Long An: cô giáo nện học sinh thâm tím cả thân mình

Một học sinh ở Long An vừa bị cô giáo nện thâm tím người. Do ngay cái đầu tiên bé đau quá không dám khóc nên cô tưởng không đau, cô nện thêm một số cái thật lực.

Đến chiều bé về nhà thì đau đi không nổi, nên cha mẹ phát hiện. Cha mẹ bé giận quá nên gọi nhà trường. Cô giáo và hiệu trưởng đã đến nhà xin lỗi.

Do cha mẹ bé sợ mạng xã hội sẽ vật chết cô giáo nên họ xin… nương tay, xin không đăng báo. Tui nói, bất cứ khi nào họ cảm thấy không ổn thì hãy cho tui biết.

Giáo dục thời vô Nhân, bất Luận, rất Nhạ.

Nhà báo Trương Châu Hữu Danh/ facebook

P/s: Do tôn trọng ý muốn gia đình nên tui chưa công bố số điện thoại các bên.

47681630_1183886228429541_3111088719390572544_n.jpg

Nhà trường tiếp tục dối trá về 50 cái tát ở Hà Nội

Cuộc họp báo về vụ cô giáo bắt học sinh lớp 2 tát bạn 50 cái ở trường Tiểu học Quang Trung (Đống Đa- Hà Nội) vừa diễn ra.

Hiệu trưởng tiếp tục cho rằng chỉ có vụ bạn tát bạn khi vui đùa nhưng ngay sau đó phụ huynh học sinh bị tát khẳng định ngược lại.


Chị nói “ Chiều 3/2 chiều con đi học về nói cô bảo bạn tát con 50 cái. Hôm sau cô Trang và hiệu phó đến xin lỗi. Tối 3/12 cô giáo bắt bạn tát và Hiệu trưởng đã gọi điện nhận sai”. Chị cũng đã hỏi nhiều phụ huynh có con cùng lớp và tất cả đều cho hay có chuyện cô giáo bắt các em tát con mình.

ddđ-6.jpg


Nhưng phụ huynh này cũng hành xử khá hay khi tuyên bố tha thứ cho cô giáo để tạo điều kiện cho cô trẻ người non dạ trở lại giảng dạy và mong báo chí đừng thổi phồng sự việc vì hiện con chị đã đi học bình thường chỉ hơi đau chút thôi!

 


Sau đó bị chất vấn tại sao nói không mà phụ huynh nói có thì bà Hiệu trưởng thiện lành nại là theo giải trình của giáo viên và đang tiếp tục tìm hiểu xác minh rồi xin kết thúc họp báo vì hết giờ! 


Ông Trưởng phòng giáo dục  ở lại chịu trận nhưng cũng trả lời loanh quanh. Ô ấy nói rằng hôm qua có thể qua điện thoại nghe không rõ chứ mình không bảo không có chuyện cô giáo bắt tát và lờ đi câu hỏi giáo viên này là con lãnh đạo quận? Được biết cô giáo Lê Hà Trang, sinh năm 1992, là giáo viên mới về trường từ tháng 8 và là con gái của bà Nhung Phó chủ tịch Quận Đống Đa.

dff.jpg


Cuối cùng thì sự thật là trường bảo cô không tát, phụ huynh nói có nhưng tha thứ, Trưởng phòng loanh quanh lúc có lúc không, tạm đình chỉ giáo viên 5 ngày và sự thật vẫn lẩn trốn đâu đó trong khi chờ môn Tát đang được xem xét để đưa vào chính khóa! hehe

47391927_204270617193186_9018452253740105728_n-1.jpg

Hà Phan / facebook

Bản kiểm điểm 20.11: Mặt trái của tôi

Bản tự kiểm này không có ý trách ai. Chỉ tự trách mình. Nếu ai chỉ vì sự thật mà thấy khó chịu thì xin lượng thứ.

Anh Đặng Quyết Tiến (Đại học Thái Nguyên) có bài khen tôi, rằng tôi là “một định nghĩa về người thầy”. Thú thật, tôi chỉ biết tôi khác người, khác ngay trong trường hợp này: không thích được khen. Đơn giản vì tôi đã từng trải nghiệm cái sự khen, mỗi khi có ai khen mình là phiền hà to. Sẽ có kẻ lôi mặt trái có thật lẫn bịa đặt ra để… đấu tố. Hu hu. Cuộc cách mạng cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước đã có công rất lớn trong việc xây dựng con người Việt Nam như vậy. May mà anh Tiến mới chỉ định nghĩa tôi là thầy chứ không định nghĩa tôi là thánh!

Tốt nhất, các bạn đừng khen tôi để tôi được bình yên.

Nhưng nhân đây, ngày Hiến chương nhà giáo, cũng nên tự kiểm điểm mặt trái của mình.

Thời mới làm cán bộ giảng dạy, tôi cũng rất độc tài và tham lam, căn bệnh của Nho giáo đã thấm vào máu. Tôi từng hoang tưởng làm thầy to lắm nên rất độc tài và tham lam.

Độc tài ở chỗ có thể mắng té tát học viên, sinh viên của tôi nếu thấy họ vi phạm chuẩn mực học đường. Những lúc ấy thường viện dẫn lời vàng ý ngọc của Khổng Tử ra để giáo huấn. May mà tôi chưa bao giờ trù dập hay trừng phạt ai. Mắng xong rồi tha thứ. Phải đến lúc phát hiện ra ai cũng có thể viện dẫn cụ Khổng làm tấm bùa ma pháp biến người học thành nô lệ, tôi mới từ giã cái đạo “vô đạo” ấy.

Còn sự tham lam thì nằm ngay ở sự sung sướng khi được tặng quà, phong bì. Nó bắt đầu ngay từ lúc mới ra trường tập sự. Mỗi năm đến ngày nhà giáo, thấy thầy ở chung phòng được tặng rất nhiều quà mà thèm. Mà anh ta mỗi khi được tặng, anh ta thường rút ruột quà ra cất, còn cái vỏ thì trưng diện trên bàn đến suốt năm, càng kích thích lòng tham của tôi. Khi ấy, tôi thường ao ước thời gian tập sự qua nhanh để được chính thức đứng lớp, được đám sinh viên “tôn sư trọng đạo” biếu cho nhiều quà. Ôi chỉ có quà mới làm nên danh giá của người thầy.

Sự tham lam này kéo dài cho đến những năm tháng đi dạy tại chức. Được học viên cung phụng ăn uống ngày ba bữa, dạy xong còn được nhận quà và phong bì, sướng lắm. Vì không biết gợi ý hay bắt nạt học viên, nên có những lớp chúng chẳng mời ăn, chẳng cho quà, thấy cứ hụt hẫng như con nghiện thiếu thuốc vậy.

Mãi đến khi giật mình nghĩ lại cái thời mình làm sinh viên rồi đi học cao học, chỉ vì cái ngày 20 tháng 11 mà có lúc từng không có tiền quà cho thầy hay mời thầy một bữa ăn mà chua chát. Chua chát nhất là khi đứa con trai đi học nhà trẻ bị cô giáo đánh sưng mắt như trái banh, có thể chỉ là vô tình vì bé không chịu ngủ trưa, nhưng lòng lại cứ lẩn quẩn chuyện 20.11 không có tiền mua quà cho cô. Lần đầu tiên tôi phải thốt lên: Ngày 20.11 là ngày chết tiệt, ngày làm khổ cho cả thầy lẫn trò và các phụ huynh.

Phải nói rằng, phong bì và quà là thứ thuốc phiện, nó làm cho người ta nghiện. Chính bản thân mình khi đã quen nhận của người khác rồi mà thấy thiếu một chút thì đã dằn vặt khổ sở. Mà khi đã dằn vặt khổ sở thì sẽ gây khổ sở cho bao nhiêu người khác.

Bắt đầu từ đó, tôi quyết cai nghiện.

Nhưng bất ngờ là sự cai nghiện của tôi lại làm cho nhiều người khó chịu. Tôi cố gắng từ chối mọi cuộc mời mọc ăn uống và phong bì phong bao. Vậy là những con nghiện khác chỉ trích tôi cực đoan, lập dị, thậm chí tìm cách sỉ nhục. Tôi im lặng và làm ngơ mọi sự. Đến mức khi làm thanh tra, có bao nhiêu đơn kiện của học viên về sự cưỡng hiếp cả tiền lẫn tình của mấy tên bạo chúa học đường, tôi cũng tìm cách ém nhẹm cho xong. Không ngờ tôi bị tấn công phủ đầu. Có cả một đám con nghiện đưa tôi lên báo chí để bôi nhọ, khiến tôi phải nổi cơn thịnh nộ lôi tất cả ra ánh sáng và buộc hiệu trưởng đuổi thẳng cổ những tên bạo chúa đó ra khỏi giảng đường. Vậy là tôi bị chỉ trích “độc ác” với đồng nghiệp.

Một lần, sau buổi dạy tại chức, một nhóm học viên mời quý thầy đang dạy họ đi… nhậu. Gọi là nhậu vì không có bữa ăn nào quý thầy không nốc bia như chưa bao giờ được uống. Tôi một mình lặng lẽ xuống căn tin thì bất ngờ một thầy nói với theo, giọng vừa kiêu hãnh vừa mỉa mai:

– Chú Hùng ăn ở thế nào mà học trò không mời được bữa cơm hè?

Tôi vừa đi vừa cười và nói: nhục chưa?

Nhiều lần để rửa nhục, tôi cũng nhận lời đi ăn với học sinh. Nhưng cũng nhiều lần tôi rút ví trả tiền. Và kết quả là, ăn một bữa với học trò, có khi đến chục bạn, tính ra tôi phải mất tiền đến chục bữa ăn. Ôi, sao cái ăn của người Việt mình nó cứ tủn mủn và khổ sở suốt bốn ngàn năm vậy?

Thôi thì phải nghĩ lại. Do đi dạy xa, ăn một mình cũng tủi thân, thỉnh thoảng phải đi dùng cơm với học trò vậy, nhưng cố gắng không ăn dầm ăn dề như một con nghiện.

Biết tính tôi né tránh những cuộc ăn nhậu đông người, không ít lần quý thầy ấy lừa tôi, rằng quý thầy mời cơm, không có học trò đâu mà lo. Vậy là tôi cả tin đi. Bất ngờ khi ăn gần xong, quý thầy đó gọi điện cho vài ba học viên đến để… trả tiền. Tôi ớn tận cổ với cái cách “tôn sư trọng đạo” đó. Lần gần đây nhất, một thầy hứa tuyệt đối không có mặt học trò, thầy đó chiêu đãi nên hãy đi cho vui. Nhưng khi tôi đặt chân vào quán thì hỡi ôi, có đủ mặt lớp trưởng lớp phó đang học tại chức. Tôi lặng lẽ không nói gì, vì lúc đó có cả quan khách sở tại. Ăn sắp xong, học trò ra quầy trả tiền. Lần này tôi không thể ngồi yên nữa. Tôi chặn học trò lại và kéo tay thầy đó ra quầy thanh toán. Tôi nói to: hôm nay thầy này trả tiền, vì thầy này đã mời tôi với cam kết rõ ràng. Tình thế buộc thầy đó phải ngậm đắng nuốt cay rút ví thanh toán hết. Nhưng tôi biết tôi sẽ bị thù. Mặc xác, vì những con nghiện thù nhất là người đã cai nghiện.

Không chỉ quà cáp, phong bì phong bao và ăn nhậu. Trên đời có nhiều thứ dễ làm cho người ta nghiện. Có thầy đi ăn mà học trò gái ngồi bên cạnh không đẹp là hôm sau lên chửi cả lớp te tát. Rồi nghiện danh, nghiện chức quyền nữa. Phấn đấu mãi mà chưa được vào đảng thì chửi tiên sư lũ đảng viên của chi bộ đã làm tao nhục cả làng cả nước. Chưa bảo vệ xong tiến sĩ có người đã in cả ngàn cái cạc về quê rắc như gieo mạ vì sợ người ta không biết mình sắp tiến sĩ. Hết nhiệm kỳ thì người ta cho nghỉ, nhưng ấm ức vì… thấy nhục như con trùng trục.

Mà những điều ấy quý thầy bày tỏ công khai mới làm khổ thân tôi. Tôi không vào đảng, nhục với cả dòng họ tôi. Tôi không chức quyền, nhục với dân với nước tôi. Tôi không hưởng sự “tôn sư trọng đạo” bằng cách ăn nhậu dầm dề với học trò, nhục với học trò tôi. Và kết cục là có lần tôi bị mắng te tát. Đó là lần phản biện hai học viên cao học, chúng đem tới nhà vừa hoa quả vừa cái phong bì. Tôi chỉ nhận hoa quả và kiên quyết trả phong bì. Tối hôm sau trước ngày bảo vệ, có mặt nhiều đồng nghiệp tại quán cafe, tôi bị người hướng dẫn hai học viên đó chỉ mặt nói thẳng thừng, rằng tại sao mày không nhận phong bì, chúng đi học thì phải tốn tiền cũng như mày đi học từng phải tốn tiền. Tôi hiểu cái nghiệp luân hồi đó rồi. Nhưng tôi chỉ biết hớp ly nước thay thuốc chống nhục mà nói, thưa thầy, quý thầy cứ hồn nhiên nhận phong bì, coi như em không nghe không biết không thấy, còn em không thể nhận phong bì của học trò vì em đi học từ cao học đến nghiên cứu sinh, may mắn được quý thầy thương miễn lễ hoàn toàn, không tốn kém như quý thầy ở đây tưởng tượng.

Thầy tôi dạy: “Nhận một phong bì hay túi quà dù lớn cỡ nào cũng không giàu hơn lên mà mất đi sự tôn trọng, thậm chí bị khinh bỉ. Ngược lại, từ chối một phong bì hay túi quà sẽ nhận được kính trọng cả đời”. Tôi làm theo lời thầy và hậu quả là… bị nhiều kẻ thâm thù. Khổ thân tôi…

Bây giờ thì tôi chỉ còn nghiện hai thứ duy nhất: thuốc lá và facebook. Hai món này cũng có hại cho tôi và nhiều người, nhưng tôi lại thấy ít hại hơn những cái nghiện khác. Đành chấp nhận mặt trái mà sống vậy.

Nhà giáo Chu Mộng Long/blog

Cô giáo “ép” cả lớp tát học sinh 231 cái đã tự tử bất thành!

Cô Thủy được người nhà đưa vào bệnh viện cấp cứu trong tình trạng tinh thần hoảng loạn, lúc tỉnh lúc mê.

 

Đọc tiếp “Cô giáo “ép” cả lớp tát học sinh 231 cái đã tự tử bất thành!”

Trưởng phòng giáo dục giấu nhẹm học trò bị tát 231 cái.

+Võ Thái Hòa, trưởng phòng giáo dục đào tạo huyện Quảng Ninh đã dấu nhẹm vụ học sinh bị phạt tát mấy trăm cái ở trường Trung Học Cơ Sở Duy Ninh với cấp trên.

 

Đọc tiếp “Trưởng phòng giáo dục giấu nhẹm học trò bị tát 231 cái.”

Tiến sĩ văn chương kiến nghị bắt buộc chơi Facebook đối với tất cả các giáo viên

Tiến sĩ văn chương Chu Mộng Long ở đại học Quy Nhơn-Bình Định đề xuất với Bộ trưởng Bộ giáo dục- Đào tạo rằng phải bắt buộc tất cả các giáo viên sử dụng mạng xã hội Facebook để kiểm soát đạo đức nghề nghiệp lẫn nhau.

Trích bức thư ngỏ của tiến sĩ Chu Mộng Long:

KIẾN NGHỊ BỘ TRƯỞNG: VỀ SỰ BẮT BUỘC GIÁO VIÊN CHƠI FACEBOOK

Đã có bao giờ Bộ trưởng nghĩ vì sao từng có nhiều sự vụ bạo hành trẻ em bị dư luận chỉ trích dữ dội, thậm chí nhiều vụ nghiêm trọng được mang ra xét xử mà bạo hành vẫn tiếp tục leo thang ngày một trầm trọng hơn chưa?Bệnh thành tích gây áp lực biến con người thành quỷ dữ là nguyên nhân đầu tiên, hiển nhiên rồi. Cái gốc là cần chấm dứt những trò thi đua vì thành tích.

Nhưng tôi lại hình dung trong lúc khó chấm dứt bệnh thành tích thì cần có một giải pháp nhanh hiệu quả để răn đe. Đó là bắt buộc tất cả các giáo viên đều phải chơi Facebook!
Tôi vừa hỏi nhiều số giáo viên có biết thông tin gì về những vụ bạo hành trẻ em bị dự luận chỉ trích và cơ quan chức năng xét xử không? Đa số không hề biết!

Trong số đó có những người không hề biết Facebook là gì vì hiệu trưởng của họ cấm, sợ giáo viên tiếp thu thông tin phản động. Một số có chơi Facebook nhưng chỉ để khoe hình, khoe danh, khoe thành tích. Đến cái giấy khen cổ lỗ sĩ thời phân bắc phân xanh mà cũng chụp khoe lên cho mọi người chiêm ngưỡng. Thử hình dung suốt ngày kẻ thì thủ dâm với thành tích đang chạy đua ngoài đời, kẻ thì lại thủ dâm với thế giới ảo như vậy thì còn sức đâu mà cập nhật thông tin? Đa số giáo viên bị mù thông tin, nên có xử một trăm vụ họ vẫn không thay đổi nhận thức.

Thử hỏi cô giáo Dạ Xoa với nhị bách tam thập nhất chưởng vừa rồi có thông tin gì về những vụ bạo hành trước đó không? Chắc chắn mụ ta không biết gì nên mới ra nông nỗi.

Vì thế, tôi kiến nghị Bộ trưởng ra quyết định khẩn cấp bắt buộc mọi giáo viên đều phải chơi Facebook. Tất nhiên phải kết nối hoặc theo dõi những trang thông tin nóng và bình luận khai trí để cập nhật thông tin và hiểu được lẽ đúng sai. Nghiêm cấm chơi Facebook mà chỉ để khoe hình, khoe danh, khoe thành tích. Bởi cái món khoe hình, khoe danh, khoe thành tích trên mạng ảo cũng là một phần của bệnh thành tích.

Lãnh đạo Bộ cũng phải chơi Facebook để cập nhật thông tin thường xuyên mà có cách ứng xử đúng, kịp thời, nếu không lãnh đạo cũng mù tịt! Mà dân thì cần lãnh đạo sáng suốt chứ chẳng nhẽ đóng thuế nuôi anh mù có mắt?

Chu Mộng Long

Cộng đồng mạng Việt Nam vạch mặt giảng viên đểu và giáo sư đểu

ĐỜI KHÔNG NHƯ LÀ PHIM.

Hôm nay, đạo diễn Việt Đặng (Đặng Quốc Việt), người từng quay bộ phim “Theo chân Bác (1995)”, đạo diễn phim “Chân dung về Giáo sư Vũ Khiêu, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” đã đưa lên trang FB cá nhân của mình lá đơn kêu cứu khẩn thiết, yêu cầu lực lượng “còn đảng còn mình” ở Cần Thơ phải trả lại danh dự, nhân phẩm cũng như bồi thường các tổn hại thân thể cho ông sau sự việc bắt nhầm hôm 9-11-2108.

Tóm tắt câu chuyện: ngày 09/11/2018, ông bị CA Cần Thơ vô cớ còng tay, lôi về đồn đánh đập dã man, đánh đến té đái (theo trong đơn cầu cứu) mà không hề có lệnh bắt hay bất cứ lý do hợp pháp nào. Theo đơn trình bày, lần đầu tiên ông mới biết công an “vì nước quên thân vì dân phục vụ” chủ yếu dùng nghiệp vụ nắm đấm với chửi thề để lấy cung nghi phạm là ông, chỉ vì họ nhầm ông với 1 đối tượng buôn ma túy.

Họ tra tấn ông 1 ngày 1 đêm khiến ông mém chút xíu nữa thì “theo chân Bác”, may mà số ông chưa hết nên chưa chết. Khi biết chắc ông không phải là nghi phạm buôn ma túy, họ quăng ông ra khỏi đồn như quăng 1 bịch rác, để ông tự chữa chạy chấn thương và khiến 1 số tài sản của ông bốc hơi không hẹn ngày trở lại (theo đơn ông trình bày, ông bị mất một đôi kiến Rayban ma dê in USA trị giá 600 USD & 150.000.000 VN Đồng + 300 USD).

Hy vọng, sau chuyến đi thực tế này, ông có đủ tư liệu để làm bộ phim “Còn Đảng Thì Mình Tèo” vạch rõ bộ mặt thật của lực lượng “còn đảng còn mình”, để thức tỉnh những ai còn u mê vẫn muốn “theo chân bác”.
.
P/s: ai muốn xem chi tiết “ĐƠN XIN CẦU CỨU” của ông, cũng như quy trình tác nghiệp lấy cung nghi phạm đến té đái của công an thì vô thẳng trang của ông tại đây: https://www.facebook.com/viet.dang.39108/posts/2027250567333909

 

Theo facebooker Vũ Cận.

Tại sao giảng viên không nên yêu học trò của mình?

Agnieszka Piotrowska là một nhà sản xuất phim, một giảng viên trong thực hành và lý thuyết phim tại Đại học Bedfordshire Anh và Đại học Gdansk, Ba Lan. Cô đã viết rất nhiều về phân tâm học, điện ảnh và văn hóa và là chủ tịch của Giải Thưởng của Hiệp hội nghiên cứu thực hành phim, truyền hình và nghiên cứu màn hình của Anh. Cô chia sẽ suy nghĩ của mình về chủ đề tình yêu giữa sinh viên và giảng viên của họ.

32853183_616466815373203_5630378348946391040_n-1

Mối quan hệ tình ái giữa giảng viên và sinh viên phải bị giới hạn ngay cả khi cả hai bên đồng ý việc giao kết, Agnieszka Piotrowska – người có kinh nghiệm cá nhân về tính dễ bị tổn thương của sinh viên trong các mối quan hệ không đối xứng như vậy

Là một trong các vấn đề tự do cá nhân cơ bản, chúng ta phải được phép khao khát những người không giống chúng ta. Những gì người đã trưởng thành làm trong các tình huống riêng tư chắc chắn là chuyện của họ, miễn là họ đồng ý với các quan hệ tình ái – và sẵn sàng chấp nhận hậu quả.

Ở các nước tiên tiến, nếu mối quan hệ tình ái giữa các giảng viên và sinh viên không bị cấm bởi các trường đại học, các trường nầy chắc chắn cũng không khuyến khích các mối quan hệ nầy. Mặc dù vậy, chúng khá phổ biến. Một nữ học giả  Piotrowska biết chỉ ra rằng có rất nhiều ví dụ về các mối quan hệ như vậy kết thúc trong cuộc hôn nhân hạnh phúc. Và một đồng nghiệp nam hỏi: “Nếu toàn bộ cuộc sống của bạn ở trong đại học, làm sao bạn có thể gặp ai ngoài nó?”

Đồng nghiệp của Piotrowska đã có những gì ông mô tả như là một “tình yêu” với một sinh viên đại học khi ông làm giảng viên ở một đại học nước ngoài. Cô sinh viên viết email cho ông ta rằng cô rất có cảm tình với ông, mong muốn không thể nhầm lẫn giữa hai người, và họ nên yêu nhau. Cô ấy xinh đẹp, thông minh và, ở tuổi 25, già dặn hơn và trưởng thành hơn hầu hết các sinh viên đại học. Ông ấy vẫn độc thân, có một cuộc sống tình ái đầy màu sắc, và trông trẻ hơn hầu hết mọi người cùng tuổi.

“Không có gì xảy ra giữa chúng tôi, rõ ràng,” ông nói với Piotrowska. “Tôi đã không hành động vì hoàn cảnh vô lý mà chúng tôi thấy chính mình ngay bây giờ: sau chiến dịch #MeToo, có tổng số nhầm lẫn giữa hãm hiếp tình dục và ham muốn lành mạnh. Ông nói tôi không muốn thấy mình bị dính liếu vào một vụ bê bối và có thể mất việc. Ông nói tôi thích người sinh viên này, nhưng tôi không chuẩn bị liều lĩnh mọi thứ cho mối liên hệ mà cô ấy nhắc đến. Nhưng, vâng, chắc chắn, ông ao ước được có liên hệ tình ái với cô sinh viên. Ông ráng thuyết phục Piotrowska để cô đồng ý rằng những cấm đoán về quan hệ tình ái giữa giảng viên và sinh viên là vô nghĩa và chuyện bịa ra của chủ trương phản tự do.

Piotrowska nói rằng thực ra, cô không biết. Tôi ủng hộ các mối quan hệ tình cảm không đối xứng trong nhiều tầng lớp xã hội, và tôi ủng hộ sự thận trọng khi gọi tất cả các quan hệ giữa giảng viên và sinh viên là có lạm dụng về cấu trúc quyền lực giữa thầy và học trò. Nhưng tôi cũng cảm thấy rằng việc ngăn cấm về các quan hệ nầy là đúng và thích hợp để ngăn chận quan hệ tình ái không chuẩn giữa giảng viên và sinh viên, khi mà các quan hệ nầy có phức tạp đến việc giảng dạy và học tập. Theo ý kiến của tôi, vấn đề không chuẩn trong các quan hệ nầy là trách nhiệm của giảng viên với sinh viên, chứ không phải là sự đồng ý về tình ái giữa hai bên. Và quan điểm của tôi không hoàn toàn chỉ là một phản ánh lý thuyết.

Cách đây rất lâu, tôi là một sinh viên 20 tuổi tại một trường đại học ở Anh. Tôi lúc ấy rất thông minh, trẻ, có đầu óc bướng bỉnh và rất khác với các sinh viên tại chổ. Tôi học một môn rất khó cho người ngoại quốc, việc đọc các ngôn ngữ hiện đại bằng tiếng Anh, khi tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi. Một giảng viên vào tuổi bốn mươi, cũng là người dạy kèm cá nhân của tôi theo như cách phân phối của môn học nầy, đã nhận ra sự lo lắng sâu sắc của tôi về việc học tập nhưng lúc nào cũng động viên tôi, tin tưởng vào khả năng của tôi và đưa cho tôi những hướng dẫn rất giá trị.

Sự chú ý của anh khiến tôi cảm thấy đặc biệt và tăng sự nhiệt tình cho việc học của mình. Bây giờ tôi nhận ra rằng anh ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng về tuổi trung niên, sự nghiệp học tập của anh ấy bị mắc kẹt mặc dù anh ấy có bằng tiến sĩ tại một trong những trường đại học tốt nhất ở Anh.

Trong hai năm, không có gì đáng nói xảy ra trong các hướng dẫn cá nhân giữa anh và tôi hàng tuần. Anh là một giảng viên tuyệt vời, một hướng dẫn viên tuyệt vời và đầy cảm hứng. Luận án của tôi quá tham vọng cho một dự án đại học, nhưng tôi rất thích làm việc đó, tôi đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức, và giảng sư của tôi khuyến khích tôi nộp đơn xin học tiến sĩ tại Đại học Oxford. Tôi đã nhận được một đề nghị từ Oxford và lời hứa về một học bổng có điều kiện về việc tôi nhận được bằng cử nhân hạng nhất.

Sáu tuần trước các kỳ thi cuối cùng của tôi, khi tôi ngồi trong văn phòng giảng sư của tôi, ông nói với tôi rằng luận án của tôi đã được đánh giá tạm thời là rất cao. Tôi bật khóc. Anh ôm tôi trong vòng tay anh. Tôi cảm thấy rất biết ơn, bị choáng ngợp bởi những gì tôi nghĩ là tình yêu. Chúng tôi đã làm tình trên sàn văn phòng của anh ấy, ở đó và sau đó, trên một bộ thảm củ.

Tôi đã kinh hoàng gần như ngay lập tức sau khi đó. Anh ấy là giảng sư yêu quý của tôi – nhưng tôi không muốn làm với anh ấy.

Những ngày tiếp theo tôi bị quấy rầy tinh thần và hỗn loạn đầu óc mà chắc chắn không phải là tốt ngay trước ngày thi cuối của tôi. Tôi vô cùng buồn bã và bối rối. Hai tuần sau đó, có lẽ muốn là một cách để an ủi tôi, giảng sư của tôi đưa tôi đến xem một căn nhà nhỏ ở một trong những con phố gần đó và nói: “Tôi sẽ ly dị vợ tôi. Tại sao chúng ta không sống ở đây, tôi và em? ”

Tôi gần như muốn xỉu. “Nhưng tôi không muốn ở lại đây!” Tôi buột miệng. “Tôi muốn đến Oxford!”

Anh ta rất buồn. Anh ấy nói rằng tôi có thể làm tiến sĩ với anh ấy, ngay tại đây. Nhưng tôi biết tất cả đều sai và hai tuần trước ngày thi cuối, tôi đã cắt đứt mối quan hệ với anh. Trái tim tôi tan vỡ – và như vậy, có lẽ, anh ấy cũng thế.

Tôi đã không chắc được một điều. Rất có thể là tôi đã làm rối tung bản thân và tương lai mình. Có thể khả năng làm bài thi cuối của tôi là yếu kém, hoặc giả giảng sư của tôi đã cố ý cho tôi điểm thấp. Dù bằng cách nào, tôi cũng đã tuyệt vọng.

Tôi vẫn nhớ nhìn vào bảng kết quả, nhìn thấy “2: 1” thay vì “đầu tiên” bên cạnh tên của tôi và suy nghĩ: “Cuộc sống của tôi như tôi muốn nó bây giờ là kết thúc.” Tôi đã khóc cả ngày. Nhưng tôi không phàn nàn. Tôi đã không yêu cầu bài của tôi được chấm lại. Tôi cũng không biết rằng tôi có những quyền như vậy.

Giảng sư của tôi đến gặp tôi trong nhà trọ, nhắc lại rằng tôi có thể làm một tiến sĩ với anh ta thay thế. Tôi đi tàu đến London vào ngày hôm sau và không gặp anh ta từ đó.

Tôi đã làm rất nhiều điều trong cuộc sống của tôi trước khi trở lại đại học khoảng 20 năm sau đó để học và tốt nghiệp tiến sĩ trong mối quan hệ quyền lực không đối xứng giữa các nhà làm phim tài liệu và đối tượng trong phim. Mọi thứ diễn ra tốt đẹp trong cuộc sống của tôi – nhưng đây không phải là vấn đề. Tôi vẫn ước rằng toàn bộ tập phim với giảng sư của tôi chưa bao giờ xảy ra.

Chúng ta không thể kiểm soát những ham muốn bản thân, nhưng chúng ta có thể kiểm soát cách chúng ta hành động, mặc dù phải đối phó với nhiều thôi thúc. Trong bài báo năm 1915 về tình yêu chuyển tiếp, Freud đã thúc giục các nhà phân tích thực tập của mình xem xét việc chuyển tiếp những ham muốn từ bệnh nhân sang các nhà chữa trị tâm lý học. Ông nói rằng chúng ta đang ở đây để làm công việc chữa trị, ông nói với họ, không phải để hình thành các mối quan hệ mật thiết.

Quan hệ giữa giảng viên và sinh viên đã được viết về khá rộng rãi. Một ví dụ là của Jane Gallop, giáo sư xuất sắc về văn và văn chương Anh tại Đại học Wisconsin-Milwaukee. Cô lập luận rằng 20 năm trước, tình dục giữa các sinh viên tốt nghiệp và các giáo sư không bị nhìn với thiếu thiện cảm. Cuốn sách của cô, “Nữ quyền bị cáo buộc quấy rối tình dục” – được viết như là một phản ứng khi cô bị cáo buộc quấy rối tình dục bởi hai nữ sinh viên tốt nghiệp – trình bày một lập luận mạnh mẽ về tự do tình dục như một công cụ chống lại chế độ gia trưởng trong khung cảnh của 20 năm về trước.

Đáp lại, trong một bài luận năm 2000, “Chống lại quyền lực”, Tania Modleski, giáo sư về văn chương Anh tại Đại học Nam California, chỉ ra rằng vấn đề là về quyền lực chứ không phải giới tính. Trách nhiệm chính thức của giảng viên trong việc chăm sóc và hướng dẫn sinh viên là quan trọng. Việc ngăn cấm quan hệ tình dục giữa giảng viên và sinh viên là để bảo vệ sinh viên trong quan hệ thiếu cân bằng về quyền lực giữa giảng viên và sinh viên, nhất là khi các sinh viên nầy đang ở vào giai đoạn dễ bị tổn thương. Những lý giải về tuổi tác, giới tính, sở thích tình dục, trí thông minh hoặc mức độ tự tin của sinh viên trong mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên có thể nói chỉ là một cách để biện minh cho những gì giảng viên mù mờ trong cách hành xử trách nhiệm của mình.

Điều tầm thường nhưng không kém phần cần thiết để nhắc lại rằng nếu sinh viên và giảng viên có ham muốn rất mạnh từ cả hai phía, có rất nhiều biện pháp khắc phục. Điều hiển nhiên nhất là báo cáo mối quan hệ với trường để dàn xếp và chấm dứt mối quan hệ thầy trò, bằng cách yêu cầu trường không để giảng viên giám sát trực tiếp sinh viên trong mối quan hệ. Nhưng chúng ta hãy thẳng thắng ở đây. Nếu ham muốn nổi lên từ chính cấu trúc không đối xứng – niềm đam mê của sinh viên với thầy giáo mạnh mẽ – thế thì nó có thể mất đi nếu cấu trúc đó bị loại bỏ.

Giảng viên có mục tiêu rất đơn giản: hướng dẫn và giảng dạy. Trong trong phạm vi nghề nghiệp nầy, giảng viên không thể phá vỡ, sở hữu hoặc làm rối với sinh viên. Tưởng cũng cần nhớ rằng trong văn bản triết học “Hội nghị chuyên đề” của Plato, một sinh viên của Socrates, Alcibiades, người mong muốn được làm tình với người thầy của mình, phù hợp với văn hóa Hy Lạp cổ đại. Nhưng Socrates từ chối sinh viên xinh đẹp của mình, ủng hộ sự kiêng cử vì lợi ích của kiến thức và tình yêu.

TS.Phạm Đình Bá– đại học Toronto, gửi bài về cho Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam từ Canada

Tài liệu: Agnieszka Piotrowska. What’s love got to do with it? Beyond desire and consent.

https://www.timeshighereducation.com/features/whats-love-got-do-it-beyond-desire-and-consent

Triết lý với Quốc học

Lập Quốc học mà thiếu Triết cũng như người xây nhà sắm đủ gạch, ngói, gỗ, đá nhưng thiếu ciment. Triết ví được với ciment tinh thần có sức ràng buộc các môn lại thành một cơ thể sống động. Vì thế Giáo dục thiếu Triết thì không lấy gì mà thống nhất được các cái học lẻ tẻ cũng như chỉ có triết mới đủ ý tưởng tổng quát để liên kết các nhà khoa học lại với nhau và qui vào một hướng, đem lại cho toàn thể nền học vấn một mối quán thông hầu bơm sinh khí vào từng ngành. Quốc học của dân nào thiếu nền thống nhất đó thì sẽ lăn mạnh xuống dốc phân hoá. Các triết gia mới hầu hết đã ghi nhận rất rõ điều đó: chỉ vì thiếu một niềm tin mãnh liệt thể hiện vào một nền Triết lý chung, nên xã hội Tây Âu bày ra cảnh tản mán và đấu tranh giữa các phe nhóm, đẳng cấp, chủng tộc, địa phương, tôn giáo… rất nguy hiểm để rơi vào tay những kẻ chuyên chế bạo hành.

Bởi vậy trách nhiệm lớn lao của bộ Văn hoá Giáo dục là phải liệu cho nước nhà có một nền Triết lý. Âu Mỹ cũng đều thâm tin như vậy, nhưng sở dĩ họ không làm được chỉ vì chưa tìm ra được nên phải xài đỡ Triết học lý niệm bâng quơ. Nước ta mà cứ để thứ Triết đó thay cho nền Đạo học cố hữu, thì hậu quả là tâm trí người công dân trong nước không còn đất đứng chung. Đấy là lý do sâu xa nhất gây ra sự phân hoá hiện tại. Người lớn thường phàn nàn vì thiếu niên hư hỏng, nhưng đã ai cho thiếu niên học Đạo làm người mà chả hư hỏng. Và thiếu niên muốn không hư hỏng thì phải học với ai? Với người lớn chăng? Nhưng người lớn nào? Tri thức nhé, nhưng tri thức thì theo chứng từ của chính tri thức đã hoàn toàn sa đoạ. Người lớn kêu trẻ sa đoạ , nhưng mà chính người lớn cũng sa đoạ, hỏi đến Đạo lý thì nõ có. Vậy thì xin các báo, ít ra các báo của người lớn hãy tốp bớt cái vụ chửi thiếu niên phạm pháp cho đến khi biện liệu được một Đạo lý cho cả người lớn lẫn thanh thiếu niên.
Muốn nói đến Đạo lý thì phải nói đến Triết.

Vậy ở đây chúng ta bàn về Triết. Triết là triệt, mà triệt có hai hướng là triệt thượng và triệt hạ. Chúng ta sẽ lần lượt bàn về hai loại đó:

Xét về phương diện triệt thượng có thể phân ra 4 yếu tố làm nên một nền Quốc học gọi là dụng , từ, ý, cơ. Có được cả 4 yếu tố đó thì mới đáng tên là triệt thượng.

Dụng là gì?
Thưa Dụng là khi dùng theo nghĩa rộng có thể bao trùm cả hai phía là thành công lẫn thành nhân. Thành công là những đồ dùng, khí cụ để sản xuất như các cơ khí máy móc. Thành nhân là những thể chế hay thói tục thí dụ phép tỉnh điền, tục cưới rể hay cưới dâu, và nhiều cái khác làm thành khuôn mặt của một nếp sống chung, Tây kêu là conduite collective tức là phong thái của một đời sống tập thể, thí dụ mối nhân luân là chủ nô, hay là ngũ luân, phân phối tài sản là vô sản với hữu sản, hoặc bình sản, giao liên theo tinh thần công thể hay óc cá nhân v.v…

Từ là lời nói bao gồm cả những tác phẩm văn chương, văn học, văn nghệ…
ý là những tư tưởng, cũng như những ý hệ (hệ thống các tư tưởng) căn cứ trên một số ý niệm chính, các nền triết lý khác.

Cơ là cái cơ cấu uyên nguyên rất sâu thẳm rất tế vi nhưng lại đóng vai trò quan trọng như lò phát điện đối với các máy chạy điện, chính cái Cơ này mới làm nên cái khung, cái hồn thiêng linh động toàn bộ. Nền văn hoá nào thiếu nó là thiếu hồn và nền giáo dục chỉ còn là học vấn suông , lạnh lùng tản mát có thể làm con người tỉnh táo xảo quyệt nhưng không giúp cho người học nên nhân hậu và dung thông, độ lượng. Vì thế chúng ta cần xét lại từng điểm cách cụ thể. Trước hết là chữ Dụng: khi nghe hai chữ văn minh thì người ta thường nghĩ ngay tới đợt Dụng dầu tiên là khoa học kỹ thuật. Và về điểm này thì người ta quen nói Tây phương có văn minh còn các nơi khác thiếu văn minh và ta có thể nói Tây phương dẫn đầu thế giới trên đường văn minh, điều đó không thể chối cãi ít ra từ thế kỷ 15 về sau. Và thường người ta quen dừng lại ở đấy như cho là tận cùng, như hầu hết thế hệ đàn anh chúng ta đã quen làm vậy. Đến nay thì tâm trạng con người đang thay đổi và đó đây đã có người nói đến nền Minh triết Đông phương, như vậy là người ta đã nghĩ đến đợt Cơ tuy mới là mặc nhiên vì đợt này rất khó trở nên minh nhiên bởi nó không có nhiều mà chỉ là một hai nguyên lý trình bày trong một hai tiếng nên thường người ta rất dễ mất ý thức, tuy trong đời sống nó còn giữ được ít nét nhưng cách tiềm thức.Thí dụ Cơ trong nền văn hoá Việt Nho là Trời Đất giao thoa, được biểu lộ nhiều cách thí dụ tên nước là Văn Lang hay Giao Chỉ cũng ngầm nói lên điều đó. Tuy nhiên đến nay người Việt đã mất ý thức trọn vẹn về cơ nên giải nghĩa tùm lum: Giao Chỉ là hai ngón chân cái quặp lại hay giao chỉ là miền có nhiều giao long (xem Việt Lý chương XIX) tuy giải sai song nhiều người vẫn sống hậu quả trung thực của cơ nhưng cách vô thức. Hậu quả đó rất lớn lao vì đây là đợt sâu thẳm nên âm vang vô cùng quan trọng, chính ờ đợt này mà có sự sai một li đi một dặm. Vì cái Cơ quá tế vi nên chúng ta cần xét về cơ cấu của văn hoá chúng ta. Lối dễ hơn hết, ít ra giúp dễ nhận thức ra cơ cấu đó là lối học đối chiếu với các nền văn minh khác như ấn Độ và Tây Âu, vì thế xin tóm lược hậu quả của ba nền văn minh vào bản sau đây:

Thân tâm Xã hội
Triết Tây : O O
Triết Ấn : Thân tâm O
Triết Việt : Thân tâm xã hội

Bảng trên nói lên rằng Triết Tây không biến cải con người tự thân (thân tâm) cũng như không biến cải xã hội. Triết Ấn biến cải được tự thân nhưng không biến cải xã hội. Còn Triết Việt thì biến cải được cả hai. Mới đọc bảng này nhiều độc giả sẽ cho là quá khích, vì so với hiện trạng thì không có như vậy mà trái lại là chính xã hội Tây Âu đã biến đổi đời sống vượt xa chúng ta trăm ngàn lần. Điều đó chúng tôi cũng nhận như vậy nhưng cho rằng đó là mới có từ hơn một hai trăm nam nay và lý do của sự cải tiến là khoa học cơ khí chứ không do nhân văn. Đành rằng trong cuộc cải tổ xã hội như các cuộc cách mạng Pháp hay các tư trào thợ thuyền đều phải có vận động văn hoá nhưng khởi nguyên là do khoa học tạo điều kiện trước hết, còn nhân văn, văn học chỉ là theo sau, chứ không đi trước. Chúng ta chỉ cần đi ngược thời gian về các thế kỷ trước, thì liền nhận ra xã hội Tây Âu cũng như Ấn Độ vẫn nằm trong mối tương quan chủ nô về người và tư bản vô sản về tài nguyên. Chỉ cần xét hai điểm then chốt đó là đủ hiểu tính chất một xã hội và mức độ hiệu nghiệm của một nền văn hoá. Bởi vì hai điểm này là cột cái trong sự giải phóng con người cách chân thực. Mục đích cùng của Triết là giải phóng con người, không phải bằng lý thuyết suông nhưng bằng những điểm then chốt kể trên: là phá chế độ nô lệ để thiết lập tình huynh đệ phổ biến, và hai là thiết lập chế độ bình sản để bảo đảm cho nền tự do có nội dung. Ai cũng biết bên Tây Âu vẫn chủ trương quyền tuyệt đối tư sản, một chủ trương đã dẫn tới tư bản. Mà đã là tư bản thì một người có, chín người không, không co chi cả nên gọi là vô sản. Đã vô sản thì phải phụ thuộc vào người có để mà sống, mà đã lệ thuộc trong vấn đề dạ dày thì còn mấy tí tự do. Ai cũng biết những triết gia Tây Âu kể cả những vị lẽ ra phải tiến bộ nhất đều chủ trương chế độ nô lệ cần thiết cho đời sống xã hội, thì đủ biết nói Triết Tây chưa giải phóng được con người là điều có thật ít ra trong một thể chế lớn lao lâu dài. Như vậy thì trong những phạm vi khác tế vi hơn đã chắc gì có được giải phóng. Có lẽ vì thế mà bên Âu Mỹ người ta rất hờ hững với Triết, phần lớn coi đó là một xa xỉ phẩm, tệ hơn nữa là chính những người học Triết cũng không dám tin vào chính mình. Ngược lai với bên Viễn Đông, kẽ sĩ dầu sao vẫn được coi trọng thì điều ấy có thể coi là chứng minh sự thành đạt phần nào của cái học, mà nền móng là Triết.
Bây giờ hỏi rằng tại sao lại có sự bất lực nơi hai nền triết học kia thì tôi cho rằng vì cả hai chưa đạt Cơ. Nếu ta biểu hiện cá nhân sống trong xã hội bằng nét ngang và cơ bằng nét dọc thì Triết Tây mới có nét ngang, Triết Ấn mới có nữa nét ngang và nữa nét dọc, Triết lý Việt có cả hai, tức đã giải phóng cá nhân (phá chế độ nô lệ và lập chế độ bình sản) đồng thời cũng trở thành đường tu thân tâm. Nhưng nếu có người hỏi tại sao Triết Việt có đủ cả lại thua Triết Tây mới chỉ có nét ngang. Thưa bởi hai lý do: trước hết vì văn minh kỹ thuật quá cao làm loá mắt người các Châu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá Tây lấn át văn hoá Đông Phương; hai nữa là người ta cho rằng nhờ Triết học mà Khoa học tiến. Đó là sự tin tưởng chung đến nỗi có người như Heidegger lấy sự thành công của Khoa học, để chứng minh thất bại của Triết học. Đây là một sự lầm lỡ tai hại của Heidegger nó giúp vào sự lầm tưởng rằng muốn tiến trong Khoa học thì phải thất bại trong Triết học, cũng như trước đây nhiều người cho rằng phải vứt bỏ tâm linh mới tiến bộ được trong Khoa học cơ khí. Chính vì thế nên giới trí thức ÁChâu đã đầu hàng quá dễ trước Triết học Tây Âu để mong cầu tiến bộ kịp người. Hai nữa người mình đã mất ý thức về cái cơ cấu của nền Văn hoá Dân tộc mà lại chưa có một nền Triết học mới ít ra trong cách lý giải, mạch lạc vì thế trước sức tấn công của đối phương Văn hoá Việt đã không thể cầm cự. Bởi vì bên Văn hoá Tây Phương có tư tưởng và ý hệ đó là những xe tăng, mà Văn hoá Việt lại chỉ có văn chương thi phú ví được với những chậu cảnh , những trang sức tốt thời bình, làm sao chống chọi nổi? Tấy Âu hơn ta ở ý (ý hệ tư tưởng tôn giáo có tổ chức). Còn ta tuy hơn Tây ở Cơ nhưng đã mất ý thức nền văn hoá ta lùi trước văn hoá Tây Âu là việc không có gì đáng ngạc nhiên.

Để hiểu rõ hơn hai đợt Cơ và Ý tôi xin mượn cái khung của một thuyết huyền bí truyền được Thông Thiên học quảng bá. Thuyết đó chia cuộc tiến hoá con người làm 7 nấc tiến hoá chính, mỗi nấc được đại diện do một giống dân chính. Vì thế 7 nấc chính cũng có 7 giống dân chánh. Trong mỗi giống dân chánh lại chia ra 7 giống dân phụ.
Giống dân chánh thứ III là dân da Đen
Giống dân chánh thứ IV là dân da Vàng
Giống dân chánh thứ V là dân da Trắng
Da Trắng hiện nay mới tới giống dân phụ thứ 5 như: Anh, Đức, Nga, Mỹ… Còn Pháp, ý, Tây Ban Nha thuộc dân phụ thứ 4. Dân da Vàng trái lại đã đạt đợt dân phụ thứ 7, như Mông cổ, Tàu, Nhật, Việt… ở đây tôi không bình luận về thuyết trên đúng hay sai mà chỉ mượn ý cái sườn đó để diễn tả cái quan niệm riêng của tôi về quá trình tiến hoá của con người mà tôi đã phác hoạ sơ sài trong quyển Việt Lý tố nguyên. Cuộc tiến hoá đó đi theo từng nhịp gồm hai bước Sinh và Tâm: Sinh đi trước Tâm đi sau. Và tôi gọi Sinh là ngành (tương đương với giống dân chính) còn Tâm là chi (tương với dân phụ) và tôi cho rằng về Sinh thì Tây Âu hơn ta một bậc: ta bốn (IV) họ năm (V) nhưng về Tâm thì họ mới đạt chi 4 và 5 còn ta đạt chi 7. áp dụng vào trường hợp Triết mà nói thì sự tiến bộ của ngành biểu lộ bằng ý (tư tưởng Tây hơn ta) còn chi biểu lộ bằng cơ: (ta hơn Tây). Nhờ lối phân tích này ta có thể đánh giá khá đúng những chỗ hơn chỗ kém của mình hầu bổ cứu nền Quốc học chúng ta.

Vậy về Sinh (ý) Tây Phương hơn hẳn ta một ngành vì thế triết học của họ rất phong phú, có lý giải cách hệ thống. Họ có những nhà tư tưởng lớn, những ý hệ gia vĩ đại vượt xa Đông Phương, đến nỗi đem so sánh thì ta kể là không có Triết học. Và đó là chỗ ta còn thiếu nền cần phải bù đắp. Tuy nhiên đứng về tâm linh thì hầu như Tây Âu chưa đạt: họ có linh thiêng tức rất cao, nhưng chưa gần gũi đi sâu vào tâm hồn để có thể được gọi là Tâm linh. nhưng có thể ngày kia họ bước lên chi 6,7 và họ sẽ có Tâm linh. Lúc ấy nhân loại sẽ có một nền Triết tương xứng với khoa học. Đó là điều còn thuộc tương lai. Biết rằng hiện nay Khoa học đã đạt đợt Khí (vi trần) Tâm lý đạt Tiềm thức thế mà Triết chưa thoát vượt đợt ý là những cái gì cứng đọng nên Triết chưa đạt thân. Và bởi vậy ta phải bám sát cái Cơ của ta, vì nó đã đạt đợt Khí (âm dương nhị khí) nên biến chuyển linh động, mà không còn đặc sệt như ý niệm. Tuy về ý Triết Việt kém nhưng ta vẫn phải theo cái cơ của nó, bởi vì không phải cái ý qui định nội dung cho những câu nói những ý nghĩ và nhất là đem lại cho chúng hiệu năng vượt mức. Dấu hiệu của một nền Triết đạt Cơ là có mối quán thống chạy xuyên qua “Dụng” tức thể chế, lối sống. Nói khác là bất cứ việc gì, cử chỉ nào cũng có thể giải nghĩa từ đợt Cơ, tức cũng hội thông với toàn thể, là điều bơm sinh động vào cho cái học. Dấu hiệu thứ hai là sự đơn sơ giản dị, các khoa học nhân văn càng ngày thu gọn vào càng ít. Vì đạt Cơ là đạt chỗ hội thông với toàn thể, vì khi có thể nắm vững được cái gốc thì lúc toả ra ngành ngọn có thể bao khắp. Các đại học nhân văn học trên thế giới hiện nay cũng bắt chước khoa học đua nhau lập nhiều ngành chuyên biệt là dấu chứng tỏ chưa nắm được Cơ, nên càng cố tiến thì càng thêm bề bộn, càng làm cho cái học trở nên chán ngấy giúp đắc lực vào việc dập tắt tinh thần và đẩy mạnh đà phân hoá.

Vì những lý do trọng đại như trên nên phải bám riết lấy Cơ trong khi xây đắp Triết lý cho Việt Nam. Trong việc xây đắp này tất nhiên là phải học với Tây Phương về phương diện ý, nhưng nếu ta muốn trỗi dậy giành lại quyền sống cho nền văn hoá nước nhà thì nhất định phải xây đắp một nền Triết mới gồm cả Ý lẫn Cơ tức vừa lý giải mạch lạc như Triết Tây, vừa có những cái nhìn trực chỉ như Triết Đông.

Một nền Triết như vậy phải có tính chất cách mạng và hoàn toàn mới. Là vì tuy cái Cơ là của Việt Nam nhưng chúng ta đã mất ý thức về nó, nên đã để cho Hán Nho ngự trị trước, rồi đến ý hệ ngoại lai sau này kế vị. Vì thế nay đưa Triết Việt ra trình bày thì quả là một cái gì hoàn toàn mới lạ. Trước hết là đối với các tư trào đang ngự trị trên giải đất này. Bởi chúng là sản phẩm của Tây nên cũng mang nặng tính chất Tây: là tuy có lý giải rành mạch, hệ thống đàng hoàng nhưng vấn đề người học nguội lạnh nên chỉ là thuyết với lý nên không huy động nổi linh và tâm. Còn đối với Triết Đông nền Triết Việt cũng sẽ cách mạng ở hai điểm một là lối lý giải biện chứng cùng nhiều yếu tố mới được thâu hoá, hai là nhận thức ra Cơ, mà không còn cảm lờ mờ như trước. Sự nhận thức gây rất nhiều âm vang vào cả toàn bộ khiến cho nền triết lý đó vừa có nét nhất quán khác thường lại vừa hiệu nghiệm hơn xa, và do đấy tuy ở lúc sơ kiến nhiều người Việt coi như các chi xa lạ, nhưng khi đã vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu sẽ thấy nó rất gần gũi với tâm hồn Việt Nam, tâm hồn Á Đông và có lẽ là với tâm hồn con người nói chung không phân biệt Đông Tây chi hết. Một nền Triết như thế chưa biết đã hiện thực được, nhưng đó phải là lý tưởng cần đặt ra để hướng tới, để thôi thúc việc làm của chúng ta.

Bây giờ bàn đến điểm hai là triệt hạ.
Triệt hạ hơn hết gọi là “ở đời”. Tiếng ở đời mới xuất hiện bên triết Tây với Heidegger trong thành ngữ “in der welt Sein” = Être au monde. Đây là một thành ngữ rất dễ gây hiểu lầm vì chữ “in” không có nghĩa là kiểu vật thể như kẹo ở trong hộp, nhưng là một lối ở thẩm thấu mà ta có thể dịch là “ở đời”, miễn là phải hiểu chữ ở là để phần tinh anh vào nơi nào mãi mãi, còn đời là phải hiểu là vũ trụ tức là cả thiên lẫn địa cả âm lẫn dương, hiểu như vậy chữ ở đời mới có một ý nghĩa cao rộng đủ để bao hàm sự tuyền vẹn con người. Vì thế đó là nét đặc trưng của nền Triết lý Nho Việt nên chỉ với nó mới có thể nói “ở đời” còn hai nền triết Âu và Ấn thì không. Về Triết Âu thì ta biết nó là nơi ngự trị của nhị nguyên thuyết, tức là thứ triết thuyết chẻ đôi thế giới ra hai: bên kia là lý giới bên này là trần giới, rồi bắt con người hướng tất cả bầu tinh anh nghị lực vào lý giới mà bỏ bê trần giới. Đó không là ở đời mà là ở trời. Vi thế Platon ông tổ của triết thuyết nhị nguyên cho rằng cùng đích triết là nhìn ngắm những ý niệm (contemplation des idées). Cũng dòng Triết này khi truyền thống Ấn Độ thì đi xa hơn bằng cõi trần thế là ảo mộng nghĩa là còn tệ hơn Triết của Platon vì Platon mới coi sự vật đời này là bóng là hình, đến Triết Ấn thì chỉ còn là “ảo hoá đã bày ra đó” để đánh lừa con người và vì thế con người phải tìm cách vượt ra khỏi trần giới. Vậy cũng không phải ở đời mà là trốn đời “Con người dồn trọn vẹn ý chí vào việc tìm giải thoát ra khỏi đời và do đó không còn để dành chi cho thế giới bên này. Đó là lý do giải nghĩa tại sao Ấn Độ đầy những nền Triết học nguy nga đồ sộ mà lại để cho xã hội nằm chình ình trong bất công, trong nô lệ. Là vì có ở đời đâu mà tác động vào đời. Cũng vì thế mà khi muốn dùng danh từ cho thật chính xác thì không nên áp dụng chữ tâm linh cho các thuyết Tây Âu, vì thực ra mới chỉ có duy linh, hay thiêng liêng là những yếu tố nằm trong cơ cấu không ở đời tức là tìm cao cả bên ngoài và thế giới. Bên ngoài thế giới thì có thể là thiên hay địa, những nét cốt cán là ở xa người và duy có một chiều kích. Hai nét đó đi đôi, vì chữ đời theo nghĩa uyên nguyên là ở trong vũ trụ là sự giao thoa của trời cùng đất, cho nên chỉ ở đời thực mới có lưỡng nghi tính mà Heidegger gọi là nét gấp đôi, còn khi không ở đời thì gọi là đánh mất nét gấp đôi. Đó là những con người chỉ còn một chiều kích giống như Herbert Marcuse tố cáo: “one dimensional man” và do đó Heidegger mới đưa ra thuyết ở đời là cốt để chống lại các triết học đi trước ít hay nhiều đã ra khỏi đời này, ra khỏi thân tâm, ra khỏi cả gia đình, quốc gia để tìm cái cao cả, cái siêu việt bên ngoài con người, bên ngoài xã hội, và do đó không cải tạo nổi xã hội, không cải tạo nổi thân tâm nên gọi được là vong thân. Đấy là lý do khiến những người như Heidegger phản đối và đưa ra thuyết Sein und Zeit: Tính thể và thời gian tức Tính thể ngay trong thời gian. Đó là điều hợp với cái mà tôi quen gọi là phi thường (sein) nằm ngay trong cái thường thường (đời: temporel) Muốn hiểu rõ điều này chúng ta hãy trở về phân tách cái cơ cấu của Lạc Thư vì nó nói lên cái nghĩa ở đời nếu không hay nhất thì ít ra hợp với tâm trí người Việt chúng ta hơn nhất.
Trước hết là đối với tinh thần Lạc Thư thì không có vấn đề triết cho triết mà chỉ còn có vấn đề ở đời cách triết, tức là không có vấn đề riêng đặt ra cho triết, nhưng triết chính là bàn về mọi vấn đề con người cách triệt để, nghĩa là thấu đến cơ mà cơ là thần, mà đã là thần thì “vô phương” không cần nơi riêng để ở, thì cũng không cần đặt ra vấn đề riêng biệt cho triết, vì nó đã thấm vào mọi lối sống, nói khác nó thấu vào dụng. Mà nếu thấu dụng thì cũng thấu từ, ý khỏi cần có vấn đề riêng cho nó, vì nếu phải có vấn đề riêng, phải có ý hệ riêng thì là dừng lại giữa đường chưa có đạt cơ vậy. Vì đạt cơ là phải đem được triết vào đời. Đời với triết hoà hợp. Đó là điều triết Việt đã làm được và nó biểu thị như sau. Trong Lạc Thư thập tự nhai đặt giữa,còn vòng chu vi làm bằng cả số sinh lẫn số thành. Nếu số sinh chỉ thời gian (biến dịch) thì số thành chỉ không gian (trải dài ra và im lìm) và biểu thị muôn vật đã hiện hình: tất cả các vật đã hiện hình đó đều hiện diện trực tiếp với cơ. Cơ biểu thị bằng thập tự nhai chiến thắng vào các số chu vi mà không đi qua trung gian nào. Điều đó nói lên mối liên hệ cơ thể giữa vạn vật: vạn vật nào cũng có Cơ như nhau: “các hữu thái cực” Thái cực hay Cơ là một vậy.

Trong phạm vi văn hoá nó biểu lộ ra trong nhất quán tính chạy xuyên qua Dụng, Từ đến Cơ không một cái gì nằm bên ngoài. Nhờ đó Cơ không còn là cái gì riêng nhưng biến hình theo sự vật, thế mà văn có biến mới hoá nghĩa là mới có sinh lực huy động tâm hồn. Vậy chỉ khi nào một nền triết đã trút bỏ được các chữ chuyên môn với những vấn đề riêng biệt của sách vở nhưng khơi dậy nổi những luồng cảm hứng hăng say thì từ lúc ấy mới kể là đạt Cơ mà đã đạt Cơ tức cũng là đạt Dụng đạt Từ và Ý . Đạt Cơ là đạt được nền triết tương xứng với đà tiến của khoa học hiện đại. Và lúc ấy khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đời sống con người vẫn không bị quay trong lốc vì đã có triết đánh lên cái tiết điệu uyên nguyên làm nhịp tiến bước cho đời sống. Đấy là chỗ phải chú ý hơn hết trong quốc học mai ngày. Làm được việc đó thì Việt Nam đã chu toàn được sứ mạng của mình, một sứ mạng có âm vang trên toàn cõi trái đất vậy.

Trích Kim Định- chương 2 sách Vấn đề Quốc học

Phụ chú
Tại sao triết bị khinh
Mấy bài trên đều đề cao vai trò của triết trong quốc học thế mà tại sao triết lại bị khinh. Đó là vấn đề cần một lần phanh phui. Chúng tôi cho là nói đã tạm đủ nên ở đây xin nhường lời cho Nietzsche mà chúng tôi lược dịch vào trang trong quyển Schopenhauer educateur (edit.Aubier) ước mong quyển này chóng được dịch ra tiếng Việt. Trong khi chờ đợi sau đây là một hai tư tưởng rất cần được độc giả suy nghĩ để nhận ra đường hướng thiết yếu cho nền quốc học nước nhà. Nietzsche nhận định về nền giáo dục Tây Âu hiện đạt chỉ có thể đào tạo nên : những khoa học gia.
những công chức
hay thương gia.

hoặc một thứ người lai cả ba môn đó mà không thể nào đào tạo nên được triết gia (tr 125). Một người đầu óc khoa học khó có thể trở nên triết gia: ngay Kant mặc dầu có thiên tài cũng chỉ là con rộng triết: Un savant ne deviendra jamais un philosophe. Kant lui même n’a puy parvenir, mais il est reste jusqu’ à sa fin et malgre l’inpulsion de son genie a l’état de chrysalide. id. 139. Ai bảo rằng tôi nói thế là bất công với Kant thì người đó không hiểu rằng một triết gia không những là một nhà đại tư tưởng gia nhưng còn phải là một nhà đại nhân. Thế mà chưa bao giờ thấy một nhà thông thái (savant) đã thực sự trở nên một đại nhân”.

Không còn gì bóp nghẹt sự sinh ra những triết gia cho bằng sự hiện diện của triết gia xấu, họ nhờ ơn chính quyền để làm triết gia chứ không là triết gia. Triết gia bao giờ cũng thiết thực. Tôi cho rằng mỗi một lời mà đàng sau người ta không cảm thấy có sự mời gọi thì điều đã viết ra vô ích: “Je tiens que chaque mot sous lequel on ne sent pas cette invitation à l’action a été écrit en vain. 145 ”. Chính quyền ghét triết nên đã cấp dưỡng cho những người dạy sử triết để đánh lừa dư luận là đã có triết. Tội nghiệp cho các sinh viên phải chịu tử vì triết ( à quel martyr les étudiants doivent se soumettre lors de leur examens de philo pour faire entrer dans leur pauvres cervelles les idées les plus folles et les plus sauvages.? 151 id. ) Vì người ta lèn vào đầu óc chúng muôn vàn ý tưởng kỳ khôi khúc mắc… chúng chỉ được dậy cho cách xét đoán bằng dùng từ ngữ phê bình từ ngữ mà không lấy đời sống làm tiêu chuẩn. Khi một đầu óc non nớt chưa mấy hiểu đời mà người ta không dậy cho em biết đời, biết sống theo những nguyên lý nào, nhưng nhét vào đầu em năm mươi hệ thống rút gọn thành 50 công thức, kèm theo 50 bài phê phán các hệ thống đó. Thực là tháo thứ , thực là mường rợ , thực là mỉa mai biết mấy cho một nền giáo dục của triết lý ( 153 ) . Vi đó mà triết hàn lâm đã trở nên đồ bỏ: bị mọi người khinh chê nghi ngờ. “La philosophie univesitaire est un objet de mépris et de scepticisme general ”. Còn đâu nữa là những triết gia chân thực có sức lay động cả một nước, đốt cháy cả một châu? Ước mong chi bên ngoài đại học mọc lên được một toà thượng thẩm để kiểm điểm phẩm chất văn hoá được ban phát trong Đại học. Une instance supérieure qui controle et qui juge ces institutions elles mêmes quant au genre de culture qu’on y pratique. ( 165 ). Có thế triết mới hi vọng làm tròn sứ mạng của mình là trở thành nguồn mạch tràn lên hùng cường, vui sống, yêu thương. ( La source d’héroisme qui jaillit d’elle. )
Các cái đang dậy trong các học đường đã cũ rích. Văn hoá chỉ nhích lên một bước nữa là chúng bị lật đổ tan hoang.
Phẩm giá của triết đã bị giày đạp đều đã trở nên trò chế riễu vô bổ, vì thế tất cả những người chân thành có nghĩa vụ phản đối về sự lẫn lộn kia (lẫn triết học với triết lý). Muốn cho quốc học Việt Nam không là một sọt rác thì người Việt Nam phải đi con đường phản kháng và kiểm soát như đề nghị trên. Sự thịnh suy của nước nhà trong giai đoạn này nằm ở chỗ mọi người bất ngời ( ? ) đó.