Văn hóa xưng hô!

Bài viết này không đề cập đến việc xưng hô trong tôn tộc, gia đình có quan hệ huyết thống mà chỉ đề cập đến nhân xưng ngoài xã hội!

Về quan hệ xã hội, có hai cách xưng hô đó là xưng hô theo chức vụ và xưng hô theo tuổi tác.

Xưng hô theo chức vụ, là khi ta đến các cơ quan công sở, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội dân sự ta nên xưng hô theo chức vụ các vị quan chức hay chức sắc để thể hiện sự tôn trọng tổ chức. Tuy nhiên, thái độ phải đàng hoàng chửng chạc, chỉ xưng gọi chức vụ của người tổ chức khi mới vào lần đầu, còn sau đó thì nên gọi “ông”, “bà”, “cô” và xưng “tôi”. Cần nói thêm là không được tỏ thái độ khúm núm, hèn hạ như xoa tay, cúi khom người …

Xưng hô theo tuổi tác đó là cách ứng xử văn hóa của người Việt từ bao đời nay!

Theo cách đó, người nhỏ tuổi xưng hô với bậc cao niên đáng tuổi anh, chị, chú, bác, ông, bà của mình thì gọi theo đúng vai như thế để thể hiện sự tôn trọng người lớn tuổi. Trường hợp, mới gặp chưa biết tuổi nhau thì gọi “anh, chị” xưng “tôi”để giữ phép lịch sự xã giao!

Người có văn hóa, trọng Lễ Nghĩa, việc xưng hô theo tuổi tác không bị ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị, vì thế cho dù khác chiến tuyến thì người ta vẫn xưng hô đàng hoàng, tử tế.

Thời tôi sống ở miền Nam Việt Nam dù khác quan điểm chính trị với miền Bắc tuy nhiên người miền Nam vẫn được dạy cách xưng hô một cách trung dung không bày tỏ thái độ miệt thị, chẳng hạn như gọi là ‘ông Hồ Chí Minh’, ‘ông Phạm Văn Đồng’, ‘ông Tôn Đức Thắng’…chứ không ai gọi thằng này, thằng nọ bao giờ cả!

Ở miền Bắc thì dạy cách xưng hô thế nào? Tất cả những thành viên của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều bị gọi một cách xách mé, miệt thị chẳng hạn như như “thằng Diệm” “thằng Thiệu”… Nếu xưng hô theo cách đó thì Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc đều bị gọi bằng “thằng” cả?

Tôi xin lỗi các vị Tổng thống VNCH quá cố vì đã phải nhắc lại cách gọi tên của người miền Bắc để cho thấy văn hoá giáo dục ở thể chế cộng sản như thế nào?

Người ta nói: “thể chế chính trị nào thì nền giáo dục đó, nền giáo dục nào thì con người đó” quả là không sai!

Một luật sư còn trẻ tuổi như Nguyễn Thuỷ mà dám gọi cụ già đáng tuổi ông mình là “thằng”và đòi đem tùng xẻo cụ trong khi cụ chưa làm điều gì hại nước, hại dân mà cụ chỉ đứng ra bảo vệ đất đai của tổ tiên bao đời nay. Vậy mà, người ta vào tận phòng ngủ để bắn chết cụ rồi dùng đám con ranh DLV, AK47 để phỉ báng cụ không tiếc lời thì đạo đức và luật pháp ở đâu?

Nhà giáo Đặng Đăng Phước

Lý Thường Kiệt đánh Tàu liệu có “hỗn”?

Việt Nho

1.     Thích Chân Quang là ai?

Trong một buổi thuyết giảng trước đông đảo Phật tử, tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT), ông Thượng Tọa Quốc Doanh Thích Chân Quang đã nói: “Tàu là Anh ta là em, Lý Thường Kiệt đánh Trung Quốc là hơi hỗn” (hết trích), vậy Thích Chân Quang là ai? Phát ngôn của ông ta như thế có đúng hay không?

Thích Chân Quang nhận danh hiệu
“Nhân tài đất Việt thời kỳ hội nhập quốc tế

Vừa qua, vào ngày 14/8/2019 (nhằm ngày 14/7/năm Kỷ Hợi), tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT) đã diễn ra buổi Lễ trao tặng bảng vàng vinh danh NHÂN TÀI ĐẤT VIỆT THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ dành cho TT. Thích Chân Quang – Phó trưởng ban Kinh tế Tài chánh T.Ư GHPGVN, Viện chủ Thiền Tôn Phật Quang do Viện Khoa học Nghiên cứu Nhân tài Nhân lực Việt Nam tổ chức.

Nguồn từ nhà nước Cộng Hòa Xã Hộì Chủ Nghĩa Việt Nam: Thầy Thích Chân Quang hiện là vị Hòa Thượng chân tu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hiện tại, Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang – Bà Rịa Vùng Tàu.

Thầy có lòng yêu nước rất nhiều, nên Thầy thường xuyên là đối tượng của các thế lực phản động chống phá. Ta có thể thấy lòng yêu nước của Thầy thể hiện ở rất nhiều bài giảng. Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang … Thầy Thích Chân Quang hiện là Hòa Thượng làm Phó trưởng ban kinh tế tài chánh TW của GHPGVN.

Nguồn từ Nhật Ký Yêu Nước

Thích Chân Quang nổi lên như cồn thời Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (con vô thừa Nhận của HCM). ông ta diễn thuyết những câu chuyện luôn gắn liền với đời sống chính trị, nhưng ở hàm ý ca ngợi chế độ CSVN và bào chữa cho việc làm sai trái của Tàu vào thời nhà Tống như bài giảng của Ông nói về Đức Lý Thường Kiệt: “Tàu là anh, ta là em. Lý Thường Kiệt đánh anh là hỗn”. Xin vào đường link dưới đây để nghe bài giảng của ông ở: https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/videos/1675775075782566/

          Chưa hết, sư quốc doanh Việt Cộng GHPGVN nầy còn nói Đế Minh dòng Viêm Việt là vị vua đầu tiên của Tàu.  Đé Nghi con của Đế Minh là người Tàu, giải thích lươn lẹo như vậy nhằm nói lên rằng: “ta là em, Tàu là anh, đánh Tàu là hỗn”.  Dưới đây tôi sẽ vạch mặt trò gian xảo, lươn lẹo nầy của ông sư của tình báo Hoa Nam

II. Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương (Lục Tộc) là Tàu hay Việt Theo Tinh Thần Của Huyền Sử?

Muốn biết được điều nầy nghĩ cần làm rõ huyền sử và cổ sử của Hán Việt:

Huyền sử là ngoại sử, tiền sử, là thời kỳ của Hồng Bàn Thị. Chính sử về sau thuật lại rằng: thời kỳ Hồng Bàng khởi đi khoảng năm 2879 TCN nghĩa là cách nay ngót 5000 năm, thuộc niên đại của Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ.  Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ XuyênTrung Quốc ngày nay). Như thế liên bang Việt tộc (Bách Việt) thời bấy giờ là cả một vùng đất mênh mông từ Dương Tử Giang đến giáp Chiêm Thành. Tuyệt nhiên không có bóng dáng của nước Hán (Chine, China)

Chính sử: Theo Đại Việt Sử ký Toàn thưĐế Minh (dòng Viêm Đế, Viêm Việt) là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh (Viêm Việt) truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), và Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lục Tộc làm vua xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2879 TCNLục Tộc/Kinh Dương Vương lấy Tiểu Long Nữ là con của chủ nhân Động Đình HồThần Long, Tiểu Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, làm vua, xưng là Lạc Long QuânLạc Long Quân: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_B%C3%A0ng

Như vậy: dòng Thân Nông, Đế Minh, Đế Nghi, Lục Tộc Kinh Dương Vương Sùng Lãm LLQ đều là đều thuộc Việt tộc. 

Đế Minh (cháu ba đời Thần Nông), Đế Nghi,  Lục Tộc là hai anh em ruột có cùng một người cha là Đế Minh, vua Việt đầu tiên trên phần đất Bách Việt cũ. Ngay cả Thần Long (chủ nhân Động Đình Hồ),Long Nữ (con gái Động Đình Hồ) và LLQ, Âu Cơ đều là dòng Viêm Việt Đế Minh

Kể từ Thần Nông là huyền tự chỉ khoảng không hỗn độn (Chaos) ban sơ khi mặt trời và qủa đất chưa hình thành, đến Đế Minh (Viêm Đế, chứ không là Đế Viêm) là thần thuộc xứ nóng Xích Đạo dòng Viêm Việt. Từ Thần Nông đến Viêm Đế/ĐếMinh được ghi nhận là ba đời. Đây là phần huyền sử nói về sự hình thành của Trời Đất, nói khác đi là giai đoạn của Thiên Sử hay Sử Vũ Trụ.

Đến Đế Thần Long + Long Nữ là thế hệ thứ tư kể từ Thần Nông

Đế Nghi + Lục Tộc (Kinh Dương Vương) là thế hệ thứ 5

Sùng Lãm/Lạc Long Quân là thế hệ thứ 6

Sáu “thế hệ” (từ tạm gọi), 3 thế hệ đầu thuộc Thiên Sử, 3 thế hệ sau thuộc sử nhân gian. Điều đáng ghi nhận ở đây là: Tục lệ Nam phương 5 thế hệ được xem là “Ngũ đại đồng đường”, trong việc dựng vợ gả chồng việt tộc không lấy nhau vì còn là “đồng đường”, Sùng lãm/Lạc Long Quân và Âu Cơ thuộc đời thứ 6 nên huyền sử kể là không còn là “đồng đường” nên có thể kết hợp thành vợ chồng. Đây là điểm khác biệt về tục lệ của phương Nam Việt tộc với Hán tộc Bắc phương rất rõ ràng khác nhau là: dòng Nam Tộc các trẻ, con cô con cậu không thể lấy nhau, nhược lại với Hán Tàu là con dì, con cô có thể lấy nhau.

Lấy Lý Số để giải thích con 5 (5 thế hệ) là con huyền số, viết ra Lý Số là con LI 101 (nằm phương Nam BQHT) vừa chỉ ra phương vị, vừa nêu ra Đạo Lý của phương nầy về tính chất “đồng đường” (chung một từ đường) thì không được kết hôn với nhau vì còn xem là bà con.

Về truyện hoàng Đế đánh Si Vưu: Xi Vưu (cũng đọc là Xuy VưuSi Vưu, “Txiv Yawg”. là một anh hùng cổ xưa của người Miêu ở phần Đất Trung Hoa. 

Xi Vưu, cùng với Hoàng Đế và Viêm Đế, được coi là ba quốc phụ vĩ đại. Si Vưu là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc. Si Vưu Là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu rất dung cảm với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc trong. Si Vưu đã thể hiện được uy lực trong chiến tranh, tên gọi Xi Vưu cũng trở thành đồng nghĩa với từ “chiến tranh” trong tiếng Hán, những người tôn trọng thì xem ông như là “chiến thần”, còn những người bài xích thì xem ông như là “họa thủ”. Đối với người Miêu“Txiv Yawg” (Si Vưu) là một vị vua thần thoại có tính khôn ngoan. Người ta tin rằng ông là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc được hình thành bởi một số bộ lạc ở miền nam Trung Hoa khoảng 3000 TCN 

Các sử gia đều thừa nhận rằng nguồn gốc của Si Vưu là rất phức tạp, và việc nầy đã gây tranh luận không ít trong giới sử gia, ông có thể thuộc tộc Miêu (H’Mông), Đông Di, hay thậm chí là Man, tùy theo nguồn và nhận định. Ngày nay, Si Vưu vẫn giữ một vị trí quan trọng trong thần thoại của người Miêu (Mèo), người Miêu hiện vần còn tồn tại ở vùng cao miền Bắc Việt Nam).

Ở vào khoảng niên đại nầy (3.000 năm TCN), nhà Hán Tàu chưa hình thành, đến Hán Cao Tổ (256 TCN _195 TCN) nhà Hán mới có.

Tôi nghĩ từ “Hoàng Đế” là từ phịa đặt của đám Hán về sau và  như thế, thực chất trận chiến ở Trác Lộc là trận chiến mang tính “nồi da xáo thịt” của con cháu dòng Viêm Việt mà thôi.

Người mà sách vở Tàu viết là Hoàng Đế thì chẳng là “Hòang Đế” mà là “Đế Hòang” mới phải lẽ. Thật sự chẳng có ông Hoàng Đế nào cả! Điều nầy, trong chúng ta ai cũng biết là: Lũ Hán Tàu là bọn cướp gian manh luôn luôn sửa sách sử, phịa đặt huyễn (dấu ngã) sử, để dễ bề Hán hóa ta. Điều nầy, không ai không thấy là: từ thời Xuân Thu đã được ghi chép về truyền thuyết Xi Vưu, song thường nó mâu thuẫn là với nhau. Muốn rõ xin vào xem tài liêu tham khảo trên mạng ở link:https://vi.wikipedia.org/wiki/Xi_V%C6%B0u (phần phân tách và giải thích là phần viết của tác giả)

Cũng theo chính sử, Hán Cao Tổ 256 TCN _ 195 TCN), húy Lưu Banglà vị hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Hán, Hán Tàu chỉ thực sự xuất hiện từ  Hán Cao Tổ.

Qua đoạn huyền sử và thực sử trên, chứng tỏ rằng: Hán Tàu là đám sinh sau đẻ muộn, sau những nhiều ngàn năm sau Viêm Việt (Đế Minh), Việc phân ranh Nam Bắc: Đế Lai trị vì phương Bắc, Lộc Tục cai trị phương Nam lấy núi Ngũ Lĩnh (ngày nay thuộc tỉnh Hồ Nam) làm ranh giới để phân ranh, Bắc Ngũ Lĩnh thì thuộc Đế Nghi cũng là nằm sâu hẳn vào lành địa của Việt tộc, nghĩa là nằm về phía Nam Động Đình Hồ, sông Dương Tử/ Trường Giang, như ngày nay câu hát ru em của các bà mẹ Việt còn hát để nhắc cho con cháu ngàn sau nhớ đến gốc gác khởi nguyên của Việt tộc:

“Động đình Hồ mẹ ru con ngủ

Năm canh dài thức đủ năm canh

Lạnh lành lanh, lạnh lành lanh”

Ngay cả như núi Thái Sơn trong hiện tại là thuộc Tàu Chệch, nhưng trước đây vẫn là của Việt tộc nên Mẹ Việt Nam mới lại hát rằng:

“Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ, kính Cha

Cho trọn chữ hiếu mới là Đạo Con”

Những bài hát ru nầy nhằm truyền dòng cho con cháu Việt ngàn đời biết về đất tổ đả bị giặc phương Bắc cưỡng chiếm, với niềm hy vọng một ngày nào đó giống chim Hồng Lạc trở lại quê xưa khi mùa xuân nắng ấm trở về lại đất Bắc, như lời thơ của Nguy Ý Nguyễn Hữu Ngư muốn nhắn gởi cho con cháu Việt tộc:

Mặt đất Bắc nặng dày băng tuyết

Sự sống còn le lói như ma trơi

Giống chim Hồng, chim Lạc khắp nơi nơi

Vội vỗ cánh xuôi Nam tìm nắng ấm

Và tự hẹn đến mùa Xuân khie thắm

Người tung tang và chim véo von ca

Sẽ cùng nhau ngược dòng Nam tiến

Trở về thăm quê cũ đợi ai mà

Việc nầy không khác với lời chào nhau mỗi độ Xuân về của người Do Thái suốt dọc dài 2.000 năm thất quốc, mội độ xuân về là hẹn nhau xuân đến sẽ gặp nhau trên đất tổ quê hương của họ …

Qua phân tích trên thì Thích Chân Quang nếu không là con cháu Hán Tàu thì hắn cũng phải là tên điệp viên văn hóa của tình tình báo Hoa Nam. Nhưng cây kim trong bọc lâu ngày rồi cũng lòi ra, sự chỉ bị che dấu một thời chứ không thể dấu mãi được. Ngoài ra có thể nhìn con thì biệt cha và ngưôc lại (Tel père, tel fils). Hôm nay cứ nhìn đám Tàu Tập và đảng của nó thì biết ông cha của chúng:

Nhìn nay thì biết sự xưa

Bọn người Hán tộc là ưa nống, bành (1)

Hôm nay đảng Tập lưu manh

Diệt Mông, Mãn, Tạng cũng anh Tàu Phù (2)

1)    Nống, bành: Nống lấn, bành trướng

2)  Tàu Phù: Tàu Phù là bành trướng, phình ra. Chữ  “phù” có trong từ “phù thũng”. Tàu Phù là Tàu mang lấy tính con Khảm 010 là tính bung ra, bành trướng. xâm lược

Cảm ơn qúi vị đã bỏ tời gian ra đọc

San Jose, 15/ 9/2020. NVN.

Email: nguyenvietmho1943@yahoo.com

FB: Việt Nho Nguyễn

Biên khảo về cuộc đời hoạt động của sĩ phu yêu nước – Nhà văn Phan Khôi

Tôn Nữ Thóc Nâu – Từ Califonia Hoa Kỳ

Hôm nay là ngày 22 tháng 11 năm 2019. Tôi, Tôn Nữ Thóc Nâu thuộc thế hệ 40-50 của thế kỷ trước muốn ngược dòng thời gian quay nhìn vào quá khứ của dân tộc tôi để tìm hiểu xem ngày đó cách đây hơn 100 năm trong lịch sử văn học của dân tộc tôi đã xảy ra những sự kiện gì và những sĩ phu trí thức và tri thức Bắc hà đã có những hành xử như thế nào trước những áp bức và bất công của xã hội thời bấy giờ. Tôi xin gởi đến Institute for Viet-Us and Globalization Studies ( Viện Nghiên Cứu Việt – Mỹ và Toàn Cầu Hoá ) bài sưu tầm về cuộc đời của nhà văn Phan Khôi của những năm đầu của thế kỷ 20 trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm

Nhà Văn Phan Khôi

 Ngày nay một phần tác phẩm Phan Khôi đã được in lại, nhưng cuộc đời thực của ông vẫn chưa được soi tỏ. Hệ thống xuyên tạc và bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ đã tạo cho quần chúng sự e ngại khi nhắc đến tên ông, nỗi hoài nghi về con đường tranh đấu của ông. Chúng tôi cố gắng tìm lại cuộc đời đích thực của Phan Khôi, ưu tiên qua những điều do chính ông viết ra, lượm lặt trong các truyện ký, truyện ngắn như: Lịch sử tóc ngắn, Chuyện bà cố tôi, Bạch Thái công ty thơ ký viên, Đi học đi thi, Ông Bình Vôi, Ông Năm Chuột và bài trả lời phỏng vấn, do bà Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh) viết lại, năm 1936. Những tài liệu của gia đình như Phan Khôi niên biểu của Phan Cừ, Phan An (Chương Dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996) và Nhớ cha tôi (Đà Nẵng, 2001) của Phan Thị Mỹ Khanh, về niên biểu, cũng phỏng chừng, nhiều sự kiện trước sau lẫn lộn, có chỗ viết sai. Những bài đánh Phan Khôi của Nguyễn Công Hoan, Đào Vũ… dù rất nhơ bẩn, nhưng có vài chi tiết dùng được, bởi những người này đã có dịp gần Phan Khôi trong 9 năm kháng chiến, nghe ông kể nhiều chuyện rồi xuyên tạc đi, để buộc ông tội phản quốc.

Tóm tắt tiểu sử và niên biểu: Nhà văn Phan Khôi sinh ngày  6/10/1887 (20/8/Đinh Hợi) tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mất: 16/1/1959 tại Hà Nội. Cha: Phan Trân. Mẹ: Hoàng Thị Lệ, con gái tổng đốc Hoàng Diệu. Bút hiệu: Chương Dân, Khải Minh Tử, Tân Việt (chung với Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Bá), Thông Reo (chung với Nguyễn An Ninh), Tú Sơn (phiên âm chữ Tout Seul-Một Mình, để nhại Tú Mỡ)… Riêng trên báo Sông Hương (1936-1937), có hơn 10 tên khác nhau: Phan Khôi, Sông Hương, Ngự Sử, Phan Nhưng, Tú Vườn, Bê Ca, K, PK, TV, … chắc chắn là Phan Khôi; còn TT, TM, PTT… có thể cũng là Phan Khôi. Vì vậy việc xác định văn bản Phan Khôi không dễ dàng. 1906, đỗ tú tài Hán học (những nơi ghi 1905 là sai vì 1905 không có kỳ thi hương). 1906-1907: Bỏ khoa cử, học quốc ngữ và chữ Pháp (với Lê Thành Tài). Hoạt động trong phong trào Duy Tân. Theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, làm bài Vè cúp tóc. 16/2/1908 ra Hà Nội học tiếng Pháp ở trường Đông Kinh Nghiã Thục, nhưng tới nơi, trường đã bị đóng cửa. Lánh về Nam Định, học với Nguyễn Bá Học tại nhà ông, ở số 108, phố Hàng Rượu, được 3 tháng thì bị bắt giải về Quảng Nam. Bị tù 3 năm. Trong tù, làm bài Dân quạ đình công, tự học tiếng Pháp, nhờ thầy Ưng Điển (các con ông ghi Ưng Diễn) ra bài. 1911, ra tù. 1912, vào học trường dòng Pellerin ở Huế được vài tháng, bà nội mất, trở về làng chịu tang, rồi ở lại quê. 1913 kết hôn với Lương Thị Tuệ, quê huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, con Lương Thúc Kỳ, đỗ cử nhân 1900, làm quan tại Huế; sau dậy trường Dục Thanh (trường đầu tiên của phong trào Duy Tân, mở năm 1905 ở Phan Thiết). 1908, Lương Thúc Kỳ bị bắt, bị tù Côn Đảo tới 1917. Bà Lương Thị Tuệ có 8 con: Phan Thao, Phan Cừ, Phan Thị Hựu Khanh, Phan Thị Bang Khanh, một con trai chết lúc 10 tuổi (năm 1935), Phan Thị Mỹ Khanh, Phan Thị Tiểu Khanh, Phan Trản. Bà Nguyễn Thị Huệ, vợ thứ nhì, gặp tại Hà Nội, chung sống từ 1935, có ba con: Phan Nam Sinh, Phan Thị Thái, Phan Lang Sa (sau tự đổi tên thành Phan An Sa). 1913-1916 Phan Khôi mở trường dậy học chữ nho và quốc ngữ tại quê nhà. 1916 triều đình bỏ thi lối cũ (khoa thi hương cuối, ở Bắc: 1915 và ở Trung: 1918). Phan Khôi nghỉ dậy, trở lại trường học tiếng Pháp với thầy Lê Hiển (các con ông ghi Lê Hiên), cùng với học trò. Thái Phiên rủ tham gia kháng chiến vua Duy Tân, nhưng Phan không nhận. Lý do: không tin tưởng ở cách mạng bạo động, chọn con đường hoạt động văn hoá. 2/1918-5/1919, Nguyễn Bá Trác giới thiệu vào Nam Phong, viết bài quốc ngữ đầu tiên, trên Nam Phong số 8 (2/1918), khai trương mục Nam Âm thi thoại, diễn đàn phê bình thơ sớm nhất ở Việt Nam. Đi Huế với Phạm Quỳnh dự tế Nam Giao (19/3/1918 – 3/4/1918). 6/1919, bỏ Nam Phong vào Sài Gòn, viết cho Quốc dân diễn đàn; rồi Lục Tỉnh Tân Văn, ít lâu sau bị sa thải vì viết bài công kích một viên chức cao cấp Pháp sắp lên làm toàn quyền. Tháng 9/1919, trở về quê Quảng Nam.

Tháng 3/1920 ra Hải Phòng, làm thư ký cho Bạch Thái Bưởi (1/5/1920 đến 31/12/1920). Cuối 1920 ông nhận việc dịch Kinh Thánh (dịch toàn bộ Tân Ước và 1/3 Cựu Ước) trong 5 năm (1920-1925) từ bản Hán và Pháp văn ra quốc ngữ. 1921-1922, viết cho Thực Nghiệp dân báo và Hữu Thanh ở Hà Nội. 1922 vào Nam, có thể đã liên lạc và hoạt động với nhóm Nguyễn An Ninh, Dejean de la Bâtie, khi Nguyễn An Ninh từ Pháp về lập báo La Cloche fêlée (1923). 1922-1925: Xuống Cà Mau ẩn náu. Học tiếng Pháp qua thư từ với Dejean de la Bâtie. Tiếp tục dịch Kinh Thánh. 1925 Phan Châu Trinh từ Pháp về, giao cho Phan Khôi việc viết lại lịch sử đời ông. 24/3/1926 Phan Châu Trinh mất: Phan Khôi soạn bản Hiệu triệu quốc dân đi dự đám tang Phan Châu Trinh và viết Lịch sử Phan Châu Trinh. 1926-1928: Phan Khôi viết cho các báo Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Văn Học, ở Sài Gòn và Đông Tây ở Hà Nội. Tháng 5/1928, phê bình Trần Huy Liệu, đặt vấn đề Viết sử cho đúng trên Đông Pháp thời báo. 1929-1932: Thời kỳ hoạt động mạnh nhất, viết cho các báo Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn (PNTV), Trung Lập, ở Sài Gòn; Đông Tây, Phổ Thông, ở Hà Nội, đặt những vấn đề: 1929, Phê bình Khổng giáo trên Thần Chung. Nữ quyền và Viết tiếng Việt cho đúng trên PNTV. 1930, Khai sinh thể loại bút chiến văn học với Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trên PNTV. 1931, viết bài Cái cười của con rồng cháu tiên trên PNTV, phê bình cuốn Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh: đây là bài phê bình văn học đầu tiên viết theo lối hiện đại. Đầu năm 1932, công bố bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ và bài thơ Tình già, cả hai được coi là bản tuyên ngôn của Thơ mới, trên Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây, rồi PNTV. 1933 ra Hà Nội viết cho Thực Nghiệp và Phụ Nữ thời đàm. 1934 về Huế viết cho Phụ Nữ Tân Văn tái bản, rồi làm chủ bút báo Tràng An. 1936-1937: Lập báo Sông Hương tại Huế (1/8/1936-27/3/1937). Viết cho Hà Nội báo. Xuất bản Chương Dân thi thoại (1936). 1937-1941: Vào Sài Gòn dậy trường Chấn Thanh. Viết tiểu thuyết. In cuốn Trở vỏ lửa ra (1939). Viết báo Tao Đàn từ tháng 3/1939. 1940, viết cho Dân Báo. 1941 trường Chấn Thanh đóng cửa. Năm 1944, cha từ trần (theo Ông Năm Chuột). Phan Khôi về Quảng Nam ở đến 1946. 19/8/1945: Việt Minh cướp chính quyền. 2/3/46: Thành lập chính phủ liên hiệp. 6/3/1946: Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ với Pháp. Theo Nguyễn Công Hoan, tháng 6/1946, trong một buổi mít tinh ở Quảng Nam, Phan Khôi lên diễn đàn đả phá hiệp định sơ bộ. Phan Khôi được bầu làm Chủ nhiệm chi bộ Quảng Ngãi của Việt Nam Quốc dân đảng. Theo Hoàng Văn Chí: Cán bộ địa phương định phá hủy nhà thờ Hoàng Diệu, Phan Khôi cực lực phản đối, họ toan bắt Phan Khôi, nhưng nể Phan Thao con trai ông, là cán bộ cao cấp. Phan Khôi viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ liên hiệp) nhờ can thiệp. Hồ Chí Minh giải quyết khéo léo: viết thư mời Phan Khôi ra Hà Nội, nhưng giao cho người em họ là Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam, Ủy viên Trung ương đảng, Thứ trưởng bộ nội vụ), phụ trách việc quản thúc. Phan Khôi ra Hà Nội, nhưng không chịu ở nhà Phan Bôi, lên 80 Quan Thánh ở với Khái Hưng. Theo Nguyễn Công Hoan, đêm 12/7/1946, công an bao vây nhà Khái Hưng, Phan Khôi bị bắt tại đây. Theo Hoàng Văn Chí, sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Phan Bôi được lệnh đưa Phan Khôi lên Việt Bắc. Phan dịch sách và làm biên khảo. Theo Đào Vũ, nhà cửa, ruộng đất của gia đình Phan Khôi ở Điện Bàn bị “nhân dân” chiếm hữu sau cách mạng tháng Tám. 1954-55: Về Hà Nội, gặp lại vợ con từ Quảng Nam ra. Ở số 51 Trần Hưng Đạo. 1956: Lãnh đạo tinh thần phong trào NVGP. Làm chủ nhiệm báo Nhân Văn. 1957: Được cử đi Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 100 năm sinh Lỗ Tấn, có Tế Hanh đi cùng. 1958: Nhân Văn Giai Phẩm bị thanh trừng. Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, dọn về 10 Nguyễn Thượng Hiền, rồi 73 phố Thuốc Bắc. Phan Khôi mất ngày 16/1/1959. Chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện, phía đông Hà Nội. Trên mộ đề Chương Dân. Mộ phần bị “thất lạc” trong chiến tranh (theo gia đình). Bà cố dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn 1791, trước khi Gia Long lên ngôi 11 năm, tại làng Hoá Quê gần cửa Hàn, một người con gái ra đời. Đó là bà cố của Phan Khôi, người dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn. Phan Khôi viết: “Họ Phan chúng tôi, ông thỉ tổ nguyên ở Nghệ An vào lập làng tại Quảng Nam, kêu là Bảo An”. Làng Bảo An do ba họ Nguyễn, Ngô và Phan lập ra. Họ Phan từ khởi thủy đến đời ông cố Phan Khôi, vốn “nghèo hèn, dốt nát”. 1809, ông lấy bà cố, chung sống 15 năm, có 7 con thì ông mất; người con út (ông nội Phan Khôi) mới 2 tuổi. Bà cố buôn gánh ở Hội An, nuôi con trong 6 năm. Rồi bà tái giá, làm kế một ông Đội khá giả ở làng Hội Vực, nhưng bà ra điều kiện: phải để cho bà về nhà chồng trước trông nom con cái. Theo lời những người già trong làng, bà thường cưỡi ngựa đi từ làng Hội Vực về Bảo An hay ngược lại, đồ vật chất đầy trên cổ ngựa, nhờ vậy mà các con bà được ăn học. Sáu năm sau, ông Đội mất, bà đem 2 con với ông Đội về nuôi cùng 7 con đời chồng trước. Nhờ có vốn, bà mở đại lý buôn đường với tàu Khách ở Hội An, trở thành người phụ nữ đầu tiên có hãng xuất cảng đường và thành “cự phú”. Hai con trai bà, Hương Đạo và Bá Đức cũng giàu có tiếng trong vùng. Người con út, Phan Nhu (ông nội Phan Khôi) đậu cử nhân khoa Đinh Vị (1847), làm đến chức Án sát tỉnh Khánh Hoà thì bị cách chức. Dù có công lớn với gia đình, nhưng vì tội tái giá, nên sau khi mất (ở tuổi 73), bà không được chôn ở đất công của làng. Vì vậy, Phan Khôi đòi kiện cái luật cổ hủ của xã hội thời ấy. [Theo Chuyện bà cố tôi của Phan Khôi, Phụ Nữ Tân Văn, số 25 (17/10/1929), in lại trong sưu tập Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929 của Lại Nguyên Ân trang 228-234]. Từ bà cố, người phụ nữ độc lập, cưỡi ngựa nhảy qua hàng rào lễ giáo cổ hủ đầu thế kỷ XIX để xác định nữ quyền, nuôi chín con, lập sự nghiệp “tỷ phú”. Đến người cháu, học giả phản biện, lãnh đạo tinh thần phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, là một dòng máu dân chủ và tự chủ nối dài. Phan Khôi đấu tranh cho quyền làm người của phụ nữ, ngay từ thập niên 30 của thế kỷ trước, khi Simone de Beauvoir, mẹ đẻ nữ quyền thế giới, chưa xuất hiện trên văn đàn. Đó là đặc điểm của Phan Khôi: tiên phong và phản biện trong nhiều lãnh vực tư tưởng. Như trên đã nói: Ông nội Phan Khôi là Phan Nhu, đỗ cử nhân khoa Đinh Vị (1947), làm đến chức Án Sát tỉnh Khánh Hoà thì bị cách chức. Cha là Phan Trân (1862-1944), đậu phó bảng, làm tri phủ Diên Khánh, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ. Năm 37 tuổi (1899), ông cáo bệnh từ quan, lúc đó Phan Khôi 12 tuổi. Phan Khôi chỉ có một người em gái (gia đình gọi là cô Ba), bà là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư và là mẹ của Hằng Phương (vợ Vũ Ngọc Phan), Hằng Phân (vợ Hoàng Văn Chí) và Hằng Huân (vợ tướng Nguyễn Sơn). Phan Khôi có người chú ruột là Phan Định, cha của Phan Thanh và Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam). Phan Nhu và Phan Trân Nhờ loạt bài Đi học đi thi (Ký ức lục của một vị lão Nho), ký Tú Vườn, trên Sông Hương 1937 (từ số 23 đến 30), chúng ta biết thêm về Phan Nhu, Phan Trân và Trần Quý Cáp (sẽ nói đến sau). Trong bài ký này, Phan “hư cấu” ra nhân vật lão Nho (ra đời khoảng 1875) để mô tả chân dung Trần Quý Cáp và kể lại những chuyện trước khi Phan ra đời (1887), nói lên hoàn cảnh u uất của sĩ phu khi mất nước và sự bất đồng tư tưởng trong gia đình họ Phan, từ đời ông, đời cha: Kinh thành thất thủ [ngày 23/4 Ất Dậu (5/6/1885)], vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, phong trào cần vương ở Quảng Nam nổi lên rầm rộ trong ba năm từ khi vua xuất bôn đến khi vua bị bắt [ngày 26/9 Mậu tý (30/10/1888)]. Phan Nhu cũng muốn tham dự phong trào cần vương, nhưng Phan Trân khuyên cha không nên vì biết không chống nổi Tây, “ông tôi ban đầu còn chưa chịu nghe, sau thầy tôi can mãi, nhiều khi đến nói mà vừa lạy vừa khóc, ông tôi mới thôi”. Nhưng thời ấy, không theo nghiã đoàn thì có thể bị hại, nên hai cha con phải đem nhau đi trốn. “Có một lần, chúng tôi ở trong một chiếc ghe, đậu bên gành núi. Đương đêm, vừa mưa vừa gió, trời tối đen như mực, ông tôi thức dậy, đốt đèn ngồi một mình rồi không biết vì nghĩ thế nào mà ông tôi khóc oà lên, trong lúc khóc, ông tôi kể lể nhiều lắm: Chốc lại kêu Hoàng thượng, chốc lại kêu Phu tử (…) Về sau, tôi mới đoán ra rằng lúc đó ông tôi kêu Hoàng thượng là chỉ đức Hàm Nghi, còn Phu tử là đức Khổng Tử”. Phan Nhu, tuy bị cách chức tổng đốc, nhưng vẫn một mực thờ vua và Khổng tử, vẫn tiếp tục bắt con cháu phải học để làm quan. Phan Trân muốn theo con đường duy tân, nhưng không dám trái ý cha, “Sau khi loạn yên, thầy tôi “thưa đơn tòng chánh” và ra làm quan là cũng bởi cực chẳng đã mà phải vâng lời ông tôi, nếu không thì ông tôi giận”. Ra làm quan, tất phải đụng chạm với Pháp: “Lúc ở Hải Phòng, gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm phán sự toà sứ Nha Trang, thầy tôi làm Tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn” (Ông Năm Chuột). Và sau cùng Phan Trân đã phải từ chức. Sau này, trong khoảng từ 1911 đến 1917 (sau khi đi tù về), Phan Khôi muốn bỏ nhà đi theo chí hướng của mình, nhưng cũng lại bị cha cản trở, và ông cũng phải vâng lời. Vì vậy, Phan viết: “Làm con khác với làm người. Nhiều khi làm con không phải làm người! Thành thử trước mặt những người cha có học thức, chẳng cứ cái học thức ấy thế nào, thường thường cái tư cách làm người của những người con phải bị chôn đi. Thương hại cho thầy tôi, suốt đời ở vào cái hoàn cảnh đó!” (Đi học đi thi). Bi kịch cha con thời Khổng Mạnh đã khiến sau này, Phan Khôi chống Tống Nho một cách quyết liệt. Và cũng vì thế mà ông để các con Phan Thao, Phan Cừ, tự do theo Cộng sản, đi con đường trái ngược với tư tưởng của ông. Tinh thần bất khuất từ nhỏ Thủa nhỏ Phan học chữ nho và chịu ảnh hưởng ông nội nhiều hơn cha. Năm lên bảy, mẹ qua đời. Khi cha đi nhậm chức tri phủ Diên Khánh, gửi Phan về bên ngoại cho người cậu làm tri phủ, là con cả Tổng đốc Hoàng Diệu trông nom. Ông phủ mướn thày dạy học con trai và Phan Khôi, nhưng ít lâu sau, Phan xin cha cho học nơi khác. Tại sao? Phan không nói rõ. Nhưng sau này qua lời Ông Năm Chuột, Phan gián tiếp cho biết: Ông ngoại (Tổng đốc Hoàng Diệu) hết sức thanh liêm, làm Tổng đốc mà không có tiền lợp lại mái nhà (do ông bà để lại) đã tróc ngói. Người cậu làm tri phủ ba năm đã mua được mươi mẫu ruộng. Ông ngoại đánh Pháp, tuẫn tiết mà chết. Người cậu theo Pháp đàn áp nghiã quân. Điều này chứng tỏ: từ lúc 8 tuổi, Phan đã nhìn rõ hành động của người cậu tri phủ, và đó chính là lý do khiến Phan xin cha cho học chỗ khác. Phan Trân gửi con cho Trần Quý Cáp. Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 9 tuổi đến 19 tuổi. Trần Quý Cáp là người thầy tiếp tục vun xới tinh thần ái quốc ở Phan Khôi. Trong Đi học đi thi, Phan Khôi viết: “Tôi từ nhỏ có tư bẩm thông minh lạ. Lên 13 tuổi đã “cụ thể tam trương”: Nghiã là về lối văn khoa cử, kinh nghiã ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba tôi đều làm được cả trong tuổi ấy. Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hy vọng vào tôi nhiều lắm. Ông nội tôi sống đến năm tôi 16 tuổi, đi thi khoa đầu, hỏng trường nhất, rồi người mới mất”. – 16 tuổi, Phan Khôi đi thi lần đầu (khoa 1903) hỏng trường nhất. – 19 tuổi (1906), thi lần thứ nhì, chỉ đậu tú tài. Phan Khôi tức giận lắm. Bởi từ khoa Giáp Ngọ (1894) trở đi, các học quan bắt đầu ăn đút lót, chấm gian, và đến khoa Bính Ngọ (1906) thì bị kiện. Phan Khôi viết: “Tôi là một kẻ đứng đơn với bọn Dương Thưởng kiện sự “thủ sĩ bất công” hồi khoa Ngọ, tôi đã làm cho mấy ông quan trường bị giáng bị cách thì tôi còn sợ gì mà chối?” Vì vụ kiện này mà những kỳ thi sau, chính phủ bảo hộ phái người vào kiểm soát. Và đó cũng là một trong những lý do tại sao Phan Khôi bỏ lối học khoa cử. Ngoài ra Phan còn cho biết: Nguyễn Bá Trác (1881-1945) đi thi năm Bính Ngọ (1906) không phải để đỗ, mà để làm bài thuê, kiếm tiền cho phong trào Đông du, rút cục lại đỗ cử nhân. Chính Nguyễn Bá Trác đã rủ Phan Khôi bỏ học. Phan học tiếng Pháp với Phan Thành Tài tại trường Diên Phong (trường đầu tiên của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam). Sau Phan Thành Tài tham gia cuộc chính biến vua Duy Tân (1916), bị xử tử. Năm 1906, đánh dấu ngõ quặt quan trọng trong cuộc cách mạng duy tân và cuộc đời Phan Khôi: bỏ học, theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, cổ động cắt tóc và làm bài Vè cúp tóc.   1906: cắt tóc và làm vè cúp tóc Việc cắt tóc và mặc âu phục do Phan Châu Trinh chủ trương năm 1906, là một hành động duy tân và phản kháng: chống cổ hủ. Hai năm sau, khi vụ biểu tình chống thuế xẩy ra (còn gọi là Trung Kỳ dân biến, 1908), chính quyền bèn kết hợp: việc cúp tóc với việc biểu tình chống thuế, thành hành động nổi loạn, chống lại nhà cầm quyền. Trong bài tự truyện Lịch sử tóc ngắn đăng trên báo Ngày Nay năm 1939, Phan Khôi kể lại đầy đủ các chi tiết: Từ 1906 trở về trước, đàn ông Việt vẫn để tóc dài rồi búi lại đằng sau ót thành một cái đùm. Ngoài Bắc thì đàn bà vấn tóc, còn từ Huế trở vào, đàn bà cũng búi tóc, thành thử nhìn sau lưng có thể lẫn lộn đàn bà với đàn ông. Giữa lúc toàn dân đang còn để tóc dài, thì vua Thành Thái đã cắt tóc ngắn, mặc đồ Tây và ông bắt cận thần phải cắt tóc. Năm 1905, vua ngự giá vào Quảng Nam, bị dân chúng chế nhạo. Năm sau, phong trào cắt tóc được Phan Châu Trinh phát động: “Mùa đông năm 1906, thình lình ông Phan Châu Trinh đi với ông Nguyễn Bá Trác đến nhà tôi. Đã biết tin ông Phan mới ở Nhật về, tiên quân tôi chào mừng một cách thân mật với câu bông đùa này:“Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc!” Bấy giờ tôi có mặt ở đó, câu ấy khiến tôi phải chú ý xem ngay đầu ông Phan. Thấy không đến trọc, nhưng là một mớ tóc ngắn bờm xờm trong vành khăn nhiễu quấn. Ở chơi nhà tôi ba hôm, lúc đi, ông Phan rủ tôi cùng đi sang làng Phong Thử, nơi hiệu buôn Diên Phong, là một cơ quan của các đồng chí chúng tôi lúc bấy giờ mới lập được mấy tháng. Tại đó, gặp thêm ông cử Mai Dị nữa, rồi bốn người chúng tôi cùng đi thuyền lên Gia Cốc, thăm ông Học Tổn (…) Giữa bữa cơm sáng đầu tiên, khi ai nấy đã có chén hoặc ít hoặc nhiều, ông Phan mở đầu câu chuyện, nói: − Người đời, nhất là bọn nhà nho chúng ta, hay có tánh rụt rè, không dám làm việc. Mỗi khi có việc đáng làm, họ thường tìm cớ trách trút, có khi họ nói: Việc nhỏ, không xứng đáng. Trong ý họ, đợi đến việc lớn kia. Nhưng nếu họ đã có ý không muốn làm thì đối với họ việc nào cũng sẽ là nhỏ cả, thành thử cả đời họ không có việc mà làm!… Ông Phan lúc đó gặp ai cũng hay diễn thuyết. Những câu chuyện luân lý khô khan như thế, mấy hôm nay ông đem nói với bọn tôi hoài, thành thử khi nghe mấy lời trên đó của ông, không ai để ý cho lắm, cứ tưởng là ông phiếm luận. Thong thả, ông nói tiếp: − Nếu lấy bề ngoài mà đoán một người là khai thống hay hủ lậu thì trong đám chúng ta ngồi đây duy có ba anh − vừa nói ông vừa chỉ ông Trác, ông Dị và tôi − là hủ lậu hơn hết, vì ba anh còn có cái đùm tóc như đàn bà. Cả mâm đều cười hé môi. Ba chúng tôi bẽn lẽn. Ông Phan lại nói: − Nào! Thử “cúp” đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì! Câu sau đó, ông nói với giọng rất nghiêm, như muốn gây với chúng tôi vậy. Ông Mai Dị đỏ mặt tía tai: − Ừ thì cúp chứ sợ chi! − Thì sợ chi! − Thì sợ chi! Ông Trác rồi đến tôi lần lượt phù họa theo (…) Ông Mai Dị được hớt trước rồi đến hai chúng tôi. Mỗi người đều đầy ý quả quyết và tin nhau lắm, chẳng hề sợ ai nửa chừng thoái thác (…) Ở Gia Cốc về, chúng tôi chưa về nhà vội, còn định trú lại Diên Phong mấy ngày. Ở đó, chúng tôi yêu cầu các ông Phan Thúc Duyện, Phan Thành Tài, Lê Dư cũng làm như chúng tôi; luôn với năm, sáu mươi vừa người làm công, vừa học trò, đều cúp trong một ngày. Rồi hễ có vị thân sĩ nào đến chơi là chúng tôi cao hứng lên diễn thuyết, cổ động, khuyến họ cúp thảy cả. Trong số đó có ông tiến sĩ Trần Quý Cáp, thầy chúng tôi và các ông tú Hữu, tú Bân, tú Nhự, còn nhiều không kể hết. Ít hôm sau, ông Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Đông ra, cũng cúp tại đó, chính tay ông Lê Dư cầm kéo hớt cho ông Huỳnh dù ông Lê chưa hề biết qua nghề hớt là gì. Hôm ở Diên Phong về nhà, tôi phải viện ông Lê Dư đi về với. Thấy hai chúng tôi, cả nhà ai nấy dửng dưng. – Trước tôi mảng tưởng về nhà chắc bị quở dữ lắm, nhưng không, thầy tôi tảng lờ đi, bà tôi càng lạnh lùng hơn nữa, chỉ ba chặp lại nhìn cái đầu tôi mà chặc lưỡi. Dò xem ý bà tôi, hẳn cho rằng tôi đã ra như thế là quá lắm, không còn chỗ nói! (…) Qua đầu năm 1907 giở đi, thôi thì cả tỉnh nơi nào cũng có những bạn đồng chí về việc ấy (…) Lúc này không còn phải cổ động nữa, mà hàng ngày có những người ở đâu không biết, mang cái búi tóc to tướng đến xin hớt cho mình. Bởi một ý đùa, tôi đặt một bài ca dao cho Đoan để mỗi khi hớt cho ai thì ca theo nhịp đó: “Tay trái cầm lược, Tay mặt cầm kéo, Cúp hè! Cúp hè! Thẳng thẳng cho khéo! Bỏ cái hèn mầy, Bỏ cái dại mầy, Cho khôn, cho mạnh, Ở với ông Tây!” v.v… “Giữa lúc đó có lời phao đồn ở Diên Phong, chúng tôi hay cưỡng bách người ta hớt tóc, đến nỗi khuyên không nghe mà rồi đè xuống cắt đi, thì thật là thất thực, không hề có thế bao giờ. Sự cưỡng bách ấy nếu là có trong vụ “xin xâu” năm 1908, do những kẻ cầm đầu đoàn dân thi hành. Tôi vắng mặt trong vụ ấy, nhưng sau nghe nói lại rằng mỗi một đoàn dân kéo đi, giữa đường nếu có ai xin gia nhập thì đều buộc phải hớt tóc; hoặc khi đoàn dân nghỉ ở một cái chợ thì người cầm đầu đứng ra diễn thuyết, bắt đàn ông trong chợ đều phải hớt tóc rồi mới cho nhập bọn đi theo mình. Cũng nhờ vậy mà sau vụ này, thấy số người tóc ngắn tăng giá lên rất nhiều. Hớt tóc cũng là một cớ buộc tội trong vụ án năm 1908 ở mấy tỉnh Trung Kỳ. Làm người không có việc gì cả, chỉ đã hớt tóc mà cũng bị ghép vào mặt luật bất ưng vi trọng, phải 18 tháng tù. Lại, cuộc phiến loạn năm 1908 ấy, trong các ký tài của người Pháp cũng gọi là “cuộc phiến loạn của đảng hớt tóc” (Révolte des cheveux tondus). Xem đó đủ thấy hớt tóc ở thời đại ấy bị coi là nghiêm trọng dường nào”. (Trích Lịch sử tóc ngắn, Tự truyện của Phan Khôi, Ngày Nay số 149, 15/2/1939). 1908: Trung Kỳ dân biến- Phan Khôi bị bắt, bị tù 3 năm Việc Phan Khôi ra Hà Nội nằm trong chương trình hành động của nhóm Duy Tân Quảng Nam: gửi học trò ra Bắc học tiếng Pháp ở trường Đông Kinh Nghiã Thục. Phan Châu Trinh xác định có hơn 10 người ở Quảng Nam được gửi ra Hà Nội học tiếng Pháp, trong đó có Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Mai Dị… Theo tài liệu mật thám, tháng 10/1907, Phan Châu Trinh ra Hà Nội, mang tiền quyên được ở Quảng Nam ra Bắc. Tháng 2/1908, (nhiều tài liệu ghi tháng giêng vì không đổi ngày ta qua ngày tây) Trần Quý Cáp – đang làm Giáo thọ ở Thăng Bình – bị đổi đi Ninh Hoà. Hai thầy trò gặp nhau trước khi lên đường. Ngày 16/2/1908, Phan Khôi đi Hà Nội. Khi Phan Khôi và các bạn ra đến Hà Nội thì Đông Kinh nghiã thục đã bị rút giấy phép. Xin nhắc lại: trường khai giảng tháng 3/1907. Tháng 5/1907 chính thức được phép. Tháng 1/1908, giấy phép bị thu hồi. Ban giám đốc phải thủ tiêu hết sách vở chứng từ, cụ Phương Sơn đốt trọn ba đêm mới hết. Pháp bắt những người cầm đầu; bổ một số người ôn hoà vào ty giáo huấn, chức huấn thụ (dậy học) hoặc đi tri huyện, có người không nhận. Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn bị bắt, bị dẫn vào Hà Đông, nhưng chỉ bị giam một ngày rồi được thả, có lẽ vì Hoàng Trọng Phu biết họ không chủ trương bạo động (theo Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghiã Thục, chương XI). Việc đổi Trần Quý Cáp vào Khánh Hoà nằm trong chủ trương khủng bố của nhà cầm quyền: đóng cửa Đông kinh nghĩa thục và Đăng cổ tùng báo. Phân tán lực lượng Duy Tân. Tháng 3/1908 (nhiều nơi ghi tháng 2, vì không đổi ngày ta sang ngày tây), mới bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến: đây là cuộc biểu tình chống thuế đầu tiên, bắt đầu ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam rồi lan rộng khắp miền Trung. Trần Quý Cáp bị bắt tại Khánh Hoà, bị xử tử ngày 15/6/1908 (17/5/Mậu thân). Huỳnh Thúc Kháng bị bắt ở Quảng Nam. Phan Châu Trinh bị bắt ngày 2/3/1908 tại Hà Nội. Ngô Đức Kế bị bắt từ 1907, đến 1908 bị đày Côn Đảo cùng với những người khác. Các thanh niên Quảng Nam được gửi ra Hà Nội học Đông Kinh Nghiã Thục, tới nơi thì trường đã bị đóng cửa, bèn chạy về Nam Định, học tiếng Pháp với Nguyễn Bá Học. Phan Khôi bị bắt giải về Quảng Nam. Nguyễn Bá Trác trốn ở trong Nam một năm rồi chạy qua Thái Lan, Nhật và Tàu. Sở Cuồng Lê Dư có lẽ đã đi Nhật từ trước, sau sang Tàu… Số phận những người bị bắt hoặc đi trốn 1- Trong bản hỏi cung số 24, phiên xử ngày 12/7/1908, Phan Khôi khai: “Ngày 15 tháng 1 năm nay (16/2/1908), khi tôi xuống Đà Nẵng để ra Hà Nội học, tôi đã gặp thày giáo cũ của tôi là ông Trần Quý Cáp (Giáo thọ) đang đi đến nhận nhiệm sở mới. Ông nhờ tôi nếu tôi gặp ông Phan Châu Trinh thì nói với ông ấy xem có thể tìm giúp cho ông một chỗ làm trong thư viện hay trong một toà báo và viết thư báo cho ông ấy biết. Đến Hà Nội, tôi có gặp Phan Châu Trinh và tôi nhắc lại điều ông Trần Quý Cáp đã dặn. Sau đó, tôi nhờ ông nếu có viết thư cho ông Trần Quý Cáp thì xin ông ghi ở cuối thư rằng tôi đã tới Hà Nội an toàn. Sau đó, tôi đi Nam Định để học tiếng Pháp. Tôi không hề viết thư cho thày giáo cũ của tôi, ông Trần Quý Cáp. Đoạn thư có liên quan tới tôi mà người ta thấy trong bức thư đó chắc hẳn là do ông Phan Châu Trinh viết. Vả chăng, từ khi tôi từ biệt ông để đi Nam Định, tôi không còn gặp ông nữa. Do đó, tôi không biết chính xác là ông có viết thư cho ông Trần Quý Cáp hay không” (tài liệu của Lê Thị Kinh, in lại trong Nhớ cha tôi Phan Khôi của Phan Thị Mỹ Khanh, Đà Nẵng, 2001, trang 282). 2- Về việc Phan Khôi bị bắt, Phan Thị Nga phỏng vấn Phan Khôi, viết lại như sau: “Ông xuống Nam Định học với ông Nguyễn Bá Học, gặp thầy hay, ông thấy sức học mình tấn tới, nhưng rủi mới học được ba tháng ông lại bị bắt giải về Quảng. Người ta kết án ông. Ông Phan Thành Tài người Quảng Nam (Bảo An Tây) trước làm phán toà sau về dạy học can vào việc vua Duy Tân, bị xử tử” (Phan Thị Nga, Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta, Hà Nội báo, số 10, 11/3/1936). 1916, cuộc khởi nghiã Duy Tân thất bại, Phan Thành Tài bị xử tử. 3- Về việc chạy trốn, Nguyễn Bá Trác viết: “Kể từ năm 1908 bước chân ra đi, đến năm 1914, trở về Sài Gòn giữa ngày tháng 8 (…) Loanh quanh trong nước mất một năm, tạm trọ Xiêm La hơn mười ngày, khách qua Nhật Bản hơn một tháng, rồi lại sang Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn: như Ba Thục miền Tây, U-Yên đất Bắc, Quế Việt cõi Nam, đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa (…) Ngày tháng giêng năm 1908, tôi cùng mấy người bạn ra chơi Bắc Kỳ, định ở lại Nam Định mà học. Đến tháng 3 nhân việc ngăn trở, phải đáp tàu về Đà Nẵng (Tourane). Khi về đến nơi không tiện lên bờ, bèn chạy thẳng vào Quy Nhơn. Đến đấy đổ bộ đi xuyên sơn vào Phú Yên, lẩn lút trong chừng 8, 9 tháng. Ngày 24 tháng chạp năm ấy, mới đáp mành vào Nam Kỳ. Từ cửa bể Xuân Đài mà ra khơi. Đến ngày 7 tháng giêng năm 1909, tới Mỹ Tho, lần vào Bến Tre, đến làng Tân Hướng tìm chỗ ngồi bảo trẻ. Ngày tháng tư năm ấy, nhân theo bạn lên Sài Gòn mua sách vở. Đêm nằm nhà trọ nghe người một bên nói chuyện đi Xiêm, nghe lỏm được kỳ tầu và cách đi, bèn xuống tầu mà châm chước với một người thủy thủ. Được người ấy chịu lời rồi đêm mồng ba tháng tư xuống tầu mà làm khách xuất dương từ đấy” [trích Hạn mạn du ký (Bài ký của người đi chơi phiếm) của Nguyễn Bá Trác, nguyên tác chữ Hán, dịch in trên Nam Phong số 19 tháng 11/1919]. Hạn mạn du ký là một áng văn hay, một tư liệu quý về số phận những thanh niên theo Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, như Lê Dư, Nguyễn Bá Trác, trong vụ khủng bố 1908 phải chạy trốn: sang Nhật. Nhật đuổi. Sang Tàu. Cuối cùng, nhớ nước, phải quay về đầu thú. 4- Bản án số 9, ngày 3/8 năm Duy Tân thứ hai (29/8/1908), có đoạn liên quan đến Phan Khôi, như sau: “Trương Huy, Lê Dư càn quấy diễn thuyết mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại; Mai Dị, Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi không xin phép, tự tiện đi Bắc Kỳ, dịch phục cải trang [mặc âu phục] (…) Xét tình đó, thì tự Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng xướng xuất, mà bọn này là phụ họa đấy thôi. (…) Lê Dư, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Đặng Huyên, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ, xin đều xử trượng 100, đồ 3 năm. Tựu trung Nguyễn Bá Trác tại đào, xin nên gia đẳng xử trượng 100, đày 2000 dặm, chờ bắt được, chiếu án thi hành.” (Trích châu bản số 9, triều Duy Tân, Nguyễn Thế Anh, Cuộc kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân, Văn Vĩ dịch, Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên xuất bản tại Sài gòn 1973, in lại trong Phong trào Duy Tân, Nguyễn Q. Thắng, Văn hoá thông tin, 2006, trang 671-674). 5- Phan Châu Trinh viết: “Ông cử nhân Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi, Nguyễn Mai, cùng bạn học hơn 10 người ra Hà Nội học tập Pháp văn; sau vụ dân biến, đều đánh điện sức về hết. Bạn đồng học năm, sáu người tuân lệnh về làng; tức thì bị bắt làm án. Ông cử nhân ấy sợ trốn ra ngoại quốc, nghe nói cha ông ta bị bắt giam, bức bách đủ cách, nhà ông trước cũng khá giàu, nay thì đã nghèo xơ xác, mà cái lệnh bắt bớ đến nay [1911] cũng chưa đình, như vậy thì không khác gì đẩy người ta ra ngoại quốc vậy. Bà con của thân sĩ Quảng Nam và những người vô tội bị bắt giam đánh khảo, nhiều không kể siết, án tù khổ sai từ 2 tháng đến 3 năm ước hơn trăm.” (Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký, bản dịch Nguyễn Q. Thắng và Lê Ấm, in trong Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Văn Học, 1992, trang 321-322). 6- Kết toán các sự kiện: Phan Khôi bị bắt khoảng tháng 6/1908 ở Nam Định (Phan ra Hà Nội giữa tháng 2, xuống Nam Định học với Nguyễn Bá Học được ba tháng thì bị bắt). Theo bản án triều Duy Tân ngày 29/8/1908, Phan Khôi bị đánh 100 gậy và bị tù 3 năm, vì tội “tự tiện đi Bắc Kỳ không xin phép, và mặc đồ Tây”. Sau khi ra tù Phan Khôi còn bị quản thúc khá lâu: “Ra tù từ năm 1911, cho đến năm 1917, chẳng có cơ hội nào cho mình vượt khỏi cổng làng. Điều ấy, tự tôi lấy làm uất ức đã đành, mà tiên quân tôi, người lại còn lo cho tôi hơn nữa. Muốn ra đi, cái chí của tôi ở chỗ khác; nhưng thầy tôi thì chỉ mong làm sao cho tôi có đường xoay xở hầu mau thoát cái lốt tù” (Bạch Thái Công Ty thơ ký viên, Dân báo, Sàigòn, số 201, số Tết 1940, tài liệu Lại Nguyên Ân). 7- Về sự kiện này, Nguyễn Công Hoan đã xuyên tạc Phan Khôi bằng những dòng như sau: “Trong những người bị bắt, người thì bị tử hình, người thì bị chung thân khổ sai, hoặc hai mươi năm, mười năm, không rõ Phan Khôi đã khai báo như thế nào, hắn chỉ bị giam một thời gian ngắn” (Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14). Người thầy đầu tiên: Trần Quý Cáp Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 1896 đến 1906. Trần Quý Cáp (1870-1908), tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904), Huỳnh Thúc Kháng đậu hoàng giáp cùng khoa, và Phan Châu Trinh, đậu phó bảng (1901), là ba nhà lãnh đạo Duy Tân. Sau khi đỗ đạt, năm 1905, ba ông rủ nhau đi Nam và phát động phong trào Duy Tân: chủ trương bài xích cử nghiệp, đề xướng tân học. Trong ba người, Trần Quý Cáp nguy hiểm hơn cả, bởi ông trực tiếp dậy học, hướng dẫn tư tưởng thanh thiếu niên. Học trò Trần Quý Cáp có đến nhiều ngàn người. Phan Khôi, sau khi mẹ mất, được cha gửi đi trọ học trường Trần Quý Cáp, thôn Thái La, làng Bất Nhị, trong 10 năm, từ 9 đến 19 tuổi. Phan tả lại cảnh trường như sau: “Ở trong một xóm cuối làng, dân cư lơ thơ, nhà ở xen với những đám ruộng thổ, một nếp nhà tranh đôi khi ở trong rừng miá rậm, ấy là nhà của thầy tôi và cũng là trường học đó. (…) Thầy tôi là trang quân tử thanh bần, thiên hạ đều biết, quân trộm cướp cũng đã thấy mà chê rồi, nên dù ở đó cũng chẳng ngại chi. Còn một lẽ nữa là cái cảnh tĩnh mịch đìu hiu lại rất lợi cho sự học. Cái nhà ba gian hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò” (Đi học đi thi). Khoảng 1889-1896, học trò đông nhất, hàng ngày đến “nghe sách” có đến trăm rưởi, hai trăm. Người không đến nghe, chỉ nộp bài, cũng tám chục, một trăm. Mỗi kỳ khảo hạch, thầy phải chấm ba trăm quyển. Học trò đến từ các nơi, có khi cả Phú Yên, Bình Định nghe tiếng trường lớn cũng ra học. Phan Khôi viết: “Thầy bước lên thì ngồi đó [ván cao kê giữa nhà], quay mặt ra phía ghế xuân ý [ghế để nghiên son bút son], coi rất nghiêm, vì bao giờ cũng khăn đen áo rộng. Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh thi, truyện Luận ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh dịch, truyện Mạnh tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp. Thầy ngồi yên rồi, dưới nầy một trò nào chẳng hạn, chiếu theo ngay mà mở ba cuốn sách, nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý, trước mặt thầy. Đọc đi! Thầy truyền. (…) Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghiã.” Về “lương bổng” của thầy: “thầy đối với chúng tôi như chẳng thèm kể đến công dậy dỗ. Mỗi một năm hai lễ tết, đoan dương [đoan ngọ] và chánh đán [nguyên đán], trò nào đi bao nhiêu thì đi, thầy chẳng hề nói ít nhiều (…) Vì vậy nên một trường lớn như trường thầy tôi mà mỗi lễ tết, thầy thâu vào không đầy trăm bạc”. (Đi học đi thi). Năm 1906, Trần Quý Cáp được bổ chức Giáo Thọ (quan trông việc học ở một phủ) phủ Thăng Bình. Ban đầu ông không nhận, nhưng vì cảnh mẹ già, nghèo túng, và các bạn khuyên, ông nhận. Huỳnh Thúc Kháng viết: “Khi tới trường, tiên sinh mời thầy chữ Tây về dậy chữ quốc ngữ và chữ Tây, làm cho phong khí tỉnh nhà được mở mới, như Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình. (…). Vì thế Tiên sinh thành ra tấm bia cho phái cựu học nhắm vào”. [Tiểu sử Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết ngày 20/2/Mậu Dần (21/3/1938), bản dịch của báo Minh Tân số 63, năm 1959, in lại trong Trần Quý Cáp của Lam Giang, Đông A, Sài Gòn, 1971, trang 10-16)]. Rồi Trần Quý Cáp viết bài Sĩ phu tự trị luận công kích đám “trung đẳng sĩ phu”. Vì thế, tháng 1/1908, ông bị đổi vào Ninh Hoà. Tháng 3/1908, bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến. “Tiên sinh tuy đã vào miền Nam, nhưng vì cớ lãnh tụ phái tân học, lại đề xướng dân quyền tự do, cũng như cụ Tây Hồ vậy, làm cho nhà đương đạo Khánh Hoà chú mục, kiểm soát thư từ ra vào thấy có đôi câu cho là chủ động, kết án “Mạc tu hữu” [xử tội chẳng cần án]. Tiên sinh lên đoạn đầu đài, thật là thê thảm! Trong lịch sử huyết lệ, Tiên sinh là người thứ nhất!” Huỳnh Thúc Kháng ghi rõ ngày 17/5 Mậu Thân (tức ngày 15/6/1908), Trần Quý Cáp bị xử tử tại Nha Trang. Phan Châu Trinh viết: “Không ngờ quan Pháp và quan Nam tỉnh ấy, dụng tâm ám hiểm, bắt ông giáo thọ ấy và giam không đầy một ngày một đêm, không xét hỏi gì, liền kết án xử tử, lập tức đem chém tại chỗ. Nghe nói đích xác là mới đầu, quan tỉnh là Phạm Ngọc Quát xử án “lăng trì” [cắt từng miếng thịt], rồi sau đổi ra “trảm quyết” (chém ngay). Chém được một giờ, thì được dây thép quan toàn quyền sức giải đi Côn Lôn, nhưng mà đã giết chết rồi, không làm sao sống lại được!” (Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký, bản dịch của Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Ấm, sđd, trang 311). Phan Bội Châu viết: “Nhớ khi ông ra tới trường chém, dao đã kề cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm, cho đặt án đốt hương, áo mão nghiêm trang, bái tạ quốc dân ngũ bái, rồi khảng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách.” (Phan Bội Châu, Văn khóc cụ nghè Trần Quý Cáp, in trong Thi văn quốc cấm, Thái Bạch soạn, Sài Gòn, 1968, trang 390) Trần Quý Cáp là người hay chữ nhất trong ba vị lãnh tụ Duy Tân. Về văn bản, Huỳnh Thúc Kháng cho biết: “Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gửi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác”. Trần Quý Cáp bị xử chém ngang lưng. Cái chết thảm khốc này đã in dấu sâu đậm trong đời Phan Khôi và ảnh hưởng sâu xa đến đường lối văn hoá và sự tranh đấu bất bạo động của Phan Khôi sau này./.

Thư viện Trung Quốc thanh trừng sách có nội dung xa lý thuyết Cộng sản

Tóm lược: 

Tiến sĩ Phạm Đình Bá

Tập Cận Bình đã lãnh đạo một chiến dịch củng cố Đảng Cộng sản Trung Quốc và tái khẳng định ý thức hệ Cộng sản. Năm 2013, Đảng đã ban hành một chỉ thị về bảy hiểm họa ý thức hệ từ phương Tây mà theo quan điểm của đảng đang gây nguy hiểm cho xã hội Trung Quốc. Đảng cũng lo sợ là các ý niệm như “giá trị phổ quát”, “chủ nghĩa hợp hiến”, “xã hội dân sự” và “chính trị dân chủ” đã trở nên phổ biến và được tranh luận rộng rãi ở lục địa. Bộ Giáo dục Trung Quốc chỉ thị vào tháng 10 năm 2019 cho các trường tiểu học và trung học loại bỏ khỏi thư viện các sách “bất hợp pháp” và “không phù hợp”. Giáo viên đã gỡ bỏ các sách nầy ra khỏi các trường học tại ít nhất 30 trong số 33 tỉnh và thành phố ở đại lục. Cho đến nay, ước tính hàng trăm ngàn sách đã bị loại bỏ. Chiến dich nầy thể hiện phần nào quan điểm của đảng là các cuộc biểu tình quyết liệt ở Hồng Kông là vì thiếu “giáo dục yêu nước” ở thành phố nầy. 

Cái gì mới từ bài nầy?

Những phát hiện chính:

  • Chính sách loại bỏ sách với nội dung không phù hợp với lý thuyết Cộng sản hiện nay sao chép lại chiến dịch “đốt sách” từ thời Mao Trạch Đông và chiến dịch “đốt sách chôn sống học giả” dưới thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng.   
  • Đây là phong trào đầu tiên và rộng lớn nhắm vào các thư viện kể từ Cách mạng Văn hóa của thời Mao Trạch Đông.
  • Tập Cận Bình đã gia tăng kiểm soát của đảng trong giáo dục, từ đại học vào khoảng năm 2017, đến trung và tiểu học qua chiến dịch kiểm duyệt sách hiện nay.

Điều nào thêm vào những gì được biết:

  • Đảng xem giáo dục là công cụ để uốn nắn đầu óc của thế hệ trẻ để duy trì quyền lực của lãnh đạo.
  • Cách giáo dục nầy không chắc là phù hợp với kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức.
  • Sau hơn 30 năm với chính sách cải cách và cởi mở với thế giới, không rõ liệu loại hình giáo dục này sẽ thành công trong việc hiện đại hóa đất nước.

Gợi ý cho bạn đọc

  • Đảng Cộng sản có đủ tự tin để chuyển đổi Trung Quốc từ một nước với thu nhập trung bình để trở thành một nước với thu nhập cao không? 
  • Sự thất bại của họ trong thời gian chuyển đổi nầy có hệ lụy gì cho hệ thống chính trị hiện tại ở Việt Nam?

Nhiệm vụ đầu tiên khi các trường học ở Trung Quốc mở cửa lại sau đại dịch là một chiến dịch toàn quốc để loại bỏ những cuốn sách không được coi là phù hợp với hệ tư tưởng Cộng sản, làm sâu sắc thêm thúc đẩy của Chủ tịch Tập Cận Bình để nâng cao lòng “yêu nước” và tinh khiết hóa tư tưởng trong hệ thống giáo dục, theo một bài báo của Reuters (1).

Một chỉ thị của Bộ Giáo dục vào tháng 10 năm 2019 đã kêu gọi các trường tiểu học và trung học loại bỏ khỏi thư viện các sách về những tác phẩm “bất hợp pháp” và “không phù hợp”. Giáo viên đã gỡ bỏ các sách nầy ra khỏi các trường học tại ít nhất 30 trong số 33 tỉnh và thành phố ở đại lục, theo các đánh gía của cơ quan thông tấn Reuters. Tin tức nầy được đúc kết từ các bài đăng trên phương tiện truyền thông xã hội, các tài liệu của trường học và chính quyền địa phương, và các cuộc phỏng vấn với giáo viên.

Từ phía tây tỉnh Cam Túc đến Thượng Hải, lượt duyệt các nguồn tin tức nầy cho thấy hàng trăm ngàn sách đã bị loại khỏi thư viện trong chiến dịch nầy.  

Kiểm duyệt ở Trung Quốc đã được tăng cường dưới thời Tập Cận Bình, nhưng các nhà phân tích nói rằng đây là chiến dịch quốc gia đầu tiên nhắm vào các thư viện trong nhiều thập kỷ. Nó xuất hiện khi các nhân viên chính phủ ở Hồng Kông đầu tháng 7 năm 2020 đã gỡ bỏ sách của các nhà hoạt động dân chủ khỏi các thư viện công cộng để kiểm tra xem liệu họ có vi phạm luật an ninh quốc gia mới hay không.

“Đây là phong trào đầu tiên nhắm vào các thư viện kể từ Cách mạng Văn hóa”, Wu Qiang, một nhà phân tích chính trị có trụ sở tại Bắc Kinh và cựu giảng viên khoa học chính trị tại Đại học Thanh Hoa nói. Vào cuối những năm 1960, những thanh thiếu niên nhiệt thành do Mao Trạch Đông điều hành đã thực hiện một chiến dịch toàn quốc nhắm vào các thư viện và phá hủy hoặc đốt cháy những gì họ có thể có trong tay, như một phần của sự hủy diệt văn hóa truyền thống.

Chiến dịch hiện nay có nhiều lựa chọn hơn, và được chỉ đạo từ đầu, với các trường đặt các nhóm giáo viên phụ trách việc kiểm tra. Những cuốn sách bị xóa chủ yếu là những sách cũ hoặc sách lậu, nhưng chiến dịch cũng đặt trọng tâm để hủy hoại sách mà trên nguyên tắc là hợp pháp, nhưng có nội dung nhạy cảm với chính sách của lãnh đạo hiện nay.  

Chỉ thị của Bộ không liệt kê sách cụ thể, nhưng cho biết những cuốn sách “bất hợp pháp” là những cuốn sách “gây tổn hại cho sự thống nhất của đất nước, chủ quyền hoặc lãnh thổ”; những cuốn sách “làm đảo lộn trật tự xã hội và gây tổn hại cho sự ổn định xã hội”; những cuốn sách “vi phạm qui định của Đảng, bôi nhọ lãnh đạo và anh hùng của đất nước.”

Những cuốn sách “không phù hợp” là “không phù hợp với các giá trị cốt lõi của xã hội chủ nghĩa, có quan điểm lệch lạc về thế giới, lệch lạc về quan điểm sống và giá trị” hoặc là những cuốn sách “thúc đẩy các học thuyết và giáo lý tôn giáo, thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và phân biệt chủng tộc.”

Cả Bộ Giáo dục lẫn Văn phòng Thông tin Hội đồng Nhà nước, đóng vai trò là người phát ngôn của chính quyền trung ương, đều từ chối trả lời các yêu cầu bình luận từ Reuters.

Một giáo viên ở khu vực nông thôn nói với Reuters rằng trường trung học của ông đã loại bỏ những cuốn sách truyện tranh truyền thống, phổ biến ở Trung Quốc cho đến những năm 1990; sách về Kitô giáo; sách về Phật giáo; và đáng chú ý là các tác phẩm “Trại súc vật” và “1984” – tiểu thuyết kinh điển của George Orwell về chủ nghĩa độc đoán đã lưu hành ở Trung Quốc trong nhiều thập kỷ.

Giáo viên, tiết lộ với điều kiện giấu tên, cho biết một nhóm nhân viên dẫn đầu bởi một nhân viên thư viên đã ở lại sau giờ làm việc vào cuối tháng 4 để kiểm tra và gỡ bỏ sách.

Mỗi đêm trong các phiên lên đến năm hoặc sáu giờ trong bảy ngày, họ lướt qua hàng ngàn cuốn sách để chọn khoảng 100 cuốn sách thích ứng với các hướng dẫn do chính quyền địa phương ban hành và loại bỏ các sách nầy. Sau đó nhóm nầy lập bản báo cáo về việc làm của ho.  

“Tất nhiên, những cuốn sách này, học sinh không thực sự dùng,” giáo viên nói. “Vì vậy, nếu chúng tôi phải loại bỏ một số, chúng tôi sẽ bắt đầu với các cuốn sách nầy.”

Một số trường học và các quận đã dùng các phương tiện truyền thông xã hội như Weibo, giống như mạng Twitter ở Trung Quốc dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền, để thông báo sự tham gia của họ vào chương trình kiểm duyệt sách thư viện.

“Kiểm tra sách và loại bỏ sách bất hợp pháp và không phù hợp là công việc tỉ mỉ nhưng tẻ nhạt, gánh vác trách nhiệm nặng nề của việc ‘tưới hoa cho quê hương’”, một bài đăng trên Weibo vào tháng 5 của trường Xianlai ở tỉnh Giang Tây, phía trên bức ảnh một người phụ nữ mặc váy hoa đang kiểm tra sách trên kệ.

“Trường học của chúng tôi đã có những hành động cụ thể để uốn nắn thanh niên có đạo đức, và đã nâng chất lượng sách thư viện của chúng tôi lên một bước nữa.”

Hiệu trưởng trường Xianlai không trả lời điện thoại từ Reuters. Số điện thoại của trường không được công khai ở Trung Quốc.

Reuters đã cố gắng gọi hơn 100 trường học khác trên cả nước để hỏi về chiến dịch kiểm duyệt sách thư viện; 44 trường có số điện thoại đã hoạt động. Trong số 44 trường nầy, nhân viên từ 23 trường từ chối bình luận hoặc gác máy. Không có phản hồi từ 21 trường còn lại.

Không rõ làm thế nào các cuốn sách đã bị loại bỏ sẽ được xử lý, giáo viên nói. Cho đến nay, chúng đã được niêm phong và đưa vào lưu trữ tại chỗ.

Các sách bị loại bỏ đang được thay thế bằng các cuốn sách mới từ một danh sách dài 422 trang được xuất bản theo chỉ thị của Bộ Giáo dục. Gợi ý bao gồm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và kỷ nguyên mới”, những bài thơ của Mao Trạch Đông và “Cabin của chú Tom”, tiểu thuyết nổi tiếng thế kỷ 19 về chế độ nô lệ ở Mỹ.

Kiểm duyệt ở Trung Quốc thay đổi liên tục. Một trong những cuốn sách trong danh sách được phê duyệt là “Winnie the Pooh”, tác phẩm kinh điển của trẻ em về một cậu bé và chú gấu bông của mình. Trước đây, các bài đăng trực tuyến chỉ ra rằng ngoại hình mập mạp của Pooh giống với dáng dấp với Chủ tịch Tập Cận Bình. Các bài nầy đã bị kiểm duyệt. Năm 2018, Trung Quốc đã từ chối yêu cầu của công ty Walt Disney cho phép chiếu một bộ phim về Winnie the Pooh.

HIỂM HỌA CỦA Ý THỨC HỆ CHÍNH TRỊ

Tập Cận Bình, người lên nắm quyền năm 2012, đã lãnh đạo một chiến dịch củng cố Đảng Cộng sản Trung Quốc và tái khẳng định ý thức hệ Cộng sản. Năm 2013, Đảng đã ban hành một chỉ thị được gọi là “Văn bản số 9”, chỉ thị về bảy hiểm họa ý thức hệ từ phương Tây mà theo quan điểm của đảng đang gây nguy hiểm cho xã hội Trung Quốc (2). Các hiểm họa nầy có thể tóm gọn như sau. 

  1. Thúc đẩy dân chủ lập hiến phương Tây: Một nỗ lực làm suy yếu sự lãnh đạo hiện tại và chủ nghĩa xã hội với hệ thống quản trị đặc trưng của Trung Quốc. Vì sao đảng lại lo ngại về vấn đề nấy? Trái với cơ chế hiện nay ở Trung Quốc, một chính phủ dân chủ làm việc dựa vào hiến pháp. Trong đó, tất cả những ai muốn có tiếng nói về một quyết định mà tất cả mọi người cùng chia sẻ sẽ được lắng nghe.
  2. Thúc đẩy các “giá trị phổ quát” trong nỗ lực làm suy yếu nền tảng lý thuyết của ban lãnh đạo Đảng. Các giá trị phổ quát mà đảng lo sợ bao gồm các giá trị được công nhận gần như toàn cầu, bao gồm hòa bình, tự do, tiến bộ xã hội, quyền bình đẳng và phẩm giá con người, được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người.
  3. Thúc đẩy xã hội dân sự trong một nỗ lực để phá hủy nền tảng xã hội của đảng cầm quyền. Đảng lo sợ về những tổ chức nào? Thí dụ về xã hội dân sự có thể bao gồm các nhóm cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức lao động, các nhóm địa phương, các tổ chức từ thiện, các tổ chức dựa trên đức tin, và các hiệp hội chuyên nghiệp, cùng nhiều tổ chức mà đảng và chính phủ không kiểm soát được.
  4. Thúc đẩy trường phái tự do mới (neoliberalism), cố gắng thay đổi hệ thống kinh tế cơ bản Trung Quốc. Tại sao đảng lo sợ về trường phái nầy? Bởi vì trường phái nầy được đặc trưng bởi thị trường thương mại tự do, giảm bỏ quy luật trong việc quản lý thị trường tài chính, một nền văn hóa đặt nặng giá trị vào cá nhân và sự giàu có, và giảm đi vai trò của nhà nước trong đời sống và xã hội. Có thể điểm đặc biệt mà đảng lo ngại là trường phái nầy nhấn mạnh vào việc rời khỏi một nền kinh tế quản lý tập trung.
  5. Thúc đẩy ý tưởng báo chí tự do phương Tây, thách thức nguyên tắc của Trung Quốc về hệ thống truyền thông và xuất bản phải tuân theo kỷ luật của Đảng.
  6. Thúc đẩy chủ nghĩa hư vô lịch sử, cố gắng làm suy yếu lịch sử của đảng Cộng sản và của Trung Quốc trong thời đại mới.
  7. Đặt câu hỏi về cải cách, mở cửa và bản chất xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Đảng muốn cấm các hiểm họa và ý niệm ở trên bởi vì theo quan điểm của đảng, chúng đã trở nên phổ biến và được tranh luận rộng rãi ở Trung Quốc.

Tại hội nghị thượng đỉnh quốc gia về giáo dục năm 2018, Tập Cận Bình đã nói về những thách thức đối với giáo dục trong nước và đưa ra 9 nghị quyết để giải quyết chúng.

Đầu tiên, theo một bản tóm tắt bài phát biểu của Tập được công bố trên một tạp chí của Đảng, Tập nói rằng đất nước nên “hiểu sâu sắc và tăng cường yêu cầu cơ bản cho toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng trong giáo dục.”

Ban đầu, các trường đại học là trọng tâm: Từ năm 2017, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã được giao nhiệm vụ đặt hệ tư tưởng của Tập Cận Bình, mà hắn đã đặt tên là “Tư tưởng Tập Cận Bình”, vào cốt lõi của chương trình giảng dạy ở đại học và chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các trường đại học để bắt đầu các trung tâm nghiên cứu về tư tưởng Tập Cận Bình.

Sau đó, trọng điểm này được mở rộng đến tâm trí của lớp trẻ hơn. Năm 2018, chính phủ đã phát động một chiến dịch nhằm loại bỏ nội dung cho là bị ảnh hưởng nước ngoài mà đảng không chấp thuận khỏi sách giáo khoa được sử dụng trong chín năm đầu tiên trong giáo dục bắt buộc.

Theo chỉ thị của Bộ Giáo dục, ba loại sách mà trường phải loại bỏ gôm: sách bất hợp pháp, sách không phù hợp và sách có ngoại hình kém hoặc không có giá trị.

Chỉ thị cũng kêu gọi các trường hoàn thiện một cơ chế quản lý danh mục của thư viện để bất kỳ cuốn sách đến nào cũng được kiểm tra. Nếu một vấn đề phát sinh, cả người giới thiệu cuốn sách cho học sinh và người quyết định sử dụng nó phải chịu trách nhiệm, chỉ thị nêu rõ. 

“Tranh đấu để uống nắng bộ não của giới trẻ là một trong những điều quan trọng nhất đối với Đảng”, Wu Qiang, nhà phân tích chính trị tại Bắc Kinh nói.

Những người biểu tình trẻ tuổi ở Hồng Kông năm 2019 đã chỉ ra lý do tại sao Đảng quyết tâm kiểm soát chặt chẽ việc giáo dục giới trẻ.

Nhân dân Nhật báo, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản, đã nói rằng nền giáo dục của Hồng Kông bị “đầu độc”. Truyền thông nhà nước đã điều hành nhiều bài xã luận trong những tháng gần đây tấn công truyền thống giáo dục công dân của Hồng Kông. Theo Sun Peidong, giáo sư của Đại học Fudan Thượng Hải, đảng nghĩ: “các cuộc biểu tình đó lại diễn ra kiên quyết như vậy là vì thiếu giáo dục yêu nước ở Hồng Kông.”

ĐỐT SÁCH

Tỉnh Cam Túc phía tây là một trong những nơi đầu tiên loại bỏ sách vi phạm chỉ thị của đảng.

Vào tháng 12, một bức ảnh hai người phụ nữ đang đốt sách trước một thư viện ở Zhenyuan, một quận nhỏ của Cam Túc, đã lan truyền trên mạng. Việc đốt sách kích động một luồng chỉ trích công khai trên Weibo.

Một số bài viết cho biết Trung Quốc đã “đốt sách và chôn sống học giả Nho giáo”, một sắc lệnh được cho là của hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng, hơn 2.000 năm trước để phá hủy các tác phẩm mà vị vua tàn bạo nầy coi là nguy hiểm về mặt chính trị.

Cam Túc đã đưa ra một thông báo trên toàn tỉnh để bảo đảm việc tuân thủ theo chỉ thị của Bộ Giáo dục vào cuối tháng 10, nhưng Reuters không thể xác định liệu thư viện ở Zhenyua có phải là một phần của chiến dịch kiểm duyệt sách nhắm mục tiêu vào các trường học hay không. Chính quyền quận Zhenyua cho biết vào thời điểm đó bằng cách đốt sách, những người phụ nữ liên hệ đã không tuân thủ các quy định.

Các trường học đã không tự hào về việc đốt sách kể từ đó. Nhưng các trường học và chính quyền địa phương ở bốn khu vực đã công khai tuyên bố số sách họ đã xóa bỏ, tổng cộng hơn 60.000 cho mẫu nhỏ gồm bốn khu vực nầy, Reuters phát hiện.

Ví dụ:

Theo một bài đăng trên phương tiện truyền thông xã hội của chính quyền địa phương, thành phố Anning ở phía tây nam tỉnh Vân Nam đã loại bỏ tổng cộng 16.365 tập sách, bao gồm 1.835 tập “không phù hợp” và 14,530 cuốn sách “có ngoại hình kém hoặc không có giá trị”.

Ở thành phố Zhoushan, gần Thượng Hải, 100 trường học đã thanh trừng 11.871 cuốn sách có “nội dung cũ và lỗi thời không phù hợp cho học sinh đọc, hoặc có ngoại hình kém và không có giá trị bảo quản”, theo tài liệu thông báo trong một tập chí phát hành bởi chính quyền tỉnh.

Tại hạt Xixia, thuộc tỉnh miền trung Hà Nam, các trường học đã dọn sạch tổng cộng 6.000 cuốn sách “không phù hợp hoặc có hình thức bên ngoài kém” và 22.700 sách không có giá trị, truyền thông địa phương đưa tin.

Nhiều thư viện ở các trường học, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, là nhỏ và không có nhiều sách nhạy cảm, một giáo viên nói. Tuy nhiên, kệ của họ thường chứa đầy những cuốn sách cũ hoặc sách in lậu. Một số trong số sách này đã sắp rơi từng mảnh, một giáo viên ở tỉnh Cam Túc cho biết. Trường học của ông ở một ngôi làng nông thôn đã loại bỏ khoảng 80 tập sách. Sau khi hoàn thành công việc, ông nói, chúng tôi cất những cuốn sách bị kiểm duyệt vào kho.

CÁCH MẠNG VĂN HÓA

Mặc dù các tác phẩm “1984” và “Trại súc vật” đã bị xóa khỏi một trường nông thôn, các tác phẩm nầy vẫn có thể mua từ các cửa hàng và trực tuyến tại Trung Quốc.

Giáo viên ở trường nông thôn cũng nói rõ ràng rằng trong các sách bị loại bỏ cũng có những cuốn truyện hình truyền thống từ thời Cách mạng Văn hóa.   

Ở một giai đoạn, những cuốn truyện tranh từ thời kỳ đó bị chỉ trích chính trị, nhắm vào những nhân vật như đối thủ của Mao và Khổng Tử, những tác phẩm mà Tập muốn mang lại vào chương trình giáo dục. Nhưng cuộc Cách mạng Văn hóa đã trở thành một chủ đề nhạy cảm hơn trong những năm gần đây.

Ví dụ, giáo sư Sun của Đại học Fudan, một chuyên gia về lịch sử của thời kỳ Cách mạng Văn hóa hiện đang sống ở Paris, cho biết cô đã phải đối mặt với sự kiểm duyệt ngày càng tăng kể từ năm 2015. Vào năm 2019, cô đã ngừng dạy lớp học lâu dài của mình về thời đại Cách mạng Văn hóa và rời khỏi khoa lịch sử của trường đại học.

Chính quyền “không muốn người dân thường của Trung Quốc, đặc biệt là thế hệ trẻ Trung Quốc biết” về điều đó, Sun nói.

Khi Reuters liên lạc, người đứng đầu khoa lịch sử của đại học nói rằng giáo sư Sun đã tình nguyện lựa chọn việc từ chức, với lý do cá nhân.

Nguồn: 

  1. Huizhong Wu. In echo of Mao era, China’s schools in book-cleansing drive. Thursday, July 09, 2020 by Thomson Reuters. Edited by Sara Ledwith. https://wkzo.com/news/articles/2020/jul/09/in-echo-of-mao-era-chinas-schools-in-book-cleansing-drive/1037767/?refer-section=national
  2. Document 9: A ChinaFile Translation. How Much Is a Hardline Party Directive Shaping China’s Current Political Climate? November 8, 2013. https://www.chinafile.com/document-9-chinafile-translation

Sưu tập và lượt dịch bởi Phạm Đình Bá

Bàn về phẩm chất con người và cơ cấu nhà nước

[Bàn về phẩm chất con người và cơ cấu nhà nước]
Tại sao Tiberius Gracchus, một chính khách La Mã lại đòi hỏi và tiến hành một cuộc cải cách cho chính nền cộng hòa của xã hội La Mã?
Tiberius Sempronius Gracchus là một chính trị gia theo chủ nghĩa dân túy La Mã nổi tiếng với luật cải cách nông nghiệp của ông đòi hỏi phải chuyển đất từ nhà nước La Mã và địa chủ giàu có sang những công dân nghèo hơn.
Sau khi nhà nước Carthage đã bị quân đội La Mã tận diệt, không còn ai có thể kiềm chế tham vọng của những chủ nô La Mã có sức mạnh về kinh tế và chính trị. Với nguồn cung nô lệ dồi dào từ những cuộc chiến tranh xâm lược mà người chết hầu hết là binh lính có gốc gác thường dân, những chủ nô La Mã giàu có và quyền lực đã có thể mua thêm rất nhiều nô lệ để mở rộng sản xuất. Và để mở rộng sản xuất, họ cũng cần thâu tóm đất đai. Rất nhiều gia đình nông dân tự do với năng lực sản xuất hạn chế, cùng với hậu quả của chiến tranh… khiến cuộc sống của họ ngày càng kiệt quệ đến nỗi phải bán đi đất đai là công cụ sản chính của họ cho những chủ nô. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn và đã trở nên rất lớn. Số lượng dân nghèo ngày càng nhiều và đã trở nên rất nhiều. Bất ổn xã hội ngày càng gia tăng. Trước tình hình đó, một số chính khách không bị tha hóa đã bắt đầu một cuộc cách mạng với luật cải cách nông nghiệp giúp dân nghèo có đất đai để trồng trọt. Tiberius Gracchus là một trong số họ. Vì sự quyết liệt thái quá trong cuộc cải cách nên ông đã phải trả giá bằng chính mạng sống của bản thân cho những chủ nô bị ảnh hưởng.
Tiberius Gracchus muốn thay đổi cơ cấu nhà nước La Mã khiến cơ cấu xã hội La Mã có sự thay đổi một cách vững chắc. Nhưng một vài người là không đủ để thay đổi nó. Cơ cấu xã hội thay đổi khi cơ cấu nhà nước và phẩm chất con người thay đổi. Quan trọng hơn hết vẫn là phẩm chất con người, và nó phải có sự thay đổi đủ mạnh. Nhưng nó cũng chỉ là điều kiện cần, cơ cấu nhà nước thay đổi bởi sự thay đổi của phẩm chất con người mới là điều kiện đủ để cơ cấu xã hội có thể thay đổi một cách vững chắc.

Hiến pháp là hợp đồng giữa người dân và nhà nước và một trong hai bên có quyền hủy hợp đồng bất kỳ lúc nào.

Khi nhậm chức, ông Nguyễn Phú Trọng đặt tay lên hiến pháp để thề thì ông đã thể hiện quốc gia là hợp hiến. Hiến pháp là bản hợp đồng giữa người dân và nhà nước, người dân là chủ thể của bản hiến pháp và có quyền làm một hiến pháp mới nếu một bên cảm thấy bên kia không thực hiện được đúng bản hợp đồng ấy.

Kết thúc lời nói đầu của Hiến pháp 2013 có câu: “…Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” (1) Có nghĩa là, chính thể Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa đã rất tiến bộ khi thừa nhận rằng, nhân dân mới là chủ thể của Hiến pháp ấy.

Hiến pháp không phải là đạo luật của một chính phủ, mà là đạo luật của một dân tộc nhằm cấu thành nên chính phủ (2).

Thậm chí, tập thể tác giả của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, trong cuốn Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng đã xác nhận điều này, khi họ thừa nhận rằng: “Khác với Hiến pháp năm 1946, các Hiến pháp sau này năm 1959, 1980 và năm 1992 không nói rõ một cách trực tiếp mục tiêu và chủ thể ban hành. Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là dịp tốt cho việc khẳng định lại mục tiêu cũng như chủ thể ban hành hiến pháp. 
Là đạo luật về chủ quyền nhân dân, Hiến pháp khẳng định Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước…” (3)

Trong lời nói đầu của Hiến pháp, đảng cộng sản ngụy biện để kể công, kể khổ với nhân dân. Họ ngụy biện để cố thuyết phục rằng đảng cộng sản có quyền lãnh đạo dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên ở phần cuối lời nói đầu đó, chính thể cũng đã phải thừa nhận rằng, chính nhân dân là chủ thể của hiến pháp  mà đã là chủ thì nhân dân có thể cắt hợp đồng với nhà nước, nếu nhà nước không thực hiện được bản cam kết với nhân dân.  99% nhân dân Việt Nam không hiểu cuốn hiến pháp mà  Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam chúng tôi đang phải nghiên cứu . Chúng ta cần đi tìm hiểu căn nguyên của vấn đề và chia sẻ rộng ra.

Nhà báo tự do Lê Trọng Hùng- ( bút danh Trung Dân Việt Thương)

Thành viên của Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam- viết từ Hà Nội.

Đăng lần đầu ngày 12/12/2018- Cập nhật mới nhất ngày 12/12/2018

Chú thích:

(1) Xem ảnh chụp màn hình trang hiến pháp tại đây: https://goo.gl/zqg3yy 

(2): Thomas Peine ( Thômát Pên) nhà triết học Anh ( 1737-1809)

(3) Trích sách Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, trang số 50. Xem hình chụp tại đây: https://goo.gl/5nYm1D

Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản chia tay người yêu: không đòi được quà thì đòi mạng

Nguyễn Ngọc Tâm ( sinh năm 1990, nguyên Bí thư đoàn thanh niên phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) bị người yêu bỏ. Chia tay người yêu, anh đòi quà, đòi không được thì anh đòi mạng, giết hại người yêu dã man.

Chúng ta còn nhớ cách đây không lâu, bí thư đoàn Học viện Bưu chính viễn thông làm cho một người con gái có bầu, không chịu cưới người con gái này và còn ép nàng đi phá thai. Đó là bộ mặt thật của chủ nghĩa vô thần Marx-Lenin.

Chưa kể những trò chơi kích dục được các đoàn viên thanh niên tổ chức rầm rộ thời gian qua, như báo hiệu hồi cáo chung của chủ nghĩa cộng sản trên đất nước Việt Nam của chúng ta.

Lại nhớ đến vụ đảng viên cao cấp Nguyễn Khắc Thủy ở Vũng Tàu, có vợ, già gần chết, mà còn đi hại đời mấy bé mầm non. Càng cao cấp trong chủ nghĩa cộng sản, thành tích dâm ô càng đáng kinh tởm.

Chưa bao giờ đoàn thanh niên lấy lời thề với chủ nghĩa cộng sản bị dân tộc Việt Nam nguyền rủa nặng nề như năm 2018 này.

Tin theo nguoiduatin.vn:

Tâm và chị Chung Thị Ngọc T. có quan hệ tình cảm yêu đương. Trong thời gian yêu nhau, Tâm tặng cho chị T. nhiều món quà, nhưng sau đó 2 người chia tay.

Khoảng 10h30 ngày 28/8/2017, chị T. ngồi uống nước cùng anh Phan V. (là thầy giáo dạy cấp 3) và một người em họ tại quán cà phê nằm trên đường D5, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lúc này, Tâm (bạn trai cũ của T.) đi ngang quán cà phê và thấy T. nên nảy sinh ý định đòi lại điện thoại Iphone 7 plus với số tiền 7 triệu đồng. Chị T. không đồng ý trả quà nên hai bên cãi vả. Lúc này, anh V. lên tiếng can ngăn.

Sau đó, chị T. và em họ bỏ về phòng trọ trên đường Ung Văn Khiêm, phường 25, quận Bình Thạnh. Không dừng lại ở đó, Tâm đề nghị V. dẫn về phòng trọ của T. để giải quyết và được V. đồng ý.

Do không biết T. ở phòng nào nên cả hai đi xuống tầng hầm để xe của phòng trọ. Tại đây, Tâm gặp T. và cả hai tiếp tục xô xát.

Trong lúc xô xát, Tâm bị đẩy ngã vào bàn bảo vệ đặt tại nhà trọ của T. Tay Tâm vô tình chạm vào con dao đặt trên bàn. Tâm lập tức chụp lấy con dao, đứng dậy đâm anh V. một nhát vào ngực khiến nạn nhân gục xuống và tử vong tại chỗ.

Tại tòa, Tâm thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời gửi lời xin lỗi đến gia đình nạn nhân và mong Hội đồng xét xử khoan hồng, tuyên mức án thấp.

Người đại diện nạn nhân không chấp nhận lời xin lỗi của Tâm, cũng như không đồng tình với việc Viện kiểm sát truy tố Tâm theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự. Theo người này, hành vi của Tâm phải truy tố theo khoản 1, Điều 93 thì mới đúng.

Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi phạm tội của Tâm là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe.

Tuy nhiên, quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho Tâm như thành khẩn khai báo, trong quá trình làm công tác Đoàn được tặng nhiều bằng khen, bị hại có một phần lỗi…để giảm cho Tâm một phần hình phạt.

Sau khi cân nhắc, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Tâm mức án 12 năm tù giam về tội Giết người.

Bài viết thuộc Chương trình bảo vệ nhân phẩm nữ sinh do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam đồng tổ chức

Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, giảng viên trường đại học Sân khấu điện ảnh tuyên bố bỏ đảng cộng sản

“Hôm nay, 4.11.2018, tôi – Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Thị Kim Chi, chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi Chủ Nghĩa Xã Hội – con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại.

Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Chu Hảo, chồng tôi ( ông. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng Cộng Sản Việt Nam nhận biết lẽ phải.

Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
– Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống…
– Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
– An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan…

Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

Nhưng đáp lại thiện chí của chúng tôi là sự đàn áp ngày càng khốc liệt người bất đồng chính kiến; là ý đồ muốn biến nhân dân thành bầy cừu; thù ghét, khủng bố những người dấn thân tranh đấu vì những quyền cơ bản, chính đáng của con người, những giá trị phổ quát của nhân loại; hãm hại những trí thức ưu tú muốn khai trí nhân dân.

Trải tuổi trẻ ở chiến trường, tôi khát khao giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng than ôi! Khi nhận ra mình đã góp tuổi xanh vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do mâu thuẫn ý thức hệ quốc tế, tôi vô cùng đau đớn. Nhiều đêm trắng tôi thao thức, khi những người ưu tú lần lượt vào tù. Hàng triệu dân oan không nhà làm nhói tim tôi. Im lặng là đồng loã cái ác, là có tội.

Sự việc mới đây khiến tôi không thể kìm lòng được nữa: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam công bố kết luận hết sức xằng bậy về Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Chu Hảo. Đó là một ý đồ hắc ám, muốn thông qua việc trừng phạt một trí thức ưu tú mà tôi và đông đảo trí thức cũng như người dân kính trọng như tinh hoa dân tộc, tuyên chiến với giới trí thức tiến bộ tâm huyết, tuyên chiến với nhân dân. Những ngày qua, tôi kiên nhẫn chờ đợi động thái sửa sai từ cấp cao nhất. Nhưng vô vọng! Tôi hiểu, lề lối quan liêu, tư duy bảo thủ, khuynh hướng độc tài hủ bại hắc ám đã, đang và sẽ còn chế ngự Đảng Cộng sản Việt Nam, như hồi đánh Nhân văn – Giai phẩm.

Tôi vào Đảng Nhân dân Cách mạng Miền Nam tại chiến trường, năm 1971. Ngày đó, tôi đinh ninh đứng vào đội ngũ những người tiên phong, sẵn sàng ngã xuống cho “sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh…”. Do hoàn cảnh lịch sử, hạn chế thông tin khi ấy, tôi chưa thể biết sự thật cay đắng phũ phàng: Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, mà Đảng Cộng sản Việt Nam lấy làm nền tảng tư tưởng, chỉ là một học thuyết phản khoa học, phi thực tế, cổ xúy bạo lực “đấu tranh giai cấp”, hiếu chiến, tạo bất công, gieo rắc đói nghèo lạc hậu, độc đoán thủ tiêu mọi quyền tự do chính đáng của nhân dân.

Thực tế, sau 1975, phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tự hoang tưởng, tha hóa biến chất ngày một tồi tệ, làm đất nước ngày càng tụt hậu, nhân dân lầm than.

Quá thất vọng, tôi bỏ sinh hoạt đảng từ 2013. Tôi luôn trăn trở: “tuổi cao, sức yếu, không gì đau buồn và hổ thẹn hơn là đột ngột ra đi mà vẫn danh nghĩa là đảng viên cộng sản”. Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cái đội ngũ mà thế lực hắc ám ngự trị trong Đảng Cộng sản Việt Nam đang lạm dụng làm bình phong che chắn cho động cơ vị kỷ, tệ hại của họ.

Tôi thành tâm mong mỏi ngày càng có nhiều đảng viên có lương tri, còn tâm huyết với dân, với nước, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục rời bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đoàn Thanh Niên  Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vận nước, tương lai dân tộc tùy thuộc mỗi người Việt Nam chúng ta.

Vì những lẽ trên, tôi chính thức tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Thị Kim Chi

( Theo facebook của cô Kim Chi)

Cấm một người trẻ đi học chỉ vì bố thuộc về ‘’phe thua cuộc’’. 

44065417_126726071635696_2240450963900989440_n.jpg

Một tài liệu vài chữ nói nhiều hơn một tủ sách. Cấm một người trẻ đi học chỉ vì bố thuộc về ‘’phe thua cuộc’’.

Đó là tận cùng của sự man rợ. Nham hiểm đúng quy trình ; nhỏ nhen đúng đường lối ; bần tiện : một nhân sinh quan ; đểu cáng: một cách xử thế, thù hận : một triết lý sống.
Ở những nước bình thường, nhà tù là nơi giữ cho tội nhân khỏi tái phạm, để trả nợ cho xã hội.


Ở những nước tân tiến, nhân bản như Bắc Âu, nhà tù là nơi tù nhân có cơ hội, có thời giờ, được tận tình giúp đỡ, để suy nghĩ, trau dồi kiến thức, khả năng chuyên môn, để trở thành một người tốt, có thể trở lại với xã hội, làm lại cuộc đời và đóng góp vào việc xây dựng xã hội.


Ở VN, nhà tù không chỉ là nơi giam giữ, còn là nơi hành hạ, nhục mạ tù nhân, cả tinh thần lẫn thể xác, nhất là tù nhân lương tâm. Để thỏa mãn thú tính ( có lẽ phải kiếm ra từ ngữ khác, để khỏi xúc phạm súc vật ), trả thù những người phạm tội gọi con mèo là con mèo, bọn bán nước là bọn bán nước, cướp ngày là cướp ngày. Những Nguyễn Ngọc Như Qùynh, Trần Thị Nga, Trần Huỳnh Duy Thức …đã, và đang trả giá đó .


Nhưng hành hạ người tù không đủ, còn phải trừng trị, hành hạ con em họ. Tru di tam tộc trở thành quốc sách, ngay cả, nhất là ‘’ khi đất nước tôi không còn chiến tranh ‘’. 


Có những người được đào tạo để thù hận, giết chóc. Không giết chóc, không thù hận, khó tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.


Cái ghê rợn, chuyện khó tin nhưng có thực, là những người đó đang lãnh đạo đất nước, đang vẽ đường đi cho gần 100 triệu người. Ở thế kỷ 21 !

Từ Thức-Thân hữu Paris/ Blog

Vụ hiếp dâm sẽ đi vào lịch sử…

Không thể tưởng tượng được lại có một vụ hiếp dâm tập thể như thế xảy ra ở trên đời. Một ông quan chức to, phó phòng cảnh sát kinh tế tỉnh Thái Bình, thượng tá Trần Văn Lam là đầu vụ và 3 doanh nghiệp đáng kính nữa.

43236092_169664253956949_8523404852800258048_n.jpg

Là ông Phạm Như Hiển là doanh nghiệp có tiếng về bất động sản ở địa phương, ông Phạm Đức Việt kinh doanh ô tô và ông Từ Minh Tuyên là cai thầu xây dựng. Đây đều là các doanh nghiệp tên tuổi của tỉnh và tất cả cùng tham gia vào trò đè một con bé học sinh 14 tuổi (sinh năm 2004) ra để thay nhau hiếp dâm. Thật khó có một vụ hiếp dâm nào mà lại có đông ngành nghề như thế cùng tham gia. Chưa hết sự lạ vì còn có một doanh nghiệp, ông Phạm Như Hiển đang là đương kim bố nuôi của nạn nhân cũng tham gia vào vụ cưỡng hiếp con gái nuôi của mình.

Thực lòng mà nói thì đây là một vụ hiếp dâm rất khó xảy ra nhưng đã xảy ra. Vì các tay thủ ác đều sồn sồn ở tuổi cha chú của nạn nhân, còn nạn nhân thì còn nhỏ lắm khi chỉ là một cô bé học sinh, bằng tuổi con cháu của những kẻ thủ ác. Nếu các ông này là một đám trẻ trâu, hay là một đám thanh niên càn quấy phá làng phá xóm thì không có gì để nói. Nhưng từ ông thượng tá, phó phòng CAKT cho đến 4 ông doanh nghiệp đều là những người đứng tuổi, có vị trí xã hội và có gia đình vợ con thì không hề có lời nói can ngăn nào cả mà lại cùng đâm đầu vào một vụ hiếp dâm tệ hại như thế để rồi phải trả giá tất cả. Chỉ một vụ hiếp dâm thôi mà các ông đã lấy hết cái ngu của thiên hạ về làm cái ngu của riêng mình.

Các ông đã làm nên lịch sử khi tạo ra một vụ hiếp dâm nổi tiếng nhất vì có nhiều thằng quan chức và doanh nhân to nhất chui đầu vào chết trong cái lỗ bé nhất…

Nhà văn Mai Tú Ân/fb