thì cứ bốn sinh viên kỹ thuật mới có một sinh viên văn khoa. Vậy mà nước ta thì có tới bốn sinh viên văn khoa chưa chắc đã được một sinh viên kỹ thuật. Khi các em học xong trung học không biết đi học ở đâu nữa: cao đẳng kỹ thuật chỉ mở tượng trưng, Y và Dược nhận có hạn và vì vậy là phải vì Y và Dược cũng chỉ là phục vụ việc tiêu thụ. Còn lại bao nhiêu vì không biết học gì nên phải đổ xô nhau vào trong hai trường Luật và Văn khoa. Đã nhiều lần bàn tới và chính quyền cũng công nhận bi trạng này, nhưng cuối cùng vẫn thoái thác viện lý do thiếu ngân sách. Và mọi người đều phải chịu vậy chờ khi nào có tiền sẽ hay, y như sự thiếu hụt ngân sách là căn nguyên gây nên tệ trạng này. Nhưng thực sự không phải thế.

Chúng tôi cho rằng ngân quĩ eo hẹp cũng như chiến tranh mới là tùy phu: còn việc chính thì chưa được nêu ra đó là vấn đề tiêu dùng ngân sách. Chúng ta hỏi rằng có nên ưu tiên trung tiểu học như nay chăng? Hỏi như thế ai cũng sẽ nhận ra rằng ưu tiên phải dành cho Đại học vì chỉ có Đại học mới là nơi sáng kiến phát minh, cao đẳng mới hiện thực tức là kiến thiết quốc gia thực sự, còn trung tiểu học chỉ là sửa soạn. Lo cho trung tiểu học mà bỏ bê Đại học thì có khác chi trồng cây chăm cho đến lúc nảy nụ rồi bỏ héo khô, không chăm sóc cho tới lúc kết quả. Muốn có kết quả thì phải biết lo cho Đại học. Không phải trung học không cần nhưng nếu vì ngân sách chưa đủ thì tạm hoãn lại vì ở trung học còn trông vào tư nhân. Ngược lại Đại học vượt tầm với của tư nhân, nhất là về đàng thành công. Vì cho được mở những trường cao đẳng kỹ thuật đòi phải có các chương trình 5, 10, 20, 40 năm mới ước đoán được số kỹ sư cần thiết cho mỗi ngành. Điều đó chỉ có chính quyền mới hiện thực được. Thế mà chính quyền không làm thì tức là bắt nước phải trì trệ trong chậm tiến. Một chính trị tốt thì bao giờ cũng làm cái dân không thể làm, còn dành lại cho dân cái dân làm được. Trong trường hợp ở đây cái dân không làm được là Đại học, là cao đẳng, lẽ ra chính quyền phải dành ưu tiên cho bậc này. Thế mà cho tới nay chỉ thấy chính quyền cố sức đua hơi với tư nhân: ngân sách có bao nhiêu cũng giốc hầu trọn vẹn vào việc xây cất các lớp trung tiểu học, hầu như để cuối năm có dịp khoe khoang thành tích bằng thống kê số các lớp được xây cất thêm. Ông nọ truyền cho ông kia vẫn mãi mãi một điệu như nhau cả và như thế là có cả mười mấy năm rồi, không tiến được lấy một bước nhỏ. Trường sở đại học văn khoa vẫn bệ rạc đến nỗi không thể tưởng, thế mà trải qua bao nhiêu chính quyền không tìm thấy được một mống nào biết đến cái quốc xỉ để thấy rằng Đại học văn khoa dầu sao cũng là bộ mặt tinh thần của đất nước, thì dẫu túng thiếu tới đâu cũng nên cố giữ lấy cái thể diện, nhất là đối với một nước đã có tiếng nhiều ngàn năm văn hiến, thì tiếc chi giăm ba trăm triệu tu bổ lại để đói cho sạch rách cho thơm:

Đấy là những điều cần phải làm vì thế chúng ta không nên ngồi mà chờ ngày có đủ ngân sách nhưng phải vận động cho chính quyền dành tức khắc cho Đại học, nếu không hơn ít ra một nửa ngân sách, tức là 4 tỉ thay vì nửa tỉ hiện nay. Nếu sợ vì đó mà gây ra nhiều lộn xộn trong sự thay đổi kế hoạch thì nên thu tiền học phí trường công để có thể tiếp tục duy trì bộ máy giáo chức nhà nước ở trung tiểu học, nếu có vì thế mà số học sinh trung tiểu học bớt đi đôi chút thì cũng mới là sự thiệt hại cho một số cá nhân, chưa phải là nguy cấp cho cả nước như sự tiếp tục chính sách giáo dục hiện hành. Vì nền giáo dục thì là nền giáo dục dẫn quốc dân tới chỗ ăn mày. Bởi vì giốc hầu trọn vẹn tiền vào việc sản xuất ra tú tài rồi bỏ đấy giở ông giở thẳng vì không nơi học thêm. Điều cần lo trước hết là trong lúc khó khăn này không phải là lo cho có thêm nhiều cô cậu tú tài thọt, nhưng là lo cho những cô cậu tú tài đó trở nên những người tốt nghiệp có thể giúp vào việc kiến quốc, khỏi phải đi thuê chuyên viên ngoại quốc trong khi người nhà thất nghiệp ngồi nhìn. Có được học đâu mà chẳng ngồi nhìn. Một nền giáo dục có đường hướng phải làm thế nào để các học sinh xong trung học có trường học thêm, và khi tốt nghiệp có nơi làm việc. Được như thế mới có lối thoát cho bản thân người đi học cũng như đóng góp vào việc kiến quốc.

Trở lên là mấy điều thuộc thành công và những điều này hiển nhiên ai cũng thấy được, vì thế mà chúng ta có quyền ái ngại hỏi tại sao chính quyền không chịu làm? Tại sao trong lưỡng viện không một ai lên tiếng? và tại sao chính sinh viên học sinh cũng không tranh đấu cho những mục tiêu chính đại quang minh và khẩn cấp cho thân mình như cho đất nước như vậy?

Thưa quí vị chúng ta đã mất quá nhiều năm tháng ngao du hoang phí rồi. Cần phải hành động gấp rút.

Bây giờ tôi xin đề cập đến thành nhân cần phải có một đường hướng tức là một cơ sở tinh thần cho chương trình giáo dục, để các cái học khỏi rời rạc tản mát. Đó là điều rất hệ trọng vì cái học mà tản mát sẽ khiến tâm hồn người đi học cũng tản mát và trở nên nông cạn không nơi bám víu rồi không còn lý tưởng cao thượng: khi học xong nếu không mắc chứng tán loạn tinh thần thì cũng chỉ trở nên những kẻ ích kỷ chỉ biết lo vơ vét cho đầy túi riêng chứ không còn biết tới nghĩa đồng bào, tiền đồ tổ quốc là chi nữa. Vì thế để xứng danh với bộ giáo dục thì cần phải đưa ra một đường hướng cho giáo dục, một chủ đạo. hiếu nó bộ giáo dục dốc ra bộ học thức với mục tiêu duy nhất là ban phát cho người đi học một số tri thức nào bất kỳ. Vậy tại sao cho tới nay tất cả mọi chương trình giáo dục đều chỉ là bộ học vấn, vì chỉ có một chiều? Thưa vì trước hết người ta yên trí đã có hai chiều vì ai cũng cho là đã có đức dục nó là chiều kích thứ hai đối với chiều kích kia gọi là trí dục. Nhưng trong thực chất thì đức dục là gì nếu không là luân lý, văn chương, và tôn giáo… Nhưng bấy nhiêu có phải là đức dục chăng? Vì luân lý cũng như cả môn công dân giáo dục chỉ đem ra những công thức ước định cần thiết cho đời sống bên ngoài với những lời khuyến thiện. Nhưng đó không là đức dục vì đức dục chân thực phải là khoa khai thác được nguồn linh lực tự trong con người luôn luôn vọt lên. Cho được như thế nó phải đi theo tâm linh hay là toàn thể, vì chỉ có toàn thể mới có sống mà có sống thì mới tự động tự bơm linh lực cho người học làm cho người học trở nên hăng say thành khẩn với đức lý. Cái đó luân lý có làm được đâu, nó cũng chỉ là một tri thức gởi tới lý trí với một số câu khuyến thiện gởi tới ý muốn tất cả chỉ có giá trị nhứt thời chưa có chi gởi tới tâm linh thì sức mấy mà huy động nổi con người toàn diện cách bền bỉ, cho nên phải dùng đến hứa hẹn là dẫu tỏ ra nó con một chiều y như trí đức tức học vấn suông.
Còn văn chương văn học thì chỉ là những môn học thời bình có mục đích đẹp đẽ hoá cuộc đời, vậy nó đòi hỏi có cuộc đời đã mới khả dĩ trang hoàng. Nói khác sứ mạng văn chương không phải là đào sâu đến tận nguồn linh lực mà chỉ là trang sức nên cũng không là đức dục theo nghĩa uyên nguyên. Có chăng chỉ còn tôn giáo, nhưng vì tôn giáo là một niềm tin không thể bó buộc mà phải để tùy ý mỗi người. Nhưng chính vì vậy mà có rất nhiều tôn giáo, vì đó mà không thể đưa tôn giáo vào. Làm thế sẽ là gieo mầm chia rẽ trong dân nước.
Bởi thế cuối cùng phải cần đến triết lý. nhưng nói đến triết thì lại vấp vào một bế tắc nan giải, là vì triết học bàn những cái gì trừu tượng xa thực tế, nên bị coi là xa xỉ phẩm. Mà quả thực như thế. Lý do sâu xa là vì bên Tây Âu triết học đã được sáng nghĩ ra do những người tự do sống trên đầu trên cổ nô lệ, mà không biết chi tới những thực tế ăn làm nên những vấn đề triết học họ đặt ra toàn nằm chình ình bên ngoài đời sống. Đấy là điều hiện nay đã được nhiều người nhận ra và được nhiều người tìm cách sửa đổi nhưng chưa đạt kết quả, nên triết vẫn còn trong tình trạng thập nhị sứ quân, chỉ có thể học hỏi nghiên cứu chứ không thể đưa vào làm chủ đạo cho nền quốc học và chính vì đó nên nền giáo dục của Tây Phương vẫn còn thiếu hồn, thiếu bản chất, là vì nó thiếu yếu tố qui tụ.

Bởi vậy nói đến giáo dục tổng hợp mà chỉ căn cứ trên văn hoá Tây Âu thì đó chỉ là nói cho vui truyện. Thiếu yếu tố qui tụ thì chỉ là tổng cộng chứ sức mấy mà đáng gọi là tổng hợp? Và vì thế cuối cùng chúng ta phải kiến thiết lấy một nền triết lý mới dựa trên những nguyên lý lưỡng nhất tinh của Việt Nho, và được triển khai nhờ những yếu tố của gió bốn phương. Nền triết lý táo bạo này phải là một nền triết lý nhân sinh nghĩa là phải đáp ứng được những như yếu của con người toàn diện cả tư nhân cũng như công dân. Cả con người đại ngã tâm linh u áo, cũng như con người bé nhỏ sống trong xã hội chịu những điều kiện của ăn làm thời tiết với những mối giao liên phiền toái. Ngày nào chúng ta kiến thiết được một nền triết lý như vậy và ngày nào được chính quyền chấp nhận vào chương trình giáo dục thì tự hôm đó chúng ta sẽ là nước đầu tiên trên thế giới có một nền giáo dục lưỡng diện tức cũng là bước tiên quyết cho sự phục hưng đất nước, một điều kiện bất khả vô cho bất cứ một cải cách sâu rộng nào; từ hoạt động chính trị, kinh tế cho tới hoạt động văn hoá xã hội. Là vì bất cứ chương trình nào hay mấy kệ nếu thiếu người nhiệt thành với ích chung đem hết tâm hồn vào thực hiện thì chỉ là những dự án suông trên giấy tờ. Vậy hỏi cái gì đào tạo nên những người có tâm hồn quảng đại bao la đó, nếu không là một nền giáo dục lưỡng nhất tinh.

Bao giờ chính quyền chấp nhận? Theo quan niệm truyền thống “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” thì câu hỏi trên cũng có nghĩa là bao giờ chúng ta làm việc để cho có một nền giáo dục lưỡng diện, và vận động cho nền giáo dục đó được thực thi. Như thế thì câu thưa không ở xa nhưng nằm ngay trong mỗi người chúng ta. Và lúc ấy câu hỏi bao giờ chính quyền làm, trở thành bao giờ chúng ta sẽ làm ?

Bài này trình bày mấy ý nghĩa đã được triết gia Lương Kim Định phát biểu trọn vào buổi nói truyện với sinh viên (Đắc Lộ và Duy Linh) trên vô tuyến truyền thanh vào lối thượng tuần háng 5-1970