KÝ ỨC VỀ NGÔI TRƯỜNG PHAN THANH GIẢN

Phan Thanh Giản, trường xưa đấy phải không?!

Mà sao tôi canh cánh bên lòng

Ngôi trường yêu quý sao mà đẹp!

Nhớ mãi trong tôi, lúc chạnh lòng …

Đây đường Quang Trung dẫn lối vào

Hai hàng cây, lá cứ xôn xao

Và chụm vào nhau dường âu yếm

Xa nghe, chừng như tiếng thì thào …

 

Con đường Lê Lợi đã bao năm

Hiu hắt đêm đêm ánh đèn vàng

Càng thêm huyền ảo đêm mùa hạ

Khuya khoắt ai về nhịp bước chân

 

Nhớ những chiều xưa buổi tan trường

Áo trắng bay bay ngập phố phường

Áo bay lùa tóc mây theo gió

Để lại lòng ai những vấn vương…

 

Còn đâu tiếng thầy dạy Việt văn?!

Sang sảng ngâm thơ Lục Vân Tiên

Hay ra tình mới là nghĩa nặng

Vẫn quý hơn ngàn vạn kim tiền!

 

Xếp sách tôi đi vạn nẽo đời

Mà tình bằng hữu cứ đầy, vơi

Nhớ ngôi trường cũ, thầy cô cũ

Luống mãi trong tôi những ngậm ngùi . . .

 

-Thu Phong-

 

Nguồn: Đăng lại với sự đồng thuận của tác giả Thu Phong.

http://www.ptgdn.com/poems/thuphong/kyucvengoitruongPTG.htm

Bài nầy xuất xứ từ đóng góp của tác giả cho trang mạng của Hội Ái Giáo Sư và Cựu Học Sinh Trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng http://www.ptgdn.com/index.html

 

 

Người giảng viên từ chối làm trưởng khoa

Bài của tiến sỹ Chu Mộng Long-trường đại học sư phạm Quy Nhơn-tỉnh Bình Định

Nếu muốn làm quan, tôi đã có hơn 30 năm tuổi Đảng, thêm chút xu nịnh và chạy chọt nữa, tôi đã có thể đã ngồi trên ghế thật cao. Nhưng từ khi còn trẻ và cho đến bây giờ, càng sống và càng học nhiều, tôi càng khinh bỉ quyền lực. Nhiều lần tôi đã tuyên bố không tranh chấp làm quan với ai, nhưng cứ mỗi lần bầu bán là người ta săm soi vào tôi và cố tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống cho bằng được.

May mà đời tôi quang minh chính đại, chẳng có gì để moi móc ngoài hành vi đê tiện là nhặt rác bẩn ném bừa bãi vào tôi. Mà toàn chơi lén lút một cách đê tiện chứ không dám ra mặt công khai.

Năm năm trước, khi bỏ phiếu giới thiệu và tín nhiệm Trưởng khoa, giữa Hội trường, tôi tuyên bố rút thẳng thừng, tưởng thế là an thân. Nhưng rồi sau đó có người giới thiệu tôi làm Phó khoa và bỏ phiếu cho tôi đạt đa số. Với kết quả đó, tôi không vui và cũng tuyên bố dứt khoát không làm rồi về thẳng. Nhưng hình như những người chống tôi không an tâm. Nửa đêm hôm đó, chúng cho một thằng giảng viên côn đồ say rượu nửa đêm phá cổng chui vào nhà tôi gây sự, chửi bới, mạ lỵ để tôi phản kháng và nhân cơ hội đó lu loa tôi đánh người để không được bổ nhiệm chính thức.

Năm nay lại chuẩn bị bổ nhiệm Trưởng khoa. Tôi không quan tâm và hững hờ chuyện đó để lo chuyện khác, mặc dù một số anh em tích cực động viên tôi làm. Tưởng thế là yên thân. Không ngờ nay mới biết suốt kỳ hè rồi, chúng lu loa khắp nơi về tôi với luận điệu vu khống, xuyên tạc, chụp mũ về chính trị, tư tưởng. Bắt đầu từ vụ Lý Hiển Long. Bài viết của tôi nói rõ, tôi không hề ủng hộ Lý Hiển Long khi nói quân đội Việt Nam xâm lược Campuchia, vì không lý do gì tôi là một cựu chiến binh mà chấp nhận chính mình mang bộ mặt xâm lược. Bài viết cũng nói rõ, điều Lý Hiển Long nói là một quán tính của nhận thức từ thời điểm Liên Hiệp quốc cấm vận Việt Nam, và vì thế, tôi kêu gọi mọi người hãy vì quan hệ ngoại giao hòa bình, không nên làm to chuyện, gây hấn, thù địch với Singapore và các nước xung quanh. Điều này hoàn toàn đúng tinh thần của Bộ Ngoại giao khi người phát ngôn nhẹ nhàng “lấy làm tiếc” về phát ngôn của Lý Hiển Long.

Một số kẻ còn bịa chuyện tôi bị an ninh trát giấy về trường để trừng phạt. Tôi hỏi thẳng Hiệu trưởng xem có hay không chuyện đó để ba mặt một lời cho rõ ràng, tại sao hôm cafe với tôi không cho tôi biết? Hiệu trưởng nói tuyệt đối không có. Ông nói chỉ nghe dư luận ồn ào, sau khi trò chuyện với tôi mới bảo Trưởng khoa đương nhiệm nhắc tôi nên im lặng trước các vấn đề nhạy cảm, tốt nhất là không để kẻ xấu lợi dụng đục nước thả câu. Không ngờ chúng đục nước thả câu thật!

Mà cũng lạ. Cái chức Trưởng Ban thanh tra nhân dân thì ép tôi làm đến 5 nhiệm kỳ mà không xảy ra chuyện gì. Đến khi có người giới thiệu tôi làm Trưởng khoa thì sinh ra đủ thứ chuyện. Sợ hãi tôi đến vậy chăng? Sợ cái gì? Sợ bị chấn chỉnh về chuyên môn, về nề nếp học đường, về ăn chặn, ăn cướp của sinh viên, học viên ư???

Ôi chán mới đời…

Nhưng cũng vui, vì mọi người có hài kịch để xem!

Nhắc lại, tôi đã quyết không làm quan trong cái thời buổi này. Đừng gây sự với tôi nữa. Ai muốn ôm bao nhiêu giờ dạy, muốn dạy cái gì thì cứ dạy, muốn bỏ giờ cứ bỏ, muốn ăn chặn, ăn cướp, hiếp dâm sinh viên, học viên thì cứ tự do. Tôi chỉ ghi chép lại và viết tiểu thuyết thôi. Yên tâm chưa?

Tôi là con người phi chính trị trong nghĩa không tham gia chính trị, đúng hơn là đứng trên tầm chính trị vì tôi hiểu rõ chính trị là gì. Tôi chỉ lên tiếng những gì có lợi cho dân cho nước. Các phe phái chính trị đánh nhau thì tôi viết kịch hài cho công chúng xem để giảm căng thẳng. Ai ham vui thì vào xem miễn phí. Khỏi mất công theo dõi, soi mói, chụp mũ, vu khống một cách lén lút, đê tiện!

Chu Mộng Long

Sau năm 75, tui đi dạy học

Sau 1975, tui được học thêm mấy tháng chính trị triết học Mác Lênin và một vài kiến thức lổ mổ về văn học của chế độ mới rồi chờ phân công đi dạy học. Lúc đó chắc là miền Nam thiếu thầy cô giáo lắm, lũ con nuôi chúng tôi được đưa đi khắp nơi từ miền Đông cho đến miền Tây, có cả các tỉnh miền Trung nữa. Tiêu chí phân công công tác cũng không dựa vào khả năng kiến thức chuyên môn mà chủ yếu dựa vào lý lịch và biết đường chạy chọt. Có hai đối tượng không có tên trong danh sách phân phối nhiệm sở là gia đình đang có người đi học tập cải tạo và trường hợp cá nhân, gia đình đang có vấn đề.
Tui bị dính trường hợp thứ hai mà lại là dính oan. Ngày kết thúc khoá học có một biên bản hồ sơ gần chục trang với 16 chữ ký tố cáo tui. Những người ký tên cũng đều là bạn bè cả, thế mới đau. Giờ họ vẫn còn sờ sờ ra đấy nhưng chằng có ai làm nên trò trống gì. Họ tố tui gia đình nguỵ quyền có cha và anh ruột làm công chức cấp cao của chế độ cũ mà trốn đi học tập. Họ tố tui có những tư tưởng không phù hợp với chế độ nên thường phát biểu lung tung trong những cuộc thảo luận tổ. Họ tố tui viết những câu văn, câu thơ phản động trên tường trong phòng vệ sinh của Đại học Vạn Hạnh, lại được viết bằng tay trái. Vốn ngày trước, hồi còn là sinh viên ở đó trước 1975, tui được viện đại học giao cho việc viết thông báo, vẽ bích chương, biểu ngữ phục vụ cho các lễ lạt của trường, công việc này giúp tui có thêm học bổng 8.000 đồng một tháng để chi tiêu. Họ tố tui trước 1975 có triển lãm tranh ở Hội Việt Mỹ Sài Gòn và tờ báo Thế giới Tự do của Usaid Mỹ sử dụng tranh tui làm bìa cho một số báo. Và nặng nhất là họ tố cáo tui quan hệ nam nữ bất chính. Chuyện là hồi ấy tui và một cô bạn cùng lớp yêu nhau. Trai chưa vợ, gái chưa chồng có chi là bất chính, thế mà họ cũng tưởng tượng ra chuyện là trong chuyến đi lao động ở nông trường Lê Minh Xuân, tụi tui làm chuyện bậy bạ với nhau, ghê vậy đấy. Nói thiệt là hồi đó tụi tui chỉ mới cầm tay nhau thôi đã là sự kiện rồi, làm chi có chuyện tày trời đó. Tóm lại là họ ghép cho tui lắm tội, mà toàn tội tào lao. Người cộng sản kết tội đã sợ, đám Việt cộng mới ló mặt sau 30.4 lại càng ghê gớm và khát máu hơn vì họ muốn thể hiện quyền lực và tâng công. Cho đó là thi hành chuyên chính vô sản.
Và kết cuộc là tui bị từ chối không phân công công tác. Lúc đó tui đang đói lắm, chẳng có một nguồn cung cấp nào để sống nên khi biết không được cho phép đi dạy học, tui hoang mang lắm. Cô bạn tui cũng bị oan, cũng chẳng có tên. Tội cho cô ấy. Về quê thì không dám về, gia đình lúc ấy cũng đang lâm vào cảnh quẫn bách giống như những người dân miền Nam đang chịu đựng, về rồi trở thành gánh nặng nữa sao. Tui sống phất phơ, đói vàng cả mắt. Thời may, hồi ở Đại học Sư phạm tui có thành lập một đội kịch, cũng diễn được một vở kịch khá là quy mô với kịch bản: Cái chết của người chào hàng, của kịch tác gia nổi tiếng người Mỹ Arthur Miller, và một số vở kịch phong trào. Trong đội kịch lại có một cô bạn có mối quan hệ rất tốt với ông hiệu phó, cô ấy can thiệp, nói giúp tui và tui được đưa về Bạc Liêu. Hồi ấy xe cộ khó khăn lắm, muốn về Bạc Liêu phải đi từ 5:00 sáng chạy đến tối mịt mới đến nơi. Suốt đường đi chi chít những trạm của du kích khăn rằn, soát hành lý, hoạnh hoẹ đủ điều. Tui mất gần mấy tháng trình diện ở Sở Giáo dục, nhưng rồi chẳng ai nói với tui một tiếng. Tui lên xuống nhiều lần, tốn biết bao thời gian và tiền bạc, nhưng chẳng nhận được ý kiến gì về trường hợp của tui. Cuối cùng, một hôm tui được kêu vào phòng tổ chức, trưởng phòng là một bà nói giọng Nghệ An, bảo với tui rằng, bằng cấp chuyên môn của anh thì quá tốt, kết quả đều có hạng, nhưng mà hồ sơ lý lịch và nhận xét của tổ chức như thế này thì chúng tôi không làm sao nhận được. Đây hồ sơ đây, anh xem đi để hiểu cho chúng tôi. Đến lúc đó tui mới biết có biên bản gần chục trang và 16 chữ ký. Chán nản và thất vọng, tui trở về thành phố trên chuyến xe đêm. Mấy chục năm sau tui mới biết thêm rằng, sở Giáo dục Bạc Liêu nhìn thấy thành tích học tập trên bằng cấp của tui, lấy làm tiếc nên do dự mãi, cuối cùng mới gọi một giáo viên đang công tác ở đấy, anh này cùng khoá với tui lại học bổ túc chính trị cùng lượt với tui, hiện đang là một đoàn viên tích cực phấn đấu vào đảng. Khi được hỏi về tui, anh ta bảo tui chuyên môn, kiến thức rất giỏi, lắm bằng cấp nhưng tư tưởng không tốt. Thế là chết mẹ tui rồi! Nghe vậy, người ta quyết định từ chối tui ngay, cũng phải thôi. Gần đây lại có người kể thêm hồi ấy ở Sở Giáo dục Bạc Liêu khó chịu vì tui mặc áo kaki vàng của quân đội VNCH và xài hộp quẹt Zippo, tàn dư của đế quốc Mỹ he..he để ý dữ! May là lúc đó tui đã hớt tóc cao và cạo râu nhẵn nhụi, không thì bị đuổi khi vào đến cửa.
Tui lại khiếu nại với phòng tổ chức, và rồi người ta ký quyết định phân công tui về Sở Giáo dục thành phố. Mừng húm. Âu cũng là một kết thúc có hậu, đi loanh quanh lại về được thành phố là quá tốt rồi. Tui trình diện với Sở và nhận được tờ quyết định phân về Trường cấp 3 Phú Hoà. Tui cầm tờ giấy, phân vân mãi không biết trường Phú Hoà này nằm ở đâu? Tui nghĩ Phú Hoà chắc đâu vùng Phú Thọ, cũng hơi xa nhưng cũng là quá được. Phú Hoà, Phú Thọ chắc hẳn là lân cận nhau. Tui ra sân ngồi trên ghế đá hút thuốc, có người đến ngồi cạnh tui xin chút lửa. Tui buột miệng hỏi: Anh cũng đi dạy à? Anh ta trả lời: Ừ. Lưu dung, dạy ở Hóc Môn. Tui hỏi anh có biết trường Phú Hoà ở đâu không? Anh bảo: Biết, nó ở Củ Chi, ngay ngã tư Paris Tân Quy. Chết mẹ! Ai ngờ nó chạy tuốt trên ấy. Củ chi đối với tui nghe lạ hoắc. Củ chi đất thép thành đồng, thế là tui bị đi đày rồi, chắc cũng từ cái biên bản 16 chữ ký ấy, nó vẫn còn đeo đẳng đời tui cho đến bao giờ?
Theo hướng dẫn, từ nhà tui đi xe lam đến Bảy Hiền, ở đó sẽ có xe đò đi Hóc Môn. Đến chợ Hóc Môn, tui đi xe ngựa hay đi bộ đến bến xe lam. Xe lam sẽ chở tui đến cầu Xáng. Qua cầu Xáng, tui phải làm một chuyến xe lam nữa thì mới đến được ngã tư Paris Tân Quy, nơi đó có trường Cấp ba Phú Hoà. Năm 1963, tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, nửa quận Củ Chi vẫn giữ tên cũ, thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, nửa còn lại gọi là quận Phú Hoà, vẫn thuộc tỉnh Bình Dương. Do vậy, trường vẫn thuộc tỉnh Bình Dương. Sau 75 lại thuộc Củ Chi. Hồi đó Củ Chí sau chiến tranh hoang tàn lắm, cây cỏ khô cháy, lá vàng hoe, nhà cửa thưa thớt. Đi từ cầu Xáng về, hai bên là những đồng lúa èo uột, khô cháy. Nhìn ngôi trường, tui hỡi ôi! Từ nhỏ cho đến phút ấy, tui toàn học trong những ngôi trường lớn, xây cất công phu. Lúc bé thì học chủng viện, trung học học trường Kỹ thuật Đà Nẵng, ngôi trường đẹp nhất Đông Nam Á lúc đấy do Mỹ viện trợ. Lớn lên học Đại học cũng là trường lớn, đi học nước ngoài thì trường học như một chuỗi lâu đài. Giờ đây, tui đứng trước một ngôi trường xác xơ, héo úa, rộng mênh mông như sa mạc, lưa thưa mấy cây bã đậu thân đầy gai xù xì. Cổng trường được dựng bằng hai cọc thép xây bê ton, trên là tấm tôn hơi biến dạng vì thời gian và gió thổi, những dòng chữ mờ đã tróc sơn ghi tên trường. Trường có đâu khoảng sáu phòng học và hai phòng làm văn phòng. Phòng xập xệ, bàn ghế liêu xiêu, bảng thì chỗ xanh chỗ đen, sàn xi măng lổ chổ, tường lắm vết nứt kéo dài. Tui nản thật sự. Chán chường vì sao mình lại bị đày đến nơi hoang vu, nghèo khổ như thế này?
Văn phòng cửa mở, trời đã về chiều, nắng vàng vọt len lỏi vào căn phòng lộn xộn những bàn, những ghế, những thiết bị lung tung chẳng có trật tự nào. Tui gõ vào cánh cửa nham nhở lớp sơn đã tróc, nhìn vào trong. Một ông trung niên đen đúa đang kéo thuốc lào, khói nhả ra mù mịt. Ông ta mặc cái áo thun ba lỗ đã ngã màu cháo huyết, cái quần pyjama cũng đã xuống màu, tóc ông cắt dựng đứng lại rẽ ngôi giữa nhìn thật ngộ. Ông hất hàm hỏi tui: Đi đâu đây? Tui bảo: Được sở phân công về dạy học ở đây. Ông bảo: Thế à. Đưa giấy xem. Tui là H. hiệu trưởng trường này. Ông cầm tờ quyết định, nhìn tui rồi bảo: Tốt. Xem sắp xếp đồ đạc rồi ăn cơm tối. Tui oải thật là oải, trường xa, trường không ra hồn cái trường, ông hiệu trưởng thì nhìn còn tệ hơn anh nông dân, vốn là dân tập kết, không biết tui có nên tiếp tục ở đây không nữa?
Đến tối thì thầy cùng cô kê bàn lại làm giường, nằm chung trong văn phòng. Tuy chung chạ thế nhưng hồi ấy đầu óc ai cũng trong sáng, ai cũng giữ tư cách, phẩm hạnh của nền giáo dục cũ nên chẳng bao giờ xảy ra chuỵên đáng tiếc. Lúc đấy ở đây chưa có điện, đêm thắp đèn dầu tù mù, mọi người nói chuyện râm ran một lát rồi im. Sáng ra mũi ai cũng đen thui muội đèn. Tui nằm nghe ểnh ương, cóc nhái kêu oàm oạp, những âm thanh lần đầu tiên trong đời được nghe. Khuya, tiếng gió, tiếng lá cây xào xạc khiến tui không ngủ được. Tui tự nhủ với lòng mình: tạm thời ở đây thời gian ngắn rổi tìm lối thoát khác, chứ kiểu này làm sao chịu nổi. Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, ăn toàn bo bo, loại dành cho súc vật, cơm hẩm, cá thiu, lúc nào cũng thèm ngọt, thèm thịt, thèm béo. Thèm đủ thứ. Tui dạy suốt tuần, 36 tiết một tuần, đều đều ngày 6 đến 8 tiết, đủ cấp lớp nhưng giọng vẫn sang sảng đền độ ai cũng bảo tui giảng bài là cả trường nghe hê…hê.
Thế mà tui đã trụ được ở đó 5 năm. Cuối năm 1980 mới đổi về nội thành. Năm năm biết bao kỷ niệm, niềm vui và cũng lắm nỗi buồn ở đó. Trong đời tui, mãi sẽ chẳng bao giờ quên một quãng đời ở ngôi trường này.
6.3.2019

Đỗ Duy Ngọc

Sự hình thành nền quốc học xuyên qua các đời

Một số những đức tính dân tộc được ghi lại trong chương trên đã phát xuất từ một cơ cấu tinh thần có từ xa xưa. Tuy nhiên vì không gặp môi trường thuận lợi nên nó đã thích ứng với những điều kiện từ ngoài mà thay hình biến dạng nên khó nhận ra. ở đây chúng ta đứng về phương diện triệt để đặt một cái nhìn bao quát trên nền văn hoá nước nhà bằng phác hoạ một hai nét chính khả dĩ có thể làm sườn cho một trong những lối viết quốc học sử chưa ai hiện thực bởi vì cái sườn này đứng về khía cạnh của triết lý nhân sinh chứ không còn là văn học suông nữa. Theo đó ta có thể chia văn hoá sử thành bốn giai đoạn như sau.

Thời kỳ manh nha: Giai đoạn 1 .

Một nền triết đáng gọi là nhân sinh phải gồm cả ý, tình lẫn chí. Chí biểu hiện ra bằng công việc.
Tình qua nghệ thuật như văn thơ, truyện , tuồng , kịch…

Qua tư tưởng và chủ thuyết. Nhìn chung lại thì ta nhận thấy văn hoá nước nhà đã thành tựu ở chí và tình nhưng còn ý thì kể là thiếu. Chí bao hàm cơ cấu tâm linh là cái đem lại sự hiệu nghiệm sự bền bỉ lâu dài và có mạch lạc ngầm (mạch lạc hiện rõ chỉ ở ý) chính vì thế chí bao giờ cũng có tình đi kèm. Tình ví được như lửa hun nóng bầu năng lực đủ sức thúc đẩy để đưa đến tác động tức là đưa đến dụng. Vì thế tình và chí vẫn xoắn xuýt lấy nhau và cả hai yếu tố này đã xuất hiện từ xưa, ta có thể cho là tự đời huyền sử thuộc Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Phục Hy như đại diện cho chí tức cơ cấu uyên nguyên là cặp âm dương làm nên Kinh Dịch. Nữ Oa đại diện cho mối tình thâm sâu đến độ nối kết đất trời lại làm nên con số 5 .biểu thị bằng cái qui tức mối tình thiên nhiên là mối tình gắn liền với văn minh nông nghiệp. Nền văn minh này được đại diện bằng danh hiệu Thần Nông, nói lên tính chất nông nghiệp (thôn dân) của nó. Một nền văn hoá mà đàn bà đóng vai trò quan trọng, nên sau Nữ Oa chúng ta còn có Âu Cơ, Mỵ Nương, Mỵ Châu đại diện cho khía cạnh thiên nhiên (nông nghiệp) nên rất có lý mà đoán rằng chữ Mỵ chính ra là chữ Mễ (gạo nông nghiệp). Đó là đại khái mấy nét then chốt đã hiện lên ở thời sơ khai: vì sơ khai nên nói hoàn toàn bằng ngôn ngữ thần thoại là loại ngôn ngữ rất co dãn mập mờ dành riêng cho những cái gì âm u thấp thoáng. Đấy là lúc tương đương với thời bái vật, nhưng trong nền văn hoá Việt Nho có may mắn gặp được ngay tự thời này mấy vị hiền triết nên đã nhìn ra được cái cơ. Nhờ đó sẽ bước vào giai đoạn hai một cách đặc biệt.

Giai đoạn 2
Thường thì đây sẽ là giai đoạn ý hệ nhưng vì nhờ đã khám phá ra Cơ nên văn hoá giai đoạn hai không là ý hệ vì ý hệ là duy lý mà đây vẫn có yếu tố tấm linh (cơ) nên không có ý hệ ít ra cách trổi vượt. Mở đầu giai đoạn hai này là Hoàng Đế cầm đầu văn minh du mục của Hoa tộc tràn vào, khởi lên đợt hai với ý thức rõ rệt. Vi ý chỉ được phát triển cách đây đủ ở những văn minh du mục, công thương chuyên về chinh phục đo đếm với sự trội quyền của cha cũng như của võ bị. Với Hoàng Đế dẫn đầu du mục thì ý nổi mạnh và đưa văn hoá Viêm Việt lướt qua trên giai đoạn ý hệ. Sở dĩ lướt qua là vì yếu tố Viêm Việt quá mạnh nên giai đoạn hai không là ý hệ mà chỉ là bá đạo, pháp hình (dụng của ý hệ) đối với vương đạo lễ tri (dụng của tâm linh). Bá đạo cũng là sự thẳng lướt của lý trí nhưng chưa đến nỗi huỷ diệt được cơ, mà chỉ vận hành ở đợt chính trị (óc chuyên chế) còn sự thử đi vào độc chuyên lý trí, tức huỷ diệt các sách khác để bắt học các sách luật như Tần thuỷ Hoàng đã thử làm thì thất bại. Tuy vậy cuối cùng óc độc chuyên đó đã gây nên óc Hán Nho mà ta có thể coi là giai đoạn III.

Giai đoạn 3
Chính vì giai đoạn này đã đại diện cho Hán Nho và đã tràn lấn trên mảnh đất Việt, lẽ ra phải là nơi nương náu của Nho giáo nguyên thuỷ, thế nhưng cuối cùng Việt Nho cũng phải ép mình dưới phủ việt của Hán nho. Vì thời kỳ này kéo quá dài ở bên Tàu lẫn bên ta nên làm cho người Việt Nam quên béng đi các quyền của mình trên Nho Giáo. Có thể nói tinh thần Việt Nho đã lịm đi hẳn trong ngàn năm Bắc thuộc cho đến mấy đời độc lập nhất là đời Lê thì mới ú ớ nửa tỉnh nửa thức vì thế với nước ta đấy có thể coi là giai đoạn 4.

Giai đoạn 4
Một trong những nét đặc trưng của giai đoạn này là chống Tàu, và trong thời ấy có rất nhiều nét Việt Nho được chồi dậy… Như được ghi lại trong quyển Lĩnh Nam Trích Quái của Trần thế Pháp. Đó là một tuyển tập những câu chuyện ghi lại cuộc kháng văn hoá Tàu đã trải qua nhiều ngàn năm, nhưng vì là sự đối kháng của kẻ yếu nên phải nói bằng huyền thoại tức là lối văn âm u và quá hàm hồ đến nỗi ý thức dân tộc về phương diện văn hoá không đủ sức mạnh để nổi lên trên tâm thức, và vì thế không sao có được một triết gia, hay dù chỉ một tư tưởng gia nào, mà chỉ có những triết gia hụt, cũng như những tư tưởng gia hụt. Có lẽ Từ Thức đại diện cho những triết gia hụt đó. Từ Thức đã lên đến cõi tiên ở với tiên nhiều chục năm mà lúc trở về trần cấu to vo một mình đơn chiếc không có lấy được một mụn con đi kèm. Theo tiếng nói của Huyền sử thì đấy là một sự thành công nửa vời. Thành công về tình bởi Từ Thức đã lên tiên lấy vợ tiên tức là Tình đã thâm hậu lắm. Rồi chí cũng sâu vì đã đạt cơ biểu thị bằng Từ Thức đã đi qua hai điện Quỳnh Hư và Giao Quang, Quỳnh Hư là hào 4: “hoặc dược tại uyên” còn Giao Quang thì lẽ ra là hào 5 Hào năm là đợt cao nhất trong triết lý An. Vi được ghi lại trong quẻ Kiền bằng câu “Long phi tại thiên”… “thánh nhân tác dã”. Triết lý An vi gồm hai bước: một là lên cùng cực để rồi xuống cùng cực: nói khác có chí trung (lên cùng cực) mới đạt chí hoà (xuống cùng cực). Vì thế chí hoà sẽ là thước đo độ vào của chí trung. Chí trung là “long phi tại thiên thánh nhân tác dã” chí hoà là “đại nhân tạo dã’. “Thánh nhân tác dã” có thể coi như những cái nhìn thấu triệt được những nguyên lý nền tảng, còn “đại nhân tạo dã” có thể coi như những mối liên hệ cụ thể hiện thực vào tận những việc tầm thường. Khả năng bao quát được nhiều hay ít những việc tầm thường này là do cái nhìn thấu thị vào nguyên lý, thấu vào càng sâu thì toả ra càng rộng. Rộng mà cùng cực bao mà khắp hết thì gọi là Thái Hoà, cũng gọi là Hoà Thời hay Việt Thời gồm cả triệt thượng lẫn triệt hạ, cả 50 con theo mẹ lên núi (lên tiên) cũng như cả 50 con theo cha xuống biển (sâu hơn đất) Từ Thức đã lên đến cũng “Giao Quang” thì tất nhiên cũng phải có cuộc trở về triệt hạ. Ai chê Từ Thức dại bỏ cõi tiên về cõi trần đầy tham nhũng bất công là tỏ ra không hiểu triết An vì xó lên mà cũng có xuống, lên tới hào 5 thì lại liên lạc với hào 2 nên trách là tỏ ra ở lì lại hào 4 “dược tại uyên” rồi. Triết lý An Vi khác hơn triết học ý niệm hay vô vi ở chỗ dẫn tới việc dấn thân để biến cải xã hội. Vậy thì ta nên mừng vì Từ Thức trở lại trần gian. Từ Thức lên tiên có thể là chỉ văn học nhà Lý nặng về xuất thế. Từ Thức trở lại cõi trần là văn học nhà Lê nhập cuộc mạnh hơn. Ta chỉ cần hỏi cuộc trở về có đạt quan chăng. Và phải thưa rằng kể ra là thất bại hay nói cho thật xác đáng thì thành công được 2 phần 3 tức có tình và chí còn ý vẫn nằm gàn bát sách… Huyền sử ghi lại sự thất bại rằng sự việc con cháu không nhận ra Từ Thức nữa? nhận ra sao được vì Từ Thức đã đi trật đường văn hoá dân tộc rồi. Ông bảo ông lên tiên. Hay lắm, nhưng đâu nào là bằng chứng Tiên đẹp chứ xấu gì? Thế tại sao ở giữa bày tiên đến gần một thế kỷ mà không được mụn con nào thì một là ông mù , hai là sự khám phá tiên chưa đủ sâu đến hạ tầng cơ sở, thành ra trở về tay trắng. Nói theo triết vậy là chưa chí trung mà không chí trung thì khó lòng chí hoá. Và việc phải xảy đến đã đến: thấy con cháu không nhận ra mình Từ Thức bỏ làng sang Tây! Tây đây là Tây Trúc quê hương của vô vi xuất thế. Vậy có nghĩa là Từ Thức không đạt chí hoà. Nếu đạt thì ở ngay lại làng chứ còn phải đi đâu nữa? ở lại làng cũng gọi là “ở đời” có nghĩa là chu toàn sứ mạng của triết gia trong một giai đoạn nhất định. Sứ mạng đó có thể tóm vào ít nét đại cương như sau:

1. Lôi lên mặt ý thức nội dung nằm trong những câu nói bóng gió của ký ức tập thể (cũng thuộc tiềm thức cộng thông) về việc chống đối Tàu. Đấy là việc làm cần thiết để lay tỉnh quốc dân. Nếu việc ấy mà thành công thì sẽ đi đến chỗ đặt nổi lên phần đóng góp của Viêm Việt trong việc hình thành Nho giáo.
2. Sau đó thì đến việc gỡ Nho giáo ra khỏi bụi gai Hán học để làm hiện lên cái cơ cấu uyên ngyên của Việt Nho. Cuối cùng tháp vào đấy những suy luận những dữ kiện mới để thiết lập nên một nền triết lý vừa vững mạnh vừa ám hợp cho tâm trí dân tộc mình. Đó là ba việc mà Từ Thức đã không làm được. Trong thực chất có nghĩa là cả kẻ sĩ và về sau cả tri thức đã không thiết lập nổi một nền triết cho dân tộc. Cả hai đều lên tiên: kẻ sĩ thì tiên là thơ phú suông; tri thức thì tiên là ý hệ xa rời thực tế cắt đứt với hàng triệu thôn dân, vì thế đối với nền quốc học cũng một tuồng như Từ Thức: trở về tay không. Về điểm này trí thức có lẽ còn kém kẻ sĩ Hán Nho vì dẫu là Hán nhưng còn là Nho, nên còn có cơ cấu tức là còn có đạo sống tuy lờ mờ, nhưng đến tri thức thì đạo sống cũng mất luôn và thế là để cho nước đi đến chỗ phân hoá cùng cực. Bởi vì từ và ý có phát triển tùm lum nhưng thiếu dụng và cơ thì kể là thiếu trọn vẹn. Đấy là một thiếu sót mà thế hệ mới đã nhận ra và đã nói lên nhiều lần. Tuy nhiên lại muốn bù đắp chỗ thiếu sót bằng khuyên y nguyên triết Tây trám vào lỗ hổng. Cái hỏng hiện ra rõ rệt – Trước hết vì triết Tây thuộc loại triết cá mè một lứa: tiêu diệt lẫn nhau thì có chứ không một tay nào nổi lên như chúa trùm để điều lý toàn bộ. Thứ đến là sự son đẹt của nó trong phạm vi hiệu nghiệm vì thiếu hai yếu tố quan trọng là tình và chí. Triết mà đã gảy ra ngoài tình cũng như chí thì còn là một mớ trí thức, một mớ lý luận suông không trông “làm nên giống má” chi cả. Vì thế tuy nó có đánh bại được nền văn hoá Việt để chiếm chỗ thì đấy cũng là những triết học hàn lâm trường ốc không bao giờ âm vang vào đời sống. Vậy thì có nên bỏ triết Tây chăng? Thưa không, vì chúng ta thiếu triết mà thiếu là tại thiếu ý, mà Tây lại giầu về ý, nếu bỏ triết Tây thì mượn ở đâu, cho nên giải pháp tốt nằm trong chỗ phải thâu hoá nhiều ý của triết Tây, nhưng phải đặt chúng vào cơ cấu Việt Nho. Và lúc ấy chúng ta sẽ có một nền triết lý ám hợp cho tâm trạng chúng ta. Ngoài là ý nhưng trong là Tình mà tình thâm thì văn sẽ minh (tức đạt chí) sẽ có thể bơm hăng say vào cho nền cổ học. Và lúc ấy chúng ta sẽ mở ra được giai đoạn 5.

Giai đoạn 5
Nhằm là đem lại cho nước nhà một nền triết lý nhân sinh để làm xương sống cho quốc học. Xét như thế thì sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu đem lại cho ta nhiều may mắn để thành tựu trong bước ý. Triết Tây với những ý hệ đồ sộ nguy nga dễ giúp cho chúng ta nhận ra chỗ yếu của mình, đồng thời giúp phương tiện để chúng ta xây đắp chỗ thiếu sót đó. Thế là trong cái rủi lại có cái may: trong những đổ vỡ hoang tàn gây ra do sự tiếp xúc với văn hoá Tây Âu chúng ta gặp cái may nhận thức được giá trị chân thực của mỗi nền văn hoá, và đó là chỗ có thể làm ta giầu kinh nghiệm hơn tổ tiên.

Phía dân chúng
Những điểm vừa bàn thuộc về phía trí thức.
Bây giờ chúng ta nhìn sang phía dân chúng để ước lượng những khả năng của sự đón nhận một nền chủ đạo mới. Ta hỏi rằng sau từng ngàn năm tẩm nhuận Hán Nho, sau 80 năm chạy theo Tây học thì liệu nay dân chúng còn có tâm kiện để đón nhận một nền triết lý Việt Nho nếu nó xuất hiện. Và chúng ta có thể vui mừng mà trả lời là có, dân chúng vẫn còn tâm kiện đó. Ai cũng có thể nhận thấy trong dân gian còn rất nhiều những yếu tố của Việt Nho, mặc dầu chỉ còn trong tình trạng tình cảm và tiềm thức, lý do là bởi vì đã không còn được tri thức vun tưới. Nhưng nếu có vun tưới thì sẽ sống lại mạnh mẽ trên khắp lãnh thổ, kể cả miền Nam nơi có thể bị ảnh hưởng Pháp quá nặng vì là thuộc địa khác hơn Trung Kỳ Bắc Kỳ chỉ mới là đất bảo hộ nên ảnh hưởng Pháp chưa thấm sâu bằng, như nhiều người quen nhận xét. Riêng tôi cho rằng nhận xét như vậy chỉ đúng với giới trí thức với thị dân, còn với thôn dân thì không. Đời sống tình và chí nơi thôn dân vẫn còn vận hành trong quĩ đạo Việt Nho nhất là trong Nam. Hơn thế nữa miền Nam hội tụ được hai điều kiện rất thuận lợi cho sự nảy nở của Nho giáo nguyên thuỷ: Trước hết vì là đất mới nên chưa chịu ảnh hưởng Hán Nho tức những lễ giáo quá kềnh cơi nghiêm ngặt như ngoài Bắc và nhất là miền Trung với sức nặng của ảnh hưởng triều đình. Người trong Nam chưa bị óc “sính lễ” (hyperituel) ràng buộc. Nên chúng ta gặp ở đây một thứ Nho giáo thong dong bên ngoài mọi ước lệ. Rất nhiều người đã tự học Nho qua những sách như “Minh tâm bảo giám” phiên âm và dịch ra quốc ngữ nên chỉ cần có đạo lý không kể đến chữ a b c lề lối phức tạp, vì thế mà nơi những người Nam có một sự chân thành hết sức tự nhiên không có sức lèo lá che đậy, một lòng hiếu khách bộc lộ với những mối tình chân thực trong trinh, mạnh mẽ hùng tráng như được biểu lộ trong các tuồng loại Sơn Hậu… Thứ đến là đời sống vật chất phong phú: đất đai rộng, cây cối hoa màu tốt tươi, cá tôm đầy khắp đem lại che đời sống một sự thoải mái dễ chịu nhân đo có nhiều những lúc thư nhàn thuận lợi cho sự nảy nở tình cảm, nó là nền móng cho văn hoá, cho sự nảy nở của tuồng cải lương, ca sướng. Nhờ đó mà người trong Nam đã thể hiện được những đức tính của Việt Nho một cách khá trung thực, nhờ không bị mắc vướng trong những điều kiện kinh tế quá hẹp hòi ở hai miền Trung và Bắc. Về điểm này miền Nam có thể sánh với Mỹ Châu khi người Âu Châu tới lập nghiệp, cả hai nơi đều có những vùng đất tương đối mênh mông để mặc sức khai thác. Nếu ai làm một luận án, điều tra cẩn thận hai lối đối xử của dân di cư với dân thổ trước, một bên là lối sống hậu tình của dân mới đến lập nghiệp vẫn kính trọng quyền lợi các dân trước. Bên kia là tước đoạt giết chóc tiêu diệt… thì sẽ nhận ra sự khác biệt rất sâu xa về hai nền văn hoá và sẽ phần nào nhận ra khuôn mặt hiền hoà thâm diệu của Việt Nho . Tóm lại là ở miền Nam người Việt đã gặp hai điều kiện thuận lợi cho Nho giáo nguyên thuỷ nảy nở một là đất rộng hai là những nghi lễ phiền toái của Hán Nho chưa kịp đến chi phối bẻ quặt.

Tại sao người Nam ít thích văn học?
Đối với những điều quyết đoán trên có thể đưa ra vấn nạn sau đây: nếu những lời trên là đúng thì lẽ ra người Nam phải thích văn hoá. Thế mà tại sao phần đồng lại không ưa văn hoá, chỉ chuyên nhậu nhẹt với ba câu vọng cổ mùi, như thế sao nói được là có tinh thần Việt Nho, vì một trong những đức tính của Việt Nho là ưa văn hoá, nên mới gọi là văn hiến chi bang? Nhận xét trên đúng, nhưng chưa sâu. Nếu muốn đào sâu, thì phải hỏi tại đâu lại có tình trạng đó, lúc ấy sẽ nhận ra lý do ở tại sự đứt quãng văn hoá giữa thôn dân và thị dân. Tự đời Pháp thuộc thì thị dân được lái dần vào quĩ đạo văn hoá Tây Au một nền văn hoá trưởng giả thiếu khả năng thông đạt đến dân gian (xem đầu Hiến chương giáo dục) vì thế những sản phẩm văn hoá do thế hệ Tây học không sao gây âm vang vào lòng dân gian được như văn hoá cổ truyền sáng tạo do kẻ sĩ , thi dụ truyện Kiều hay Lục Vân Tiên… Trí thức nay không thể sáng tạo nổi một tác phẩm nào được dân chúng hoan nghênh đến thế. Sự đứt quãng này ít được nhận ra, vì một đàng ảnh hưởng trước còn lưu lại rất nhiều trong những người trí thức đầu tiên. Đàng khác trong phương diện chính trị chống xâm lăng thì tri thức với dân gian đều thông cảm mạnh mẽ nên nó che đậy sự cắt đứt với dân chúng của giới trí thức. Hơn thế nữa lại nhờ có quốc ngữ nên sự truyền thông trở nên mau lẹ. Khiến nhiều người nghĩ giới trí thức nay gần dân chúng hơn nho sĩ. Đấy là một sự lầm tưởng, vì sự truyền thống chỉ hời hợt bề mặt, còn bề sâu đi vào tâm hồn thì kém xưa nhiều, vì trí thức đánh mất dần mối tương quan với dân gian trong khi được đào tạo theo văn hoá trưởng giả Tây Âu nên càng lâu càng xa cách dân gian, không còn giữ được nền nhất trí như bên Viễn Đông nơi toàn dân tham dự vào đời sống văn hoá, nếu có chút phân biệt nào chăng là kẻ sĩ thi tham dự bằng sáng tác, còn dân gian tham dự bằng tiêu thụ. Điều này giới trí thức không nhận ra vì nhiều lý do mà chúng ta cần phải nói phớt qua: trước hết là nhờ chữ abc nên dân học mau lẹ, do đó giới trí thức thổi phồng sự khó khăn của chữ Nho cho là trưởng giả xa dân, kỳ thực nếu xét về nội dung thì chính trí thức mới là trưởng giả xa dân, bởi vì ngoài việc chống Pháp thuộc chính trị và mấy câu truyện giải trí tri thức đưa đến cho thôn dân nền đức lý nào, mà đó mới là cốt tuỷ của văn hoá còn hô hào đánh Tây, với mấy câu truyện thì chỉ là phần Dụng hời hợt từng giai đoạn chứ có gì thâm sâu lâu đời được như Nho giáo với thôn dân Việt đâu. Trí thức đã đem ra được chủ đạo nào để hội thông với thôn dân? Chính vì thế mà long yêu văn hoá nơi thôn dân trở nên yếu nhược. Văn hoá là một thực hoá. Thiếu điều đó thì nó sẽ ngảng dần. Trí thức nay có sản xuất những sách kiểu Tự Lực văn đoàn hay có dịch các tác phẩm của Tây phương thì hầu hết cũng là những kiến thức vừa tản mát vừa rất xa với thực tế của nền văn hoá nông nghiệp Việt Nam, nên nếu không có hại thì ít gì cũng xa lạ, quá xa lạ đối với quảng đại quần chúng thôn dân, nên cùng lắm thì những sản phẩm nọ chỉ giúp ích cho giới trí thức thành thị giải trí với nhau mà thôi, không sao thẩm thấu vào lòng dân chúng. Vì thế mà trí thức thiếu mất chân đứng trong dân và văn hoá cả hai phía đều trở nên yếu nhược. Bên trí thức thị dân thì phân tán vì văn hoá Tây Âu hầu hết chỉ có Ý nên là thứ văn hoá tan nát, đúng ra chỉ là văn học, văn nghệ.

Còn phía dân gian thôn dã vì không được tiếp sinh khí mới thì tất cả đời sống văn hoá phải dậm chân trên mấy sáng tác cuối mùa của kẻ sĩ: Lục Vân Tiên với ba câu vọng cổ mùi. Cái gì hay đến mấy mà dọn đi dọn lại rồi cũng phải nhàm nên dần dần quay ra chán văn hoá, đi vào nhậu nhẹt. ít lâu thành thói quen. Hại không ở tại nhậu nhẹt mà hại là đánh mất đức tính ưa chuộng văn hoá.

Đây là một sa đoạ trầm trọng, bởi vì đời mới chúng ta có muôn phương tiện để mở mang văn hoá hơn xưa, thế mà lòng yêu văn hoá lại xuống thấp đến độ không đua hơi nổi với nhậu nhẹt… với những phim cao bồi vô luận đang vẫy vùng trong mảnh đất bị bỏ hoang này. Đấy là một thảm trạng mà khi xét kỹ thì nhận ra lý do ở tại sự đứt liên lạc giữa trí thức trưởng giả thị dân một bên và thôn dân bên kia. Cho nên nói tới cùng thì chính là trách nhiệm của giới trí thức chứ nơi thôn dân vẫn còn tìm được bầu khí thuận lợi cho sự phục sinh của văn hoá dân tộc. Làm thế nào để trí thức từ bỏ lối văn hoá đầy du hí tính (như ta nhận thấy các tuần báo nguyệt san nay hầu hết là giải trí lăng nhăng, không còn những chiến đấu cho văn hoá chính trị) và bác tạp tan nát. Làm thế nào để mọi người đi học đều thầm nhuần sự cần thiết một nền văn hoá thống nhất được toàn dân như xưa. Thiết nghĩ đường lối tốt nhất là làm sao cho mọi người nhận thức ra được cái cơ cấu tinh thần dân tộc, rồi nữa phải hướng mắt nhìn về thôn dân, nơi có những tâm hồn trinh trong chưa bị bẻ quặt do những ý hệ ngoại lai, để trở thành những trạm chuyển vận tư tưởng trong dân gian. Khi nào chu toàn được việc ấy thì nước ta sẽ lại vận hành trong quĩ đạo của triết lý nhân sinh có nội dung chân thực thống nhất thôn dân với thị dân để bước vào giai đoạn 5 với nền quốc học mạnh mẽ làm lương tinh thần cho sự kiến thiết quốc gia. Làm thế nào để đạt mục tiêu đó sẽ bàn ở chương sau về Văn Hiến.

Về điều này có thể khởi đầu bằng tra cứu những sách như “khi những người lưu dân trở lại” của Nguyên Văn Xuân, và “Người Việt có dân tộc tính không” của Sơn Nam.
Trong quyển Déclin de l’occident (trang 95) ông Spengler quả quyết: “hết mọi kiệt tác của Tây Âu từ Dante cho tới Parsifal đều không có tính chất đại chúng”.

Trích Kim Định- chương VI, sách Vấn đề Quốc học

 

Trang sử mở đường vùng khó khăn

 

Giọt nắng ngày đầu, đậu trên trang vở
Lời thầy cô thầm, trong tiếng lá thu rơi
Lớp học trò du dương, lắng nghe giảng
Xao xuyến lòng, bồi hồi cả con tim
Từng bài học, phấn bụi được vẽ lên
Kiến thức ẩn chứa, vô vàn như vũ trụ
Trên tâm huyết yêu nghề, không quản nhọc
Viên mãn tâm hồn, tỏa trạng nguyên
Từng ý hay, cô có căn dặn:
– “ Gắng học cho tốt, để thành người”
Mai sau, sánh ngang cả cường quốc
Tự hào dương cờ nước Việt Nam.

Nguyễn Côli

Ba tôi thầy giáo của vùng cao

Con cần có Ba cạnh bên
Con cần có Mẹ, ầu ơ mỗi ngày
Là gia đình nhỏ ấm êm
Hạnh phúc giản dị
Hòa vang tiếng cười
Hôm nay là sinh nhật Ba
Chào đón cái tuổi của tròn năm mươi
Tóc trắng làm che nửa đầu
Bao nhiêu ưu phiền lo lắng tương lai.

Ba là thầy giáo của vùng cao
Quanh co, đường dốc, núi hiểm trở
Khi trời mưa, bùn lầy, đá lăn lốc
Ba cũng không chút quản ngại ngần
Đem con chữ đến với dân
Xóa đi nạn mù chữ
Mừng ngày sinh nhật Ba
Người trụ cột gia đình
Con muốn Ba sống mãi
Ươm mầm giống tương lai.

 

Nguyễn Côli

Nhà, hoa Tuy-líp đen

Đôi lời giới thiệu: Đây là bài viết đầu tiên của tôi gửi tới nghiệp đoàn. Bài viết này xuất phát từ một bài giảng trong giờ sinh hoạt lớp của tôi với học sinh. Một trò tôi nói, em chỉ dọn dẹp vệ sinh nếu em ở nhà. Vì vậy, tôi đã giải đáp với chúng về từ “nhà” với những điều tôi ghi lại dưới đây. Tôi rất mong nhận được thêm những ý kiến đóng góp cho nhận thức còn hạn hẹp của bản thân từ các đồng nghiệp, các anh chị và các bạn trong nghiệp đoàn. Trân trọng cảm ơn!

NHÀ

Nhà là gì?

Một câu hỏi lứa tuổi nào cũng có thể trả lời, nhưng sẽ trả lời cũng rất khác nhau. Sự khác nhau ấy chính là do nhận thức, sự trưởng thành về tuổi tác, sự va chạm với cuộc đời, sự ngộ ra của nhiều điều trong hoạn nạn hay khi hạnh phúc.

Nhà với những đứa trẻ, chỉ đơn giản là nơi có mẹ có ba.
Nhà với người không nhà là tình thương của những người chẳng thân quen bên cạnh.
Nhà của những người bình thường chỉ là nơi để ở, nơi có một gia đình xum vầy.
Nhà với những bậc trí giả, những người trăn trở với đời thì đó là Tổ Quốc.

Nhà, tiếng ngắn gọn nhưng hàm chứa biết bao ý nghĩa xa xôi. Khi chúng ta lớn lên, nhà là ba mẹ, là luỹ tre, là khóm dừa, là thanh củi mục, là bà ngồi bên nồi bánh trưng chiều cuối năm, là hình ảnh biết bao em thơ tung tăng cắp sách. Khi lớn hơn lên, lứa tuổi 18 bắt đầu yêu và biết yêu, người ta coi nhà là nơi có tình yêu của họ, nơi lứa đôi hạnh phúc, nơi tiếng ầu ơ trẻ thơ vang lên giữa buổi trưa hè hay mỗi đêm đông lạnh về.

Tình yêu, cao cả nhất là tình yêu quê hương đất nước. Thứ tình yêu Tổ Quốc ấy, đó chính là yêu nhà.

Khi ta xa quê, hay khi ta sống ngay trên mảnh đất quê hương mình, ta hiểu được ý nghĩa lớn lao của từ nhà, thì mỗi người trên quê hương ấy chính là anh em, là cha mẹ, là người thân của chúng ta. Họ là người ta cần sớt chia ngọt bùi và từ chối mang theo đắng cay đến với họ. Nhà theo nghĩa đó, cũng chính là quê hương xứ sở nuôi dưỡng ta, đùm bọc ta lên người, là bầu không khí ta đang thở, là con sông ta ngắm nhìn và cho ta nước uống, là biển bao la cho muối mặn cá tươi, là trời xanh bao la với những cánh chim tung lượn. Nhà là sự bình yên, nhà là nơi mà mỗi con người dù sang hay hèn, dù giàu hay nghèo, dù nông thôn hay thành thị, dù vùng núi hay hải đảo,… đều là anh em; đều có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và tình yêu thương sớt chia như nhau.

Nhà của chúng ta, nơi bình yên và thịnh vượng, nơi mỗi con tim hướng về, nơi tình yêu vượt lên lòng tham và hận thù, nơi con tim cùng nhịp đập, nơi dòng suối róc rách hiền hoà, nơi dòng sông nước trong xanh mát, nơi biển lặng đầy cá tôm và những chiếc thuyền xa khơi trong nắng sớm đầy khí thế,…

Nhà là nơi ai cũng cần làm sạch, giữ gìn, trân quý và bảo vệ. Ai cũng cần vui vén và yêu thương.

Bởi, đơn giản chúng ta là anh em một nhà. Nhà là nơi bình yên để ta có thể trở về.

Nhà là bất kỳ nơi đâu ta đặt chân đến.

 

 

Tác giả: Tulip Đen. (Tên tiếng Anh: Black Tulip)

 

 

Giới thiệu ý nghĩa bút danh:

“Hoa tulip đen” là một trong những cuốn tiểu thuyết tuyệt vời của nhà văn Alexandre Dumas (Pháp) kể về câu chuyện tình yêu kỳ lạ trong chốn ngục tù của đôi trai gái với niềm vui trong việc tạo nên một giống hoa mới, hoa Tulip đen. Hoa tulip đen chính là biểu tượng của tình yêu với cái đẹp, sự chung thuỷ trong tình yêu lứa đôi và đam mê sáng tạo những điều mới mẻ cũng đầy sự yêu thương ngay trong chốn ngục tù của thể xác. Nhà tù chỉ giam giữ được thân xác không thể giam giữ được trí tuệ, tinh thần và tình yêu bất diệt của mỗi con người với những điều ấp ủ trong lòng. Đối với những bậc trí giả, sống cuộc đời nhân sinh đầy ý nghĩa thì không có nhà tù nào có thể giam giữ họ. Tư tưởng và tình yêu nhân loại của họ sẽ sống mãi muôn đời sau.

Alexandre Dumas có nhiều cuốn sách giàu giá trị nhân văn được dịch sang tiếng Việt. Trong số các tác phẩm nổi tiếng của ông, tôi đã đọc một vài tác phẩm khi còn đang là sinh viên ngành Sư phạm như Hoa tulip đen, Trà hoa nữ, Bá tước Monte Cristo, Ba chàng lính ngự lâm, Nhà thờ Đức bà Paris. Sau khi đọc tôi đều nhận thấy một mô típ rất hay của ông khi viết, đó là những đố kị đời thường, những ganh đua tị hiềm xuất hiện trong cuộc đời mà gây ra những sóng gió cho các nhân vật, để rồi cuối cùng các nhân vật chính bị vô tù, có khi là một ngục tù thật sự về thể xác, cũng có khi là ngục tù của chính lương tri tạo ra. Nhưng trước khi kết thúc mỗi tác phẩm, ông đều đưa ra đường đi của các nhân vật với những nối thoát rất ngoạn mục và thú vị cho những hoàn cảnh trớ trêu bị xô đẩy. Tôi luôn tìm thấy những hạnh phúc sau những khổ đau. Và ở các tác phẩm của ông luôn tràn trề tiếng yêu, yêu chân thành, tha thiết và cuồng nhiệt, yêu bằng cả cuộc đời, yêu trong sáng như những giấc mơ mà có thật.

Cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai: Kỷ niệm thời dạy học ở Nha Trang

Nhân dịp 20/11 tự dưng nhớ lại thời gian còn đi dạy cách đây 10 năm .

Cái thời tui mới ra trường để nhận lớp đi dạy , cái thời mà người ta chưa biết bon chen lễ tết để lấy lòng thầy cô .

Tui nhớ hoài , 20/11 học trò đến lớp với một cây bông hồng được gói giấy bóng kính trong tay ( mà được phụ huynh đi kèm nha ), nhà nào khá hơn một chút thì hộp quà trong đó có cục xà bông Camay. Nói thật, những năm tháng đó sao mà hạnh phúc vì nghề giáo được tôn vinh đúng nghĩa của nó.

Cô giáo Thái Lai, thứ hai bên trái sang, áo sọc đen trắng, quần đen
Cô giáo Thái Lai, thứ hai bên trái sang, áo sọc đen trắng, quần đen

Thậm chí , cứ đến 20/11 tụi tui còn đi trốn để tránh nhận quà , bởi tui và các cô giáo trong trường đều biết học trò trường mình nghèo , đa phần phụ huynh buôn bán nhỏ trong xóm hay đi bán dạo trước các rạp ciné .

Mà thời đó khó lắm , giáo viên không được để móng tay dài và không được sơn móng tay đâu .

46492147_2234928986794579_2055447893325643776_n

Kỷ niệm khó quên nhất là ngày tui đã làm cho cô hiệu trưởng phải từ chức vì chuyện cô lấy tiền học của học sinh rồi cho vay lại , cô trù dập giáo viên nào không biết chiều theo ý của cô .Không hiểu sao ngày đó tui gan cùng mình , chân ướt chân ráo vô trường chưa hết một năm đã làm cho cô hiệu trưởng mất ghế .

Cái thời mà ai cũng nghèo như nhau , thời tem phiếu , gạo mốc . Hàng tháng vào ngày 15 , mỗi gv tụi tui được nhận 13kg gạo . Nhớ hoài , khiêng bao gạo đặt phía sau yên xe đạp , tui và mấy cô đạp thẳng ra chợ đến hàng bún , bán lại 3kg để lấy tiền ăn vặt , còn 10kg chở về nhà . Ngày đó làm lương ít lắm , mà lãnh bao nhiêu về đưa cho má hết , cho nên đành phải thủ tiêu bớt 3kg gạo để lấy tiền ăn hàng ( mà đâu phải mỗi mình tui , mấy cô kia cũng y chang tui vậy 😂😂😂 )

Năm tháng trôi qua , 20/11 không còn ý nghĩa nữa vì chính các nhân vật đứng đầu ngành giáo dục đã làm biến tướng mô hình sư phạm .

Thử hỏi người đứng đầu ngành giáo dục không đủ tư cách đạo đức lẫn trình độ thì lấy đâu ra sự tôn sư trọng đạo .

Ngành nghề nào cũng đáng trân trọng , nhưng riêng nghề giáo nếu đánh mất nhân cách của mình xem như vứt , vì các thầy cô thay mặt Cha Mẹ ươm mầm tưới cây cho công việc trồng người .

Cô giáo Nguyễn Thị Thái Lai, Nha Trang