Hạnh phúc quan trọng như thế nào?

“Hạnh phúc làm cho chúng ta cảm thấy sung sướng. Các nghiên cứu cho thấy hạnh phúc làm cho chúng ta khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn và đủ thứ tuyệt vời khác. Nhưng khi bạn bắt đầu phân tích mức độ hạnh phúc rằng mọi thứ trở nên thực sự thú vị, khi bạn khám phá ra một loạt các khả năng mới để cải thiện sự thịnh vượng của xã hội chúng ta.”

Trong nhiều năm, chúng tôi đã đo lường hạnh phúc của mọi người và điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến cảm xúc tích cực của hạnh phúc. Mọi người thường tự hỏi nếu kiếm được nhiều tiền hơn có thể làm cho bạn hạnh phúc hơn chẳng hạn. Câu trả lời ngắn gọn là có thể, nhưng mối tương quan giữa hạnh phúc và thu nhập chỉ mạnh đến một ngưỡng nhất định, sau đó những điều như mối quan hệ cá nhân, sức khỏe của bạn và các điều kiện của xã hội xung quanh bạn có ảnh hưởng lớn hơn đến khả năng bạn sẽ hạnh phúc.

Rất dễ để có hứng thú về những mối tương quan như vậy, và trong khi chúng có ý nghĩa, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến cách chúng tôi sử dụng dữ liệu này để mang lại lợi ích cho cuộc sống của người dân. Đặc biệt, bằng cách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, chỉ đạo luật pháp, phân lập quy trình, với thông tin họ cần để đáp ứng với các vấn đề trong xã hội của chúng ta.

Lấy ví dụ câu hỏi liệu đàn ông hay phụ nữ hạnh phúc hơn. Nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện ra rằng cách đàn ông và phụ nữ xây dựng hạnh phúc của họ khác nhau đáng kể, không chỉ bởi vì phụ nữ có nhiều khả năng xem xét người khác hạnh phúc hơn khi xây dựng hạnh phúc của họ. Trên thực tế, có bằng chứng về việc gợi ý rằng phụ nữ sẽ không hạnh phúc hơn theo thời gian; có lẽ bởi vì nhiều phụ nữ hơn tham gia trong lực lượng lao động, nhưng đã giảm bớt tương đối ít nhiệm vụ chăm sóc của họ trong gia đình, khiến họ phải chịu một gánh nặng gấp đôi. Điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách đáp ứng điều này không chỉ vì lợi ích sức khỏe và hạnh phúc của phụ nữ mà còn vì tác động của các chính sách ấy trên gia đình họ.

Đây chỉ là một chuỗi của một loạt các kịch bản liên quan đến hạnh phúc mà chúng tôi đã xem xét và nếu chúng tôi có thể giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu được cuộc sống của dân mà họ nên hướng tới để cải thiện, thì tôi sẽ rất hạnh phúc!

Tác giả: tiến sĩ Marina Della Giusta, Độc giả Kinh tế, Đại học Reading, Anh

Dịch giả: tiến sĩ Phạm Đình Bá

Vì sao người lao động không quan tâm tới công đoàn?

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thường hay nói rằng, “không có tổ chức công đoàn thì ai sẽ bảo vệ quyền lợi người lao động?”. Nếu đặt trong bối cảnh một quốc gia xã hội chủ nghĩa không có cảnh ‘người bóc lột người’, thì chuyện phải lập ra thêm một tổ chức để bảo vệ quyền lợi người lao động xem ra là thừa thãi.  Đọc tiếp “Vì sao người lao động không quan tâm tới công đoàn?”

Trung tướng Lê Đông Phong muốn tập hợp hiệp sĩ đường phố thành nghiệp đoàn hiệp sĩ

Trung tướng Lê Đông Phong, Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh
Trung tướng Lê Đông Phong, Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tướng Lê Đông Phong, lãnh đạo của ngành công an ở Hồ Chí Minh đang rất muốn “hợp thức hóa” mô hình hiệp sĩ. Các đề xuất của công an Hồ Chí Minh lên Bộ Công An nhằm vào ý tưởng tập hợp các hiệp sĩ thành nghiệp đoàn- dịch vụ bảo vệ.

Đọc tiếp “Trung tướng Lê Đông Phong muốn tập hợp hiệp sĩ đường phố thành nghiệp đoàn hiệp sĩ”

Quyền lập các tổ chức công đoàn độc lập: những tác động chính trị

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương [Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP] đã có hiệu lực thi hành, để có thể thành lập các tổ chức công đoàn độc lập, trước tiên cần thay đổi hệ thống pháp luật tương ứng.

Khi đã có tư cách chính trị thì sẽ phát triển thành lực lượng chính trị?

Do Việt Nam đang theo đuổi các cải cách kinh tế tự do hơn, những người lạc quan sẽ có lý do để ấp ủ hy vọng rằng một ngày nào đó tự do hóa kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ hóa chính trị. Tuy nhiên, điều này có vẻ là một kịch bản xa vời do các tác động dân chủ hóa cần nhiều thời gian để tích tụ, cũng như do các chiến lược duy trì quyền lực hiệu quả của đảng cộng sản Việt Nam, dù cả nước đã đi trên con đường tự do hóa kinh tế trong suốt hơn 30 năm qua.

Một lý do phù hợp hơn để lạc quan về tác động chính trị của CPTPP đối với Việt Nam, có lẽ là như tuyên bố hồi năm ngoái của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi trình CPTPP để Quốc hội phê chuẩn: “Hiệp định CPTPP giúp nước ta thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” [http://bit.ly/2TvvzlC]. Bởi điều đó cho thấy dường như ít ra về mặt hình thức, đảng cộng sản Việt Nam sẵn lòng tuân thủ các quy định lao động của CPTPP.

Các tiền lệ lịch sử, chẳng hạn như phong trào Đoàn kết ở Ba Lan, đã cho thấy các công đoàn lao động độc lập có thể phát triển thành những lực lượng chính trị có ảnh hưởng, giúp mang lại những sự thay đổi chính trị lớn. Điều này có vẻ sẽ khó diễn ra ở Việt Nam do một số lý do:

Thứ nhất, các quy định về lao động của CPTPP thực ra được rút ra từ Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế. Do là thành viên của tổ chức này, việc Việt Nam đồng ý tuân thủ các quy định về lao động của CPTPP chỉ là sự tái khẳng định các cam kết cũ, và không đồng nghĩa với một sự nhượng bộ mới của đảng cộng sản Việt Nam theo hướng tự do hóa chính trị.

Thứ hai, mặc dù về dài hạn, quyền thành lập công đoàn độc lập có thể được sử dụng bởi một số lực lượng để vận động thay đổi chính trị, đảng cộng sản Việt Nam rất có thể sẽ đảm bảo rằng bất kỳ công đoàn lao động nào được thành lập, cũng sẽ chỉ là để phục vụ cho mục đích kinh tế, tức là bảo vệ quyền lợi và phúc lợi kinh tế của người lao động.

Về vấn đề này, đảng và bộ máy an ninh của mình có thể sẽ xây dựng một số chiến thuật nhất định để giới hạn một cách “hợp pháp” phạm vi của các công đoàn độc lập, và để ngăn chúng khỏi bị lợi dụng về mặt chính trị. Luật An ninh mạng vừa có hiệu lực, có thể là minh chứng.

Một khi tự nhận mình là “đội tiên phong của giai cấp công nhân”, đảng cộng sản Việt Nam có rất ít lý do để phản đối các quy định về lao động của CPTPP, vốn được cho là để bảo vệ quyền lợi và phúc lợi của người lao động. Do đó, việc chấp nhận những quy định này, xét về bề ngoài sẽ góp phần bổ sung vào tính chính danh chính trị của đảng, trong khi cho phép các nhà đàm phán Việt Nam có cơ sở để đòi hỏi nhượng bộ trong các lĩnh vực khác.

Nền móng cho quá trình dân chủ?

Dĩ nhiên CPTPP có khả năng sẽ gây ảnh hưởng đến quỹ đạo chính trị của Việt Nam trong dài hạn, nếu một số điều kiện nhất định được đáp ứng.

Một là, việc thực hiện CPTPP phải giúp đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của Việt Nam và tiếp tục mở rộng tầng lớp trung lưu, từ đó đặt nền móng cho một quá trình chuyển đổi dân chủ.

Hai là, do những áp lực cạnh tranh từ CPTPP, bản thân đảng cộng sản Việt Nam có thể nhận ra sự cần thiết phải thực hiện những cải cách chính trị, có ý nghĩa để giải phóng tiềm năng kinh tế của đất nước khỏi những ràng buộc về chính trị và thể chế, bắt nguồn từ chế độ độc đảng của mình.

Nền tảng để thành lập các công đoàn độc lập là phải dứt khoát chấm dứt phân biệt về “quyền lợi chính trị” giữa “công dân – đảng viên” và “công dân – không đảng viên” trong tất cả mọi hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật.

Điều này đã được xác lập tại Điều 14: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Như vậy từ nguyên tắc Hiến định của Điều 14 cho thấy để phù hợp với thỏa thuận của CPTPP cũng như những điều ước quốc tế, cùng các thỏa thuận FTA (Free trade agreement, Hiệp định thương mại tự do) khác, thì Điều 10 của Hiến pháp hiện hành cần sửa đổi như sau: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức xã hội dân sự của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật” [*]

Có nghĩa là mặc dù tránh cụm từ “tổ chức chính trị – xã hội” mà đảng cộng sản Việt Nam cho là ‘nhạy cảm’, là ‘độc quyền’ của công đoàn quốc doanh (Điều 1, Luật Công đoàn 2012), với việc sửa đổi Điều 10, Hiến pháp 2013, cho thấy các công đoàn độc lập vẫn có đầy đủ các quyền về chính trị như công đoàn quốc doanh.

Sửa Hiến pháp có nhanh không?

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2013 như đề nghị ở trên sẽ được thực hiện tương tự như quy trình ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10, “Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”, ký ban hành ngày 25 tháng 12 năm 2001.

Quy trình tiến hành sửa đổi khi ấy khá nhanh: Ngày 29 tháng 6 năm 2001, chủ tịch Quốc hội ký ban hành Nghị quyết số 43/2001/NQ-QH10, về việc “Thành lập Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”.

Nghị quyết được ban hành trên căn cứ: Nghị quyết số 42/2000/QH10 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001, ký ngày 9 tháng 12 năm 2000; Tờ trình số 310/UBTVQH10 ngày 18 tháng 5 năm 2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, Tờ trình số 311/UBTVQH10 ngày 18 tháng 5 năm 2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến danh sách Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội.

Như vậy thời gian thủ tục hành chính mất đúng 6 tháng, bao gồm cả thời gian dài nghỉ Tết và các ngày lễ.

Nguyễn Cao -Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Chú thích:

[*] Hiến pháp 2013, Điều 10 hiện nay: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Bài viết thuộc Chương trình đào tạo cán bộ nghiệp đoàn lao động do Khối nghiệp đoàn Viêm Việt tổ chức.  Xem chi tiết về chương trình này tại đây:  https://goo.gl/NejyS4

Vì sao nghiệp đoàn độc lập ở Việt Nam phải là một tổ chức chính trị – xã hội?

Sẽ là một dạng thức của chủ nghĩa ‘A–pac–thai’ (Apartheid), phân biệt quyền lợi của những lãnh đạo công đoàn là đảng viên, và không đảng viên. Phần thiệt thòi luôn là các tổ chức nghiệp đoàn độc lập mà người đứng đầu là ‘quần chúng’, nếu như công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập không được trao tư cách là tổ chức chính trị – xã hội.

Có ý kiến cho rằng nghiệp đoàn phải là một tổ chức xã hội dân sự chuyên nghiệp và phi chính trị. Bởi đó là điều chủ yếu để phân biệt với công đoàn, là tập hợp của những công nhân, của những người lao động nằm dưới sự chỉ đạo của nhà nước và đảng. Chính vì thế, nó không do người lao động trực tiếp bầu nên, vì thế không đại diện cho người lao động.

Tất cả vì quyền lợi của người lao động

Với hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, khi thực thi thỏa thuận của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), để thành lập những tổ chức công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập, nếu đây là tổ chức phi chính trị thì sẽ không cân bằng với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong rất nhiều vấn đề liên quan tới quyền lợi của người lao động.

Đơn cử về vấn đề tiền lương. Ngày 6-8-2013, Hội đồng tiền lương quốc gia ra mắt tại Hà Nội. Hội đồng này được thành lập theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương, Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 03/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ, và Quyết định số 1014/QĐ-LĐTBXH ngày 9/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Nhiệm vụ của Hội đồng tiền lương quốc gia là thực hiện theo nghị quyết đảng. Cụ thể giai đoạn từ 2018 đến 2030, các vấn đề liên quan tiền lương được làm theo một văn bản có tên khá dài dòng: “Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”.

Nghị quyết này được đánh số văn bản là 27-NQ/TW, nên còn gọi là Nghị quyết 27, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 21/5/2018. Phần IV “Tổ chức thực hiện”, trong danh sách liệt kê các ban, ngành thực hiện có “các tổ chức chính trị – xã hội các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát thực hiện Nghị quyết”.

Như vậy, nếu các công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập không mang tư cách về quyền là tổ chức chính trị – xã hội, mà chỉ là xã hội – nghề nghiệp, thì xem như sẽ chịu nhiều hạn chế trong tham gia ý kiến trực tiếp vào toàn bộ quá trình thực hiện “cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp” mà Nghị quyết 27-NQ/TW đặt ra.

Chính trị là quyền Hiến định

Trong Hội đồng tiền lương quốc gia, theo quy định có 3 tổ chức, gồm đại diện của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đại diện của Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Để tham gia vào Hội đồng này, các công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập phải được công nhận về những quyền lợi chính trị tương đồng với Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tất cả đều bình đẳng, chịu sự điều chỉnh chung của Hiến pháp và pháp luật.

Nói rõ hơn, Luật Công đoàn quy định tại điều 1, “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam”.

Các tổ chức công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập theo thỏa thuận của CPTPP khi thành lập tại Việt Nam, về nguyên tắc phải chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp Việt Nam. Một khi đã chấp nhận về “chế độ chính trị” (Chương I, Hiến pháp 2013), thì nếu Tổng Liên đoàn lao động có tư cách chính trị, thì công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập cũng phải có tư cách tương đương.

Lưu ý, người lao động được Hiến pháp bảo hộ “quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Chương II, Hiến pháp 2013), nên tất yếu trách nhiệm của tổ chức công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập cũng phải bảo vệ quyền này của người lao động; trong đó có quyền ngôn luận, quyền biểu tình, quyền tự do lập hội.

Nếu thực sự là một nhà nước tôn trọng pháp quyền, tuân thủ các điều ước quốc tế đã ký kết, thì với quyền công dân về chính trị được Hiến định, những tổ chức công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập được hình thành, và được quyền tự do chọn lựa các người đứng đầu có, hay không là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam.

Người lao động sẽ đứng về phía công đoàn quốc doanh hay nghiệp đoàn độc lập, khi tổ chức nào đại diện một cách thực chất cho họ.

Nguồn: Nguyễn Cao- Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Công đoàn tái phân phối thu nhập trên toàn xã hội tự do và hạnh phúc

Các quốc gia Bắc Âu thường xuyên xuất hiện trong năm nơi hạnh phúc nhất, theo khảo sát, với 10 nước sẽ đứng đầu năm nay Phần Lan 1, Na Uy 2, Đan Mạch 3, Iceland 4, Thụy Sĩ 5, Hà Lan 6, Canada 7, New Zealand 8, Thụy Điển 9, Úc 10.(1)

Đọc tiếp “Công đoàn tái phân phối thu nhập trên toàn xã hội tự do và hạnh phúc”

Công đoàn độc lập và cạnh tranh

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto gửi về từ Canada

Lo sợ về cạnh tranh

Báo “Nhân Dân” gần đây có bài báo về vấn đề đảng (và nhà nước) phải chấp nhận các tổ chức đại diện người lao động độc lập, đứng cạnh tổ chức Công đoàn Việt Nam.(1) Đây là một điều lệ trong Hiệp định Ðối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương mà Việt Nam đã tham gia trong tiến trình đàm phán thương mại mà đảng mong muốn, mặc dù vừa muốn vừa sợ các điều lệ đòi mở rộng và cạnh tranh.

 

Tác giả của bài báo nầy bình luận rằng công đoàn độc lập là một thách thức chưa từng có đối với Công đoàn Việt Nam. Tác giả cho rằng Công đoàn Việt Nam là “tổ chức duy nhất đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động”. Theo ý kiến của tác giả, vấn đề cạnh tranh để giữ chân và thu hút đoàn viên mới là điều tất yếu sẽ xảy ra giữa Công đoàn Việt Nam và các công đoàn độc lập. Rồi tác giả lượng đinh rằng việc phát triển đoàn viên và công đoàn cơ sở của Công Đoàn Việt Nam sẽ gặp khó khăn, dẫn tới nguồn lực bảo đảm cho hoạt động công đoàn, nhất là nguồn tài chính bị chia sẻ, giảm sút, ảnh hưởng tới “công tác chăm lo, bảo vệ lợi ích thiết thực của đoàn viên.” Tác giả lo rằng “Môi trường hoạt động công đoàn có thay đổi lớn do quan hệ lao động sẽ có diễn biến phức tạp.”

Cạnh tranh

Cạnh tranh là một cuộc thi đấu hoặc sự tranh giành giữa hai hoặc nhiều thực thể, sinh vật, động vật, cá nhân, nhóm kinh tế hoặc nhóm xã hội, v.v. , về các nguồn như tài nguyên, lãnh thổ, quyền lực, giải thưởng, lãnh đạo hay lợi nhuận.(2) Các nguồn nầy càng hiếm hoi thì mức độ cạnh tranh càng mạnh. Cạnh tranh phát sinh bất cứ khi nào ít nhất hai bên cố gắng vì một mục tiêu không thể chia sẻ, trong đó lợi ích của một người là mất mát của người kia (một ví dụ trong đó là trò chơi có tổng bằng 0, bởi vì trong cuộc chơi có người thắng và người thua).

Cạnh tranh xảy ra tự nhiên giữa các sinh vật sống hay tồn tại trong cùng một môi trường. Ví dụ, động vật cạnh tranh về nguồn cung cấp nước, thức ăn, bạn tình và các nguồn tài nguyên sinh học khác. Con người thường tranh giành thức ăn và bạn tình, mặc dù khi những nhu cầu này được đáp ứng, sự cạnh tranh sâu sắc thường nảy sinh trong quá trình theo đuổi sự giàu có, quyền lực, uy tín và danh tiếng.

Cạnh tranh thường được coi là đối nghịch với hợp tác, tuy nhiên trong thế giới thực, hỗn hợp hợp tác và cạnh tranh là thường.(2)

Cạnh tranh giữa các người làm trong một công ty là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của hầu hết mọi người đi làm. Cho dù công bằng hay không, hầu hết các công ty tạo ra một động lực trong đó các nhân viên cạnh tranh với nhau để được công nhận và tiền thưởng. Sau khi xem xét kỹ các chính sách tại nơi làm việc giữa các tập đoàn, ngân hàng, công ty luật và công ty công nghệ, tờ báo New York Times gọi cuộc cạnh tranh mệt mỏi là đặc điểm nổi bật của nơi làm việc trong các nước phát triển.

Một số nghiên cứu cho thấy sự cạnh tranh như vậy có thể thúc đẩy nhân viên, khiến họ nỗ lực nhiều hơn và đạt được kết quả. Thật vậy, cạnh tranh làm tăng kích hoạt sinh lý và tâm lý, chuẩn bị cho cơ thể và tâm trí để tăng nỗ lực và cho phép hiệu suất cao hơn.

Tuy nhiên, nhân viên có thể đạt được kết quả của họ theo những cách khác nhau. Ví dụ, tại nhà băng Wells Fargo, nhân viên đã cung cấp số lượng bán hàng cao hơn bằng cách bí mật tạo ra hàng triệu tài khoản ngân hàng và thẻ tín dụng trái phép – một con đường phi đạo đức trong công việc – ăn gian.

Nhưng nhân viên cũng có thể vượt trội so với đối thủ của họ thông qua sự đổi mới. Nếu nhân viên cạnh tranh bằng cách tìm cơ hội mới để cung cấp dịch vụ cho khách hàng hoặc nghĩ ra cách đưa sản phẩm mới ra thị trường nhanh hơn, thì cạnh tranh nội bộ có thể chuyển thành lợi thế cạnh tranh thực sự cho các tổ chức và công ty.

Điều gì phân biệt các cuộc cạnh tranh dẫn đến sự sáng tạo so với các cuộc thi gây ra ăn gian? Nó phụ thuộc vào cách các nhân viên cảm nhận về tác động của cạnh tranh.

Một số cuộc thi gợi ra nỗi sợ hãi và lo lắng, bởi vì các cuộc thi nầy tập trung nhân viên vào mối đe dọa bị sa thải, mất thu nhập hoặc bị sỉ nhục công khai. Các cuộc thi khác tập trung nhân viên vào việc giành phần thưởng một cách chính đáng hoặc sự công nhận của đồng đội, điều này tạo ra sự phấn khích khiến mọi người cảm thấy hăng hái và nổ lực để làm hay hơn.

Lo lắng và phấn khích là những phản ứng cảm xúc rất khác nhau từ cạnh tranh. Quan trọng hơn, những cảm xúc này làm cho mọi người cư xử khác nhau.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng khi nhân viên đối mặt với cạnh tranh bằng sự lo lắng và không phấn khích, họ sẽ ít lựa chọn các hành vi sáng tạo để giải quyết vấn đề và nhiều sác xuất là họ có thể ăn gian. Ngược lại, khi mọi người cảm nhận sự phấn khích từ cạnh tranh, họ có nhiều khả năng lựa chọn các hành vi sáng tạo để giải quyết vấn đề và ít có khả năng làm các hành vi không có đạo đức.

Cách các nhà lãnh đạo giao tiếp về cạnh tranh có thể khiến nhân viên cảm thấy lo lắng hoặc phấn khích về cạnh tranh. Như chúng ta đã thấy, các nhà lãnh đạo cần đầu tư tạo ra năng lượng bằng cách làm nổi bật những hậu quả tích cực tiềm tàng của cạnh tranh thay vì tạo ra sự lo lắng bằng cách nhấn mạnh vào các điều tiêu cực của việc thua trong cạnh tranh.

Làm thế nào các nhà lãnh đạo có thể tăng hứng thú và phấn khích từ cạnh tranh? Một ví dụ mạnh mẽ là các nhà lãnh đạo khuyến khích nhân viên sử dụng sức mạnh đặc thù của họ theo cách có lợi cho người khác cũng như có lợi cho chính họ. Vì vậy, khi cấu tạo một cuộc thi hay cạnh tranh, các nhà lãnh đạo có thể nhắc nhở nhân viên sử dụng nhiều hơn những kỹ năng mà họ giỏi nhất. Các nhà lãnh đạo cũng có thể nêu bật cách thành công sẽ giúp khách hàng và cũng giúp đạt được mục đích của tổ chức.

Cạnh tranh giữa các nhân viên có thể là một phần không thể thiếu và không thể tránh khỏi trong công việc làm và nếu được hướng dẫn một cách tích cực, có thể dẫn đến hiệu suất làm việc cao. Nhưng nếu các nhà lãnh đạo muốn đảm bảo rằng cạnh tranh dẫn đến sự sáng tạo và không phải là ăn gian, họ phải chống lại sự cám dỗ để chú ý nhiều quá vào sự sợ hãi khi bị thua cuộc.

Hậu quả của không cạnh tranh và thiếu đối lập

Ở các nước phát triển, các tổ chức xã hội mạnh mẽ tạo nên một đối lực và một môi trường cạnh tranh làm cho nhà nước khó khăn hơn trong việc tham gia vào chủ nghĩa cơ hội, trộm cắp, hoạch định chính sách không nhất quán và các hành vi lạm dụng quyền lực.(3) Ở những nước này khi chính sách được ban hành, chính phủ thực hiện đầy đủ các chính sách nầy theo quy định của pháp luật. Lợi ích được nhắm mục tiêu đúng mức và được thanh toán đầy đủ cho các nhóm được hưởng quyền lợi hợp pháp, thuế được trả đầy đủ bởi những người phải trả thuế, và trách nhiệm chính trị cho phép công dân giữ các chính trị gia và cán bộ khỏi thao túng hoặc lạm dụng cơ hội từ các chính sách. Nói cách khác, chính phủ bị ràng buộc bởi những thể chế và tổ chức xã hội, bao gồm cả luật chính thức hay các tiền lệ về thực hành không chính thức.

Ở các nước đang phát triển, các cấu trúc xã hội thường yếu kém, bao gồm nhà nước không năng lực, trách nhiệm giải trình thấp trong nhiều lãnh vực xã hội, thiếu tiền lệ tuân thủ luật pháp, và quyền lực tập trung trong tay thiểu số mà cách hành xử duy nhất mà thiểu số nầy hiểu biết chỉ là độc tài. Các thể chế yếu cho phép các quan chức nhà nước tham gia vào cơ hội tự phục vụ làm tăng chi phí giao dịch cho người khác, và tiêu tan các quỹ của nhà nước, làm cho các chính sách xã hội không thể triển khai theo cách hoạch định trước. Tình trạng yếu kém của nhà nước cũng làm giảm độ tin cậy của công dân vào các cam kết chính sách đối với cung cấp lợi ích và cung cấp dịch vụ. Đặc biệt, các nhóm được kết nối chính trị tốt có thể tận dụng lợi thế của các thể chế yếu để thủ lợi và thay đổi điều kiện phân phối một cách không minh bạch và không công bằng. Trong khi các nhóm như vậy sẽ phải trả giá đầy đủ cho chính sách xã hội trong các nước với tổ chức xã hội tốt, các nhóm nầy có cơ hội trục lợi dựa vào sự yếu kém của tổ chức xã hội trong tình huống nầy.

Các tổ chức xã hội tốt là tiền đề quan trọng để ngăn chặn nhà nước, như một diễn viên độc quyền về bạo lực trong lãnh thổ của mình, dễ dàng hủy bỏ hoặc thay đổi cơ hội hợp đồng và cam kết của nhà nước cho dân. Trong trường hợp các tổ chức xã hội quá yếu, không ràng buộc được nhà nước, các quan chức nhà nước có thể thay đổi các quy tắc khi họ thấy phù hợp và có lợi cho bản thân họ. Các quan chức nhà nước có thể chiếm đoạt tài sản của công dân, tránh phải trả thuế và chỉ thực thi các hợp đồng có lợi cho họ. Họ có thể đảo ngược chính sách xã hội trên cơ sở đặc biệt, tùy thuộc vào ý định ăn cắp của họ. Về kinh tế, trong trường hợp nầy, các nhà đầu tư phải đối mặt với việc tăng rủi ro mất tiền đầu tư của họ. Vì vậy, biết rằng họ có ít khả năng ngăn chặn nhà nước sửa đổi các quy tắc của luật lệ theo những cách có lợi cho lợi ích riêng của quan chức, các nhà đầu tư sẽ không có nhiều động cơ để đầu tư.

Các cá nhân và doanh nghiệp tìm cách đầu tư vào các cơ sở với các tổ chức xã hội yếu phải đối mặt với sự mất cân bằng giữa lợi nhuận từ việc đầu tư và các chi phí bổ sung như tiền hối lộ và các khó khăn từ quan chức của nhà nước muốn thủ lợi cho cá nhân. Các nhà đầu tư nói chung bị thiệt thòi từ các tổ chức xã hội yếu kém và nhất là khi quyền sở hữu không được tôn trọng. Đặc biệt, các cá nhân có kết nối tốt với quan chức nhà nước được đảm bảo tốt cho quyền lợi của họ, trong khi người đầu tư chân chính không thể hoạt động trên một thị trường minh bạch và công bằng. Vì vậy, khi thiếu các tổ chức xã hội và thể chế tốt, một số nhóm có thể tận dụng lợi thế của họ để đảm bảo quyền truy cập đặc quyền vào hàng hóa công cộng và lợi nhuận.

Ví dụ, sự chiếm đoạt của công là lan tràn khi không có đối lập và khi các tổ chức xã hội dân sự yếu kém. Việc nầy bắt nguồn từ tiền đề là các quan chức nhà nước không bị hạn chế và giám sát tốt khi các tổ chức xã hội quá yếu kém. Điều này cho phép các quan chức lạm dụng các quỹ xã hội để sử dụng theo các cách họ mong muốn, chẳng hạn như trợ cấp các công ty được móc nối với các quan chức tham nhũng, làm giàu trái phép hoặc tài trợ các chương trình không chính đáng, áp đặt thêm chi phí trên người làm ăn tư và đòi hỏi hối lộ từ doanh nghiệp.

Trong các nước mà các tổ chức xã hội yếu kém, việc thực thi hợp đồng, giả quyết các xung đột trong thỏa thuận hợp đồng và giám sát các thực thi hợp đồng là không chuẩn. Trong các tình huống có xung đột về thực thi hợp đồng, chỉ những người có kết nối chính trị mới có thể tin vào tình trạng thực thi hợp đồng. Những người khác trở nên dễ bị tổn thương về cơ hội và nhu cầu hối lộ. Bởi vậy các bên tư nhân cũng không thể ký hợp đồng đáng tin cậy với nhau trừ khi một hoặc cả hai phe có các kết nối chính trị cân bằng để đảm bảo là nhà nước sẽ thực thi các hợp đồng liên hệ đến giao thương giữa hai phe. Điều này làm giảm đi các hoạt động kinh tế mà vốn dĩ phải có nhiều hợp đồng hơn, trong trường hợp các tổ chức xã hội làm việc đúng mức.

Chất lượng của tổ chức và thể chế xã hội có tầm quan trọng cơ bản để ban hành và thực thi các chính sách xã hội, góp phần vào việc tạo dựng một xã hội tốt. Nâng cao năng lực của các tổ chức và thể chế xã hội có thể định hình tương lai của xã hội một cách không sai lầm.

Nói tóm lại

Chúng ta cần cạnh tranh lành mạnh và chúng ta không lo sợ phải mất đặc quyền. Dân đen và tương lai đất nước là phấn khích cho chúng ta trong đấu tranh cho các tổ chức xã hội tốt, trong đó có công đoàn độc lập.

Phạm Đình Bá

Tài liệu

  1. Cơ hội để Công đoàn Việt Nam đổi mới mạnh mẽ. “Nhân Dân”.Thứ Sáu, 23/11/2018.
  2. Anna Steinhage,Dan Cable,Duncan Wardley. The Pros and Cons of Competition Among Employees. https://hbr.org/2017/03/the-pros-and-cons-of-competition-among-employees
  3. Israel Marques II. Political Institutions and Preferences for Social Policy in the Post-communist World. Doctor of Philosophy Thesis. Graduate School of Arts and Sciences. Columbia University 2016.

Hình minh họa từ BBC

Giá trị của nghiệp đoàn lao động trong việc điều chỉnh đạo đức các ngành nghề trong xã hội

Đặt người lao động trong cơ cấu nghiệp đoàn là cách tốt nhất để đặt các chuẩn mực đạo đức lên người lao động đó, cũng như cơ cấu nghiệp đoàn là cơ cấu tốt nhất để bảo vệ đạo đức nghề nghiệp cho cả một ngành lao động.

Giải thích: Một sếp thì có thể không sợ cấp trên ( vì cấp trên đã được anh ta mua chuộc), cũng không sợ cấp dưới ( vì cấp dưới thì không dám lên tiếng do sợ bị đuổi việc), cũng không sợ người ngoài ( vì người ngoài thì không biết việc làm của ông sếp đó để tố cáo). Chỉ khi đặt ông sếp đó vào trong nghiệp đoàn giới chủ thì ông ta mới bị những người chủ khác ràng buộc đạo đức mà thôi.

Một người thợ có thể không sợ ông chủ ( vì ông chủ không có mặt ngay lúc đó để chứng kiến việc người thợ làm), có thể không sợ người ngoài ( vì người ngoài có xem thì cũng không hiểu công việc người thợ làm), người thợ đó chỉ sợ những người bạn của mình- những người có hiểu biết về kiến thức chuyên môn công việc đang làm. Nghiệp đoàn cũng vậy, các thành viên trong Nghiệp đoàn cũng sẽ có sự ràng buộc đạo đức với nhau, như vậy có thể bảo vệ đạo đức nghề nghiệp cho cả một ngành lao động.

Nghiệp đoàn, quan trọng hơn hết, là nơi tương thân tương ái giữa những người thợ cùng ngành nghề, để họ chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống thường nhật giúp cũng như giúp đỡ nhau về chuyên môn. Ví dụ thứ nhất, ở một nhà máy nọ, có một công nhân tham gia nghiệp đoàn lao động, một ngày người ấy chẳng may bị tai nạn ở ngoài đường.  Ngay lập tức, các công nhân khác họp nhau đến thăm và ứng cứu khẩn cấp. Khi mà chính sách y tế công cộng của nhà nước không thể kịp thời chu cấp cho người công nhân bị nạn, đồng thời người nhà không có đủ điều kiện chu cấp thì một nghiệp đoàn có tinh thần bác ái cao độ sẽ là nơi đầu tiên giúp đỡ anh ta.

Triệu Hoài An/ lược trích từ Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam.

Link bài gốc: https://nghiepdoanbaochi.org/2018/10/15/trung-thuc-va-bac-ai-la-nen-tang-tu-tuong-cua-nghiep-doan-bao-chi-viet-nam/

Công đoàn ngành giáo dục giúp gì cho các thầy cô giáo?

Công đoàn ngành giáo dục là cánh tay nối dài của chính quyền, chịu mọi sự ‘sai khiến’ của bộ sậu các quan chức trong bộ máy công quyền.
Nhận xét nêu trên không cảm tính. Trong một công văn đánh số 219/CV- CĐGD, về việc “nắm tình hình CB-NG-NLĐ liên quan đến dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm”, do bà Nguyễn Thị Gái, chủ tịch Công đoàn ngành giáo dục TP.HCM ký ban hành ngày 8-11-2018 [văn bản tại đây: http://bit.ly/2Q6e39i%5D, có nội dung (tóm tắt) như sau: Yêu cầu công đoàn cơ sở các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và các đơn vị trực thuộc, trong đó yêu cầu Ban Chấp hành công đoàn cơ sở (BCHCĐCS) các đơn vị tăng cường công tác nắm bắt tình hình dư luận xã hội, tâm tư, tình cảm, ý kiến của cán bộ, nhà giáo và người lao động liên quan đến việc thực hiện Thông báo số 1483/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ về khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2) và các dự án trên địa bàn một số quận, huyện còn khiếu nại đông người, kéo dài; dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP.HCM.
BCHCĐCS các đơn vị phối hợp cấp ủy, chính quyền đồng cấp kịp thời tuyên truyền, định hướng dư luận trong cán bộ, nhà giáo và người lao động; nắm chắc nội dung, thường xuyên tuyên truyền tạo sự đồng thuận, ủng hộ chủ trương của TP.HCM liên quan đến việc thực hiện dự án Thủ Thiêm và các dự án khác còn khiếu nại đông người, kéo dài trên địa bàn một số quận, huyện.
Theo bà Nguyễn Thị Gái, việc ban hành công văn số 219 là để thực hiện công văn số 1817-CV/BDVTU ngày 25-10-2018 của Ban Dân vận Thành ủy về việc nắm tình hình công nhân, viên chức, lao động TP.HCM liên quan đến dự án Thủ Thiêm và một số dự án có khiếu nại đông người kéo dài tại các quận, huyện; đồng thời nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP.HCM; Công văn số 537/LĐLĐ ngày 31-10-2018 của Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động TP.HCM về việc nắm tình hình công nhân, viên chức, người lao động liên quan đến dự án Thủ Thiêm.
Bàn luận quanh công văn đầy “mệnh lệnh cách” nói trên, thầy giáo T.T.S nói rằng khi ông bước vào nghề thầy giáo trung học từ niên khóa 1985 tại một trường thuộc huyện ngoại thành Sài Gòn, thì khái niệm “công đoàn ngành giáo dục” đối với các thầy cô giáo trẻ như ông khi ấy tương tự như Đoàn Thanh niên cộng sản, với ít nhiều chủ nghĩa anh hùng cá nhân kiểu Pavel Korchagin trong tác phẩm gối đầu giường nhiều thế hệ trẻ “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Liên Xô Nikolai A.Ostrovsky [*].
“Tôi từng là chủ tịch công đoàn, nằm trong bộ ba quyền lực nhất trường hồi đó: Bí thư chi bộ – Hiệu trưởng – Chủ tịch công đoàn. Thế nhưng trong lý lịch thuở còn là học trò trường Petrus Trương Vĩnh Ký, tôi được nhận phần thưởng học giỏi do tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao tặng, nên dù nhiệt huyết như Pavel Korchagin, tôi vẫn không thể ‘ngồi’ quá nhiệm kỳ cho chức vụ chủ tịch công đoàn. Phần cũng vì nhiệt huyết như Pavel nên cái gì tôi cũng lên tiếng, nhứt là bênh vực quyền lợi sát sườn của các thầy cô giáo nhà ở nội thành phải ra dạy ngoại thành xa xôi nên buộc trọ khu nhà tập thể tạm bợ…”.
Thầy T.T.S kể rằng sau 5 năm dạy học ngoại thành, ông được chuyển về dạy một trường trung tâm thuộc quận 1, Sài Gòn. Vẫn giữ ‘máu nóng’ như Pavel Korchagin, nên mặc dù là giáo viên dạy giỏi, suốt từ đó đến tận hôm nay ông vẫn chỉ là một ông giáo ‘quèn’ như thuở ban đầu khởi nghiệp làm ‘giáo làng’ trường huyện.
“Công đoàn ngành giáo dục giúp gì cho thầy cô giáo ư? Giúp nhiều đó chứ. Như giúp các thầy cô giáo yên tâm mà lo đứng lớp, đừng bận bịu chi đến chuyện Trung Quốc vừa thôn tính biển đảo Việt Nam, vừa lũng đoạn luôn nền kinh tế của Việt Nam. May là tôi dạy môn toán, lý, chứ nếu dạy môn sử, địa thì tôi cũng không biết nói với học trò thế nào, vì mấy dịp xã hội chộn rộn kêu gọi xuống đường biểu tình trước họa ngoại xâm đó thì công đoàn ngành giáo dục cứ ra rả là hãy để đảng và nhà nước lo… Họ là chiếc loa, là ampli khuếch đại những chỉ thị của phe nhóm quyền lực nào đó trong bộ máy công quyền”. Thầy T.T.S chua chát nhận xét.
Cô giáo N.T.T, dạy môn văn (cô nghỉ hưu từ niên khóa 2016) ở một trường cấp 2, 3 tại quận 10, Sài Gòn nói rằng nhiệm sở đầu tiên hồi mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm, là một trường heo hút ở huyện Củ Chi. Cô N.T.T cũng là dân Củ Chi, nhưng gia đình lại liên quan với ‘bên thua cuộc’, nên cô từng tin rằng mình sẽ viết lại lý lịch chính mình giống như Pavel Korchagin vậy (cũng lại Pavel Korchagin!).
Cô N.T.T đã ‘thổi lửa” vào những tiết giảng văn, và cô đã được bộ ba quyền lực “Bí thư – Hiệu trưởng – Chủ tịch” ở trường nhận ra đây là mối nguy của ‘tự diễn biến’ (thời điểm đó chưa có cụm từ này trong quy định của đảng), nên cô được ‘tạo điều kiện’ chuyển về giảng dạy ở nội thành.
“Phải nói là tổ chức công đoàn giáo dục ở trường, ở quận giống như một hội đoàn vui chơi nhảy múa. Cứ vào hè là các thầy cô giáo được công đoàn đãi cho chuyến du lịch… Rồi những phong trào, hội thi văn thể mỹ đã kéo các thầy cô giáo vào guồng đúng như định hướng của đảng và nhà nước. Tôi cũng ngộ nhận như vậy cho đến một ngày kia tôi phản ứng về chính sách giáo dục khi nhận trả lời phỏng vấn của một kênh truyền hình…
Công đoàn trường họp kiểm điểm. Tổ bộ môn họp kiểm điểm. Thậm chí cả hăm dọa. Chỉ có các thầy cô giáo là điện thoại riêng bày tỏ cảm ơn vì đã lên tiếng dùm cho bức xúc của đồng nghiệp. Mấy mươi năm ròng rã, tôi buộc phải nộp đầy đủ tiền góp cho kinh phí hoạt động của công đoàn, thế nhưng thay vì bảo vệ quyền được nói của thầy cô giáo, thì công đoàn lại bảo vệ những cái ghế của ban giám hiệu”. Cô N.T.T kể.
Cả thầy T.T.S và cô N.T.T đều chung nhận xét rằng công đoàn trong ngành giáo dục chỉ là một kênh phát hành chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước. Đơn cử như để có thêm ngân sách, chính quyền sẽ mượn miệng các chủ tịch công đoàn về trường để ‘vận động’ hàng loạt các khoản đóng góp, ủng hộ như: quỹ vì đồng nghiệp, quỹ cựu giáo chức (mặc dù còn lâu nữa mới về hưu), quỹ mái ấm công đoàn, quỹ trợ tang, quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, quỹ ủng hộ bão lụt, quỹ bảo trợ trẻ em, quỹ ủng hộ gia đình chính sách, quỹ giao thông nông thôn, quỹ “thắp sáng vùng quê”, quỹ “ngân hàng bò”, quỹ ủng hộ xã kết nghĩa, quỹ hội chữ thập đỏ, quỹ khuyến học…
Gọi là “vận động”, “tự nguyện đóng góp” nhưng theo kiểu bắt buộc, “không ai được thoát”. Cứ cấp trên gửi công văn xuống hoặc ban giám hiệu, Ban chấp hành công đoàn đi họp về, sau khi “tiếp thu chỉ đạo” là trừ lương của anh chị em giáo viên một cách… “tỉnh bơ”. Có những khoản thông báo trước, trừ sau; có những khoản chưa kịp thông báo đã trừ.
“Nếu mai đây có các công đoàn giáo dục thực sự vì quyền lợi của các thầy cô giáo chứ không phải quyền lợi của ban giám hiệu, của chi bộ đảng, chắc chắn tôi sẽ hết lòng ủng hộ!”. Thầy T.T.S nói.
Cô giáo N.T.T thì “nếu thành lập nghiệp đoàn cựu giáo chức thực sự vì quyền lợi của thầy cô giáo hưu trí, tôi tham gia liền, nhưng đó phải là những nghiệp đoàn dũng cảm biết từ khước những yêu cầu kiểu như bà Nguyễn Thị Gái ký ban hành ở công văn đánh số 219/CV- CĐGD. Chúng tôi là giáo viên chứ không phải đàn cừu”.
Người viết bài này cũng từng là giáo viên. Sở dĩ công đoàn ngành giáo dục vẫn mãi loay hoay trong chuyện là ‘kênh phát hành chủ trương, chính sách của đảng’, vì điều đó nhằm phục vụ cho chính thành tích của nhà trường, của quyền lợi chính trị ban giám hiệu. Nếu răm rắp chịu mọi sự ‘sai khiến’ của bộ sậu các quan chức trong bộ máy công quyền, thì công đoàn giáo dục nơi đó sẽ đạt đủ loại danh hiệu từ “Công đoàn bộ phận vững mạnh tiêu biểu” đến “Công đoàn bộ phận vững mạnh”; còn với những thầy cô giáo đoàn viên sẽ là “Đoàn viên Công đoàn xuất sắc”; “Phụ nữ 2 giỏi xuất sắc”; “Phụ nữ 2 giỏi”. Khi ấy đồng nghĩa chiếc ghế hiệu trưởng sẽ thêm củng cố quyền lực, vây cánh.
“Tôi từng tưởng làm Lục Vân Tiên thấy chuyện bất bình chẳng tha là dễ, vì dù sao mình cũng con nhà võ mà!. Thế rồi ban giám hiệu sử dụng quyền lực của họ tìm mọi sơ hở để thị uy, như việc thỉnh thoảng vào lớp ngồi dự giờ, kiểm tra hồ sơ sổ sách bất kỳ lúc nào, giờ nào; hay phân công cho dạy lớp có nhiều học sinh yếu kém nhất trường để mượn cớ trừ điểm thi đua, đánh vào nồi cơm của thầy cô giáo…”. Thầy T.T.S cười buồn và nói rằng ông cũng sắp nghỉ hưu. Hơn nữa ông cũng biết nếu Pavel Korchagin có ở Việt Nam thì chắc gã ta cũng sớm bị khai trừ đảng từ lâu lắc rồi, chứ không phải diễm phúc như giáo sư Chu Hảo mới vừa rồi đâu…
Chú thích:
[*] Pavel Korchagin là nhân vật chính của tác phẩm. Ostrovsky đã xây dựng thành công nhân vật này (chính là hóa thân của tác giả), khiến cho nhiều độc giả yêu quý nhân vật Pavel và phương châm sống của Pavel cũng đã trở thành phương châm sống của nhiều thanh niên thế hệ Pavel: Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người….
Khi đọc tác phẩm theo quan điểm rộng hơn, nhiều người cho rằng, cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại còn là cuộc đấu tranh với bóc lột, đói nghèo và bệnh tật, với dốt nát và vô chính phủ, với áp bức và bất công, với chiến tranh và xung đột… Cuốn tiểu thuyết đã được dịch ra hơn 70 thứ tiếng và in ra ở hơn 80 nước, trong đó có Việt Nam.

Nguồn: Minh Châu- Việt Nam Thời Báo

Link bài gốc: http://www.vietnamthoibao.org/2018/11/vntb-cong-oan-nganh-giao-duc-giup-gi.html

Nếu bạn là thầy giáo, cô giáo và muốn đăng ký làm thành viên của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam ( một liên đoàn giáo chức độc lập trong tương lai), hoặc bạn là người ngoài ngành sư phạm nhưng muốn đăng ký làm tình nguyện viên cho Nghiệp đoàn giáo chức, xin mời đăng ký tại đây: https://goo.gl/X5tcLc

Tổng Liên đoàn Lao công: một tham khảo cho tổ chức công đoàn độc lập

Ở miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, quyền lập hội được tôn trọng, trong đó có quyền tự do nghiệp đoàn. Thời kỳ đó có hàng trăm nghiệp đoàn đủ các ngành nghề được thành lập, và tham gia vào các hệ thống nghiệp đoàn khác nhau, trong đó đáng chú ý là tổ chức Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam thành lập năm 1952, với Chủ tịch Trần Quốc Bửu.
Tuy nhiên, do hạn chế tiếp cận tư liệu của Viện Lưu trữ Quốc gia, nên người viết không có nhiều tài liệu về Tổng Liên đoàn Lao công. Chỉ biết là có rất nhiều đảng viên đảng cộng sản Việt Nam từng giữ các chức vụ điều hành trong tổ chức này.
Bài viết là nằm trong chuỗi ghi nhận mang tính tham khảo cho ý tưởng hình thành các nghiệp đoàn khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương [Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP] có hiệu lực thi hành.
Chính phủ đặt trọn niềm tin vào người cần lao
Ghi nhận từ một số cựu công chức cao niên của chế độ Việt Nam Cộng Hòa hiện đang sinh sống tại Sài Gòn, thì cả tổng thống Ngô Đình Diệm đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đều chung quan điểm là những người lao động làm công ăn lương vốn dĩ đã gắn bó với đất nước, nên họ không ước mong gì hơn là có được tổ chức công đoàn tốt, bảo vệ được quyền lợi của họ và đóng góp vào sự phát triển ổn định bền vững của đất nước.
Do vậy hai vị tổng thống lần lượt của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều đặt niềm tin vào người dân của mình, vào những người lao động qua việc tạo mọi điều kiện tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn.
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam (lao công ở đây được hiểu bao gồm cả người thợ, người buôn bán và những tá điền nghèo khổ), có trụ sở nằm ở số 14 đại lộ Lê Văn Duyệt (đường Verdun cũ, nay là Cách Mạng Tháng Tám, trụ sở của Liên đoàn Lao động TP.HCM, phường Bến Thành, quận 1) trong một tòa nhà kiếng lớn, nóc nhọn thềm cao, kiến trúc theo kiểu Pháp, trước kia là trụ sở của Câu lạc bộ Thể Thao Đông Dương. Biểu tượng của Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam là bánh xe răng và đầu con trâu.
Nói thêm, sau tháng 4-1975, trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam được mang tên Liên đoàn Lao động giải phóng Sài Gòn. Đầu tháng 6-1976, Hội nghị Thống nhất Công đoàn toàn quốc đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam – Bắc thành Tổng Công đoàn Việt Nam. Cũng nói thêm, ông Văn Bá Tài (sinh năm 1955), cựu giám đốc Công ty cổ phần Du lịch Công đoàn, người từng sống với thân mẫu lúc ông 12 tuổi đến tháng 4-1975 ngay tại trụ sở Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam trước đây, được xem là người khá am tường mọi hoạt động của tổ chức này, tuy nhiên người viết chưa tiếp xúc được với ông.
Những người cộng sản từng tham gia điều hành
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam còn mở rộng phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố ở miền Nam Việt Nam. Tài liệu của tỉnh ủy Trà Vinh cho biết, ông Võ Văn Lực, tức Sáu Lực, nguyên Huyện ủy viên Càng Long, từng là Chủ tịch Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh (thành lập vào năm 1955), trực thuộcTổng Liên đoàn Lao công Việt Nam.
Như vậy có thể thấy rõ rằng khi ấy có sự tương đồng nhau về ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của người lao động ở cả hai tổ chức Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa, với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam của chính quyền Hà Nội [có giai đoạn từ 1961-1988 mang tên Tổng Công đoàn Việt Nam]. Điểm khác biệt duy nhất là Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam không phụ thuộc vào đảng phái chính trị, mà chỉ vì quyền lợi của người lao động cần lao.
Chính lẽ đó nên mới có chuyện Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh từng tổ chức biểu tình phản đối chính phủ của ông Ngô Đình Diệm.
Tài liệu của tỉnh ủy Trà Vinh cũng cho biết Nghiệp đoàn lao công tỉnh Trà Vinh đã thành lập các Nghiệp đoàn thợ bạc, Nghiệp đoàn giáo chức, Nghiệp đoàn chài lưới, Nghiệp đoàn thợ mộc, Nghiệp đoàn mua bán, Nghiệp đoàn tiểu thương, Nghiệp đoàn mua gánh bán bưng, Nghiệp đoàn nông dân, Nghiệp đoàn xe lam, Nghiệp đoàn khuân vác, Nghiệp đoàn xe lôi, Nghiệp đoàn mua bán vải…
Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam có tờ báo mang tên Công Nhân do ký giả Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm, tòa soạn tại số 216 Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng), Sài Gòn.
Kế thừa để phát triển
Người viết nghĩ rằng Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể lịch sử. Thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa như nó đã tồn tại, chúng ta sẽ làm giàu có thêm cho dân tộc vì đã có một nền giáo dục, một nền văn học, pháp chế, kinh tế… mà ngày nay cần nghiên cứu để thừa kế những giá trị và gạt bỏ những khuyết điểm, những yếu kém.
Nói một cách khác, thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Và loạt bài tìm hiểu về hình thành nghiệp đoàn, công đoàn thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa, là một tham khảo ít nhiều hữu ích cho vấn đề công đoàn độc lập trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP.