Nền văn minh không ổn!

Bs Nguyễn Đan Quế – Chủ tịch Cao trào Nhân Bản

BS. Nguyễn Đan Quế

Cách mạng Kỹ-thuật Số khoét sâu thêm hố giầu – nghèo toàn cầu. Ngay tại Mỹ, những gã khổng lồ như Google, Facebook, Microsoft, Amazon…giầu sụ, còn phần đông dân thường chỉ khoác cái ‘mác’ văn-minh khi chúi đầu xử dụng internet, face-book, twitter, i-phone, e-game, youtube, video…

Từ đầu năm 2020 Covid-19 lan nhanh, gây chết chóc nhiều, vẫn chưa có hồi kết. Cuối năm thêm vụ tranh cử TT Mỹ, ‘chia rẽ, hạ nhau, tung tin giả, phóng thuyết âm mưu’…

Đối phó đại dịch lúng túng không hiệu quả, cộng thêm những chiêu trò vận động kiểu giang hồ dao búa ở một nước có nền văn minh Tây phương hàng đầu, khiến nhiều người chưng hửng, khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng, hoài nghi những giá trị tự do – dân chủ. Trong lễ khai mạc Đại Hội Đồng LHQ tháng 9- 2020 Tổng thư ký cảnh báo thế giới đang đi vào “hướng đi nguy hiểm”, và ông nói tới sự đổ vỡ do “hai nền kinh tế lớn nhất” tạo ra và rằng Covid-19 không chỉ là lời kêu gọi làm ta thức tỉnh mà nó còn là một cuộc tập dượt để thế giới đối diện với các thách thức sắp diễn ra”. Hình như văn minh Tây phương đang có gì không ổn?

Đầu đuôi là sự ra đời của Cơ Học Lượng Tử (1927) dẫn đến Cách Mạng Số như www, smartphone, AI, robot…

Cuối thế kỷ XX khám phá hình thành đại vũ trụ là do vụ nổ Big Bang mà ra. Cái toàn thể là Vũ Trụ Năng. Phần tạo ra con người là Sinh Năng. Cơ Học Lượng Tử chỉ ra Tinh thần & Vật chất là 2 mặt của Sinh Năng. Sinh Năng là 1 phần của Vũ Trụ Năng và Vũ Trụ Năng trực tiếp ảnh hưởng trên Sinh Năng. Tinh thần & Vật chất hỗ tương tác động và có thể hoán chuyển qua Sinh Năng. Chứ không phải cái nọ có trước & ‘đẻ’ ra cái kia theo duy vật hay duy tâm. Khi ý thức con người trong xã hội đổi, cả xã hội trong đó có chính trị và tôn giáo phải đổi, tỷ lệ thuận với thức tỉnh quần chúng. Khi Covid-19 truyền vào Mỹ, sinh hoạt cộng đồng mới chỉ trì trệ cục bộ, mà tuyên truyền ‘tự bốc thơm’ đã hết ‘linh’. Quay ra đổ lỗi cho nhau! Nội bộ chia rẽ! Lý do: Đỉnh cao nền văn minh hoàn toàn ‘đuối sức’. 

Đại dịch Covid-19 còn kéo dài dài, ở qui mô toàn cầu, làm tê liệt sự vận hành của xã hội loài người, từ kinh tế, y tế, giáo dục, du lịch, buôn bán, đầu tư đến cách ly tại nhà, học online, họp – làm việc online, giãn cách xã hội, đeo khẩu trang…Chưa từng có!

Xã hội đình trệ có nghĩa là tác động của xã hội lên con người giảm về 0, giống như lúc mới đẻ, chưa bị lấm bụi trần. Chỉ cần một thoáng ‘mây mù’ tan, Sinh Năng phản ảnh đúng sự thực của thực tại: Hóa ra, bấy lâu nay bát nháo chạy theo tiêu dùng, vật chất ; bị ‘yếu’ đi, không còn là mình nữa, bởi giới chính trị và tôn giáo. Ai đã từng băn khoăn sự thực là gì? Hốt nhiên đại ngộ: Bản chất đích thực con người là Sinh Năng. Sinh Năng là một phần của Vũ Trụ Năng, mới là phổ quát (universal); chứ không phải thứ mà chính trị và tôn giáo thường rao giảng. 

Covid-19 tạo cho nhân loại một ‘trải nghiệm gây thức tỉnh’do tác dụng điều kiện hóa ngưng. Bản chất cội nguồn (lúc ra chào đời) nay hiện ra nơi người có tuổi đời, có hiểu biết, có kinh nghiệm sống… Đó chính là tự lột xác, tự nhân-bản-hóa mình! Một khi đã thức tỉnh, đã ngộ thì người đó khó trở lại u mê và có sức lan tỏa. Covid-19 đã phát triển thành lực đẩy chính trị quan yếu từ hạ tầng làm thay đổi xã hội loài người. Chính trị thượng tầng phải thích ứng theo.

Phục chỉnh hậu Covid-19, nhân loại và thế giới không thể trở lại như xưa vì tư bản lẫn cộng sản đều khập khiễng về tính người; và quan hệ quốc tế cũng khác rồi, đi theo với các cơ chế kinh tế  – chính trị toàn cầu đang xoay chuyển. Hừng đông ló rạng NHÂN BẢN HƠN, CÂN BẰNG HƠN GIỮA TINH THẦN & VẬT CHẤT: Văn minh Đông phương (hướng nội, chủ về tinh thần, đời sống bên trong) và văn minh Tây phương (hướng ngoại, chủ về khoa học, về vật chất) là hai mặt của nền văn minh mới. 

Tóm lại, Số Hóa và Nhân Bản Hóa là điều kiện cần và đủ để đưa nhân loại đi vào nền văn minh mới. 

Sinh hoạt chính trị toàn cầu trong tương lai mang tính Nhân Bản Kỹ Trị, có đặc trưng: (1) Xã hội hoá toàn bộ nền kinh tế và văn hoá để mỗi cá nhân nắm trong tay điều kiện phát triển cân bằng và tối đa cả 2 mặt tinh thần lẫn vật chất. (2) Vai trò của nhà nước là điều hoà phối hợp giữa các khu vực của nền kinh tế quốc dân; và giữa các ngành nghệ thuật của văn hoá dân tộc. Chứ không phải là quản lý. (3) Nền giáo dục Nhân Bản phát huy Sinh Năng, vì Sinh Năng mới là tự do tối thượng, mới là tình yêu đích thực, mới là nền tảng luân lý và đạo đức của xã hội. (4) Về thể chế chính trị mỗi quốc gia: 

Hạ tầng: Số hóa và Kỹ nghệ hóa + con người Nhân bản hơn.

Hạ tầng này quyết định thượng tầng mới (nhà nước) đi vào vừa cạnh tranh vừa hợp tác thuận hơn. 

Các nước giầu (1/3 dân số, ở Bắc bán cầu) làm Cách Mạng Số. Cách mạng Kỹ-Nghệ-Hóa được chuyển giao cho các nước nghèo (2/3 dân số ở Nam) thông qua đầu tư vốn, kỹ thuật, quản lý để lấp hố xa cách giầu – nghèo, mâu thuẫn chính.

Tất cả các nước, kể cả những siêu cường Số như Mỹ – Trung –  Nhật – Đức – Nga, đều thấy cần phải có hành động phối hợp, bất chấp kết quả 3-11 ở Mỹ, mới có thể giải quyết những thách thức đa dạng vượt xa khả năng của bất cứ một siêu cường nào, như: hố xa cách giầu – nghèo, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường sống, sử dụng không gian, phân chia tài nguyên đáy biển, chiến tranh mạng, giải trừ vũ khí nguyên tử, nạn khủng bố, phân biệt chủng tộc, chống các đại dịch như Covid-19… 

Tóm lại, thế giới đang tiến đến Hợp tác kinh tế Bắc – Nam và Giao hòa Đông – Tây về văn hóa. Hướng đúng, hợp lòng người!

Bs Nguyễn Đan Quế  gửi cho Nghiệp đoàn Giáo chức Việt Nam

Nồi Đồng, Nồi Đất!?

Nồi Đồng và Nồi Đất là hàng xóm của nhau.

Hình minh họa (sưu tầm)

Một hôm, có chuyện xích mích nhỏ, hai bên cãi nhau. Nồi Đất nói:

– Tổ tiên chúng tao ngày trước đã từng hầu hạ Hoàng Thượng, cứ như họ hàng Nồi Đồng nhà chúng bay sinh sau đẻ muộn có công trạng gì mà tinh tướng! Cứ đụng vào ta mà xem, mạng đổi mạng, sợ gì!

Vừa dứt lời, Nồi Đất liền xông lên chực đánh Nồi Đồng. Thấy vậy, Nồi Đồng nghĩ:

– Nếu ta nóng nảy, chẳng may lỡ tay đánh vỡ Nồi Đất thì thân ta cũng chẳng được yên!

Thế là Nồi Đồng bèn nhịn cho êm chuyện, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Nồi Đất trong lòng hả hê lắm!

Lần khác, hai bên lại cãi nhau to. Tưởng bắt nạt được Nồi Đồng như lần trước, Nồi Đất hung hăng lao vào. Nhưng chẳng may cho Nồi Đất, đang lúc ấy Nồi Đồng đứng dựa lưng vào cột hiên trước nhà, bất ngờ Nồi Đồng lách người tránh sang một bên. Nồi Đất va mạnh vào cột nhà vỡ tan tành!11/10/2020 Đăng Phước

Nhìn xa, trông rộng …

Trong nền giáo dục hiện tại của nước nhà dưới triều đại độc tài toàn trị của những người cộng sản cuồng tín đi theo Mác Lê Mao chủ nghĩa, đã thể hiện rất nhiều bất cập. Đó là không có sự học hỏi. Bởi vì không chấp nhận tư duy đối lập có nghĩa là không cho phép được hỏi những gì không phù hợp, mà chỉ biết học vẹt có nghĩa là học theo kiểu của con vẹt. Học mà không có nhận thức. Do đó mà nền giáo dục mới bị thui chột và xuống cấp. Hôm nay, tôi muốn chuyển tải một bài học rất đơn giản qua câu chuyện đối thoại giữa một nhà sư với một anh chàng thư sinh.

Hình minh họa (sưu tầm)

Từ lúc qua đò Gián, đi dọc theo con đê rồi quẹo vào đường cái quan, hướng theo núi Gôi mà đi về phía Nam Định, có lẽ đã khá lâu vì chàng thư sinh cảm thấy mệt mỏi; hơn nữa mặt trời đã ngả về dãy núi đá vôi vùng Trường Yên sau lưng chàng.
Khi thấy cổng chùa, mắt chàng sáng lên vì đây tuy chưa phải là trường thi hương Nam Định, nhưng là nơi chàng đến nghỉ đêm nay.


Sau khi chào hỏi và trình thư giới thiệu của người quen, thư sinh được nhà sư mời vào nghỉ trong một căn phòng nhỏ, bên cạnh phòng của nhà sư. Phòng này quá đơn sơ, chứng tỏ chùa thuộc loại nghèo. Chùa vắng vẻ, chỉ có hai thày trò, một nhà sư đứng tuổi và một chú tiểu.


Tối đến, chú tiểu bưng khay cơm vào mời thư sinh, rõ ràng là cơm nhà chùa xứ quê; ngoài liễn cơm đỏ, còn một bát canh mướp mùng tơi, cạnh một chén cà và một bìa đậu phụ nướng. Thế mà thư sinh thấy ngon tuyệt.


Một lúc sau, chú tiểu vào dọn khay cơm và lễ phép mời chàng sang uống trà với nhà sư. Sau vài câu chuyện xã giao, thư sinh lân la hỏi về cuộc đời tu hành của nhà sư. Ông cho biết ông đi tu từ thuở nhỏ, theo thày học Phật bằng chữ Hán – vì thế được học thêm cả Nho và Lão – thuộc môn phái Trúc Lâm Yên Tử mà sơ tổ là Hương Vân Đại Đầu Đà tức là vua Trần Nhân Tông. Dòng thiền này hoàn toàn Việt Nam, do người Việt Nam sáng lập tại một ngôi chùa trên núi Yên Tử, truyền bá tại Việt Nam.

– Bạch thầy, nếu có người xin thầy cho nghe Phật pháp trong một lúc thôi thì thầy sẽ nói những gì ?

– Đức Phật thuyết pháp trong 45 năm, chỉ thuyết mà không viết. Sau khi ngài nhập diệt, có mấy cuộc kết tập để ôn lại những những lời giảng dạy của ngài. Lần thứ ba, người ta chép lại thành ba loại : Kinh, Luật, Luận, gọi chung là Tam Tạng. Thiên kinh vạn quyển, thế mà thí chủ bảo tôi nói trong một lúc thì nói sao nổi !

– Dù sao cũng xin thầy ban cho vài lời.

– Vậy thì tôi xin nói: Trên thế gian này, tất cả các hiện tượng mà người ta nhận được bằng các giác quan, đều là vô thường, nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, chẳng có gì là vĩnh cửu cả.
Mọi sự, mọi thứ – nhà Phật gọi là vạn pháp – đều tuân theo luật “thành, trụ, dị, diệt” hay “thành, trụ, hoại, không”, thay đổi có khác nhau chăng chỉ là nhanh hay chậm. Kiếp của phù du thì mau, kiếp của trái núi hẳn là lâu lắm. Dù sao, trong mỗi sát-na, thì vẫn có thay đổi, biến dịch. Đó là nói về hiện tượng, nhưng nhà Phật lại xác nhận rằng hết thảy mọi hiện tượng đều có chung một bản thể bất di bất dịch, thường hằng, vĩnh viễn. Bản thể này, các giác quan thông thường không thể “nhận thấy được”. Kinh sách có dùng một thí dụ thật hay, hay đến nỗi khó có thể tìm một thí dụ khác để thay thế được : Phật học ví các hiện tượng như các đợt sóng trên mặt đại dương ; muôn vàn sóng, mỗi mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một thứ, đó là nước. Sóng dụ cho hiện tượng, nước dụ cho bản thể.

– Chẳng hay điều ấy có ích chi cho xã hội ?

– Biết vạn pháp là vô thường thì chớ có bám víu vào làm chi. Tiền tài, danh vọng … đâu có bền. Nên tìm một cái gì vững bền hơn. Nếu cứ ham cái này, thích cái kia, đến độ ham quá, thích quá, lòng như lửa đốt thì dám làm những điều ác để thỏa lòng dục. Tham dục là gốc của khổ đau. Người con Phật được dạy “thiểu dục tri túc”, kẻ xuất gia được luyện “diệt dục”. Bản thân bớt tham, tránh điều ác, làm điều lành, như vậy, xã hội chẳng tốt hơn hay sao ?

– Tiểu sinh thấy vấn đề “bản thể” thật khó “vào” , vì có cách nào mà “thấy” đâu !

– Đó là khía cạnh tôn giáo của vấn đề. Xác nhận một điều mà không “chứng minh” điều ấy, quả thật là khó chấp nhận. Tôn giáo có giáo điều, không chứng minh ; đạo Phật có giáo điều của đạo Phật. Đó là “vạn pháp có chung một bản thể”. Nói cách khác, dùng cho Phật tử : “ai ai cũng có Phật tánh”. Phật tánh là gì ? Bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh … Không một lời nào để diễn tả “nó” được, phải “cảm”, phải “ngộ”, phải “giác” Lại hỏi “làm sao mà giác?”. Có nhiều cách, nhiều pháp môn, tùy người ta lựa chọn theo căn cơ của mình.Trong khi thầy đang đi tìm giác, thầy có nghĩ rằng xã hội đang cần thầy không ?Thí chủ dùng chữ nhẹ nhàng, người khác nói trắng ra rằng tôi là kẻ ăn bám xã hội, “trốn việc quan đi ở chùa”. Nhưng thí chủ ạ, tôi và chú tiểu hàng ngày làm việc quần quật, cuốc
xới mấy sào vườn để độ nhật, không hề ăn bám làng xóm, đồng bào. Một thiền sư đã dạy: “Một ngày không làm là một ngày không ăn”. Tôi không lên rừng, tôi không lên núi, tôi ở đây sống giữa bà con và mang lại cho bà con những giúp đỡ về tinh thần, những dìu dắt về tâm linh mỗi khi bà con cần đến.Bạch thầy, nếu tiểu sinh không lầm, thầy đã coi mọi thứ như huyễn rồi, thế thì còn lo việc hàng ngày cho mình và cho người làm gì, mệt cả thân lẫn trí ?Quả thật, giấc mộng cả đấy. Trong giấc mộng, người nằm mộng thấy mình nói thật, thấy mình nghĩ thật, thấy mình làm thật, tỉnh dậy nhiều khi toát mồ hôi. Nay mọi pháp đã là huyễn, thì xử sự như huyễn, tu như huyễn. Nhưng nói như thế làm gì mà hóa ra gàn! Đây này, có hai sự thật, sự thật thế gian và sự thật xuất thế gian, nói khác đi là: sự thật của thế
giới tương đối và sự thật tuyệt đối. Theo tuyệt đối thì thế này, theo tương đối thì thế kia. Kẻ tu hành tùy cơ xử sự mà không để mất mục tiêu của mình. Chắc hẳn thí chủ đã nghe nói về chuyện một một vị bồ-tát kia, thấy mẹ con con hổ đói quá, bèn nhảy xuống vực bố thí thân mình cho hổ ăn. Vô lý quá, điên quá phải không? Xuất thế gian là như thế, nhưng phải đi đến một trình độ nào đó, đạt đến một mức tuyệt đối nào đó, không phải chỉ mặc áo cà-sa là được đâu! Thế gian có những quy luật của thế gian, có ăn mặc, có giận hờn, buồn tủi, vui mừng… Kẻ tu hành tự kiểm soát, tự kiềm chế, điều thân, điều tâm mong ngộ rồi nhập vào bản thể – cái bản thể mà không ngôn từ nào diễn tả cho nổi, cái bản thể mà chúng tôi gọi là pháp thân.

– Bạch thầy, thế rồi việc đời sẽ ra sao ?

– Việc đời vẫn theo quy luật của vũ trụ, vẫn theo luật duyên khởi, luật nhân quả nghiệp báo, luật thành trụ hoại không. Nhưng kẻ thành đạo không hưởng cái vui giải thoát một mình đâu, vì bồ-tát đạo dạy rằng: Chúng sinh còn thì còn phải giúp chúng sinh. Cho nên có câu xắn tay áo đi vào chợ trong cửa thiền.

– Quả là hay ! Xuất thế gian mà chẳng ly thế gian. Tiểu sinh xin phép lấy việc thế gian gần đây để trình thầy: quân Lang-sa đánh phá Thăng Long, quan Tổng đốc cùng con trai, con rể quyết giữ thành, đã hy sinh cả nhà. Có một quan chưởng binh và một trăm chiến sĩ dưới quyền đã chiến đấu anh dũng và cùng bỏ mình ở ô Đông Hà. Nay đồng bào gọi ô Đông Hà là ô Quan Chưởng. Thầy có nghe thấy việc này không ?

– Mọi người nghe thấy thì tôi cũng nghe thấy. Thí chủ cho rằng tôi đã điếc hai tai chăng? Tôi đi tu, đúng vậy ; song tôi là người Việt Nam cho nên cái đau của người Việt Nam là cái đau của tôi. Có khác chăng là khác ở cách bộc lộ cái đau ấy, cách phản ứng với cái đau ấy mà
thôi.

– Bạch thầy, tiểu sinh nghe cái đau ấy là cái nghiệp, cần phải trả hết cái nghiệp ấy đi, có phải
như thế không ?

– Đúng thế, gây nhân, chịu quả, hứng nghiệp, là một quy luật bất khả dịch. Đạo Phật có dạy như vậy, nhưng không phải chỉ dạy có vậy. Cải nghiệp được mà, nhà nho nói “đức năng thắng số” mà. Gây nhân lành để tạo ra cái lá chắn đỡ mũi tên của nghiệp ác được chứ! Khía
cạnh này, thí chủ đã nghe thấy chưa?

– Đa tạ thầy đã chỉ giáo ; tiểu sinh nghe nói thoát tục nên mới mạo muội đem cái đau của dân
tộc ra trình với thầy để nghe thầy chỉ giáo, chứ không hề có ý láo xược nghĩ đến câu “thương nữ bất tri vong quốc hận” ; xin thầy hiểu cho. Thầy đã cho hầu chuyện, tuy khuya rồi, xin thầy ban cho vài điều về đất nước.

– Thí chủ quả là khéo, muốn thử ý tôi. Không sao đâu. Đối với tôi, cái ngã nó khá nhỏ, tôi không để tâm dù cho thí chủ nghĩ có rằng tôi “mũ ni che tai”. Thí chủ ạ, tiếng vẫn lọt qua mũ ni chứ!

– Bạch thầy, tiểu sinh còn ít tuổi, nghĩ ngợi chưa chín chắn. Mong thầy dạy cho vài điều về đất nước.

– Vâng, thái rồi bĩ, bĩ rồi thái. Đang bĩ thì lo xây dựng cái thái. Nhớ lại ngày đại phá Mông Cổ, đại phá Minh, Thanh, nhớ lại ngày đọc Hịch Tướng Sĩ, đọc Bình Ngô Đại Cáo… , đó là sử. Coi việc trước mắt, thấy chướng tai gai mắt, luân thường đảo lộn, thấy đau thương nhục nhã. Đó là hiện tại. Rồi tới tương lai. Nhưng tương lai ra sao? Phải có những người quân tử – gọi vậy cho tiện, khỏi phải tìm chữ khác – nhìn xa hơn người thường. Vì thế mới có câu “nhìn xa trông rộng”. Thấy đường đi nước bước của hiện tại, học các bài học của quá khứ, rồi tìm ra, nhận thấy, nhận rõ bước sắp tới, và cả một đường dài vị lai, thế mới là lãnh đạo.

– Tiểu sinh thành thực xin thầy hé cho thấy con đường vị lai.

– Không dám. Không phải ai cũng nhìn được xa. Nếu tôi nhìn được xa, hẳn là tôi đã không ngồi tu ở chùa này. Ngài Trần Khánh Dư quảy “gánh càn khôn” xuống ngàn, ngài Trần Nguyên Hãn gánh dầu đi bán, tìm bạn đồng hành – và tìm thấy – để cùng vào Lam Sơn gặp minh chủ . Các vị đó và nhiều vị khác nữa là những người khổng lồ, đã nhìn được xa hơn mà còn có cả viễn kính để nhìn xa nữa, chỉ đường cho dân tộc tiến lên. Kẻ hèn này không theo được đâu.

– Chẳng lẽ khoanh tay ?

– Không, không. Dân tộc không thể mất được nếu như văn hóa còn. Văn hóa kể từ cái răng, cái tóc, miếng ăn, đồ mặc … cho đến đời sống tâm linh. Theo tôi, mặt tâm linh vô hình mà lại hữu hiệu. Nếu không đánh mất đời sống tâm linh thì không thể mất dân tộc được. Thí chủ ạ, nếu mỗi người tìm giữ tâm linh ấy theo cách của mình thì có lẽ hay lắm. Nhà Nho mà không “hủ Nho”, nhà Thích mà không “hủ Thích”, gắng nhắm trúng cái gì bền vững nhất đối với tâm linh của dân tộc ta, thì mới là hay, là chánh, là tiến. Tôi biết nhà nho đôi khi làm thơ châm biếm chúng tôi, chúng tôi chỉ cười, chẳng lẽ chúng tôi làm thơ nói lại? Trong Phật giáo, người ta có nói đến một thời kỳ gọi là “mạt pháp”, nay chắc là thời đó, nhưng “y pháp, bất y nhân”.

– Đa tạ, đa tạ. Thầy có làm thơ, xin thầy cho nghe mấy bài.

– Không dám. Người Việt Nam nào mà chẳng làm thơ. Tiếng mình đã là thơ rồi mà. Có thiếu chăng là thiếu cái nội dung của thơ, cái hồn của thơ. Đi tu như chúng tôi, cần nhất là cái hạnh “từ bi”, nôm na là “cho vui, cứu khổ”. Cuộc đời là bể khổ nên phải học cứu khổ, mà muốn cứu khổ thì phải quên “ngã”, đồng thời biết rung động. Trước khi đến bậc bồ-tát hoàn toàn giác ngộ, chuyên tâm cứu khổ cho vui, người tu hành phải qua thời biết rung động. Từ rung động này mà hay thành nhà thơ. Nhưng phải nghe cho rõ: tôi nói “hay thành nhà thơ” chứ tôi không nói “thành nhà thơ hay”. Thí chủ muốn đọc thơ của Thích tử thì tôi xin giới thiệu thơ của Tam tổ Huyền Quang, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử.

Đêm đã khuya, thư sinh từ biệt nhà sư, về phòng nghỉ. Tuy mỏi mệt, thư sinh vẫn trằn trọc không ngủ được. Nhà sư này nói “không biết nhìn xa”, nhưng ít nhất cũng đã nhìn được gần, nhìn ra con đường đi cho bản thân, nhìn ra bổn phận đối với xóm làng và biết đau cái đau của dân tộc. Đức Thích-Ca đã nhìn được xa hơn, tìm ra đường thoát khổ cho hết thảy chúng sinh. Còn con đường của đất nước này, ai nhìn ra, ai đã nhìn ra, ai sẽ nhìn ra? Đầu thế kỷ XV, có nhà chiến lược kiêm thi sĩ đã viết nên Bình Ngô sách; thế kỷ này, có ai đây?


Sáng hôm sau, từ biệt nhà sư, chàng thư sinh lại lên đường nhưng không đi về hướng Nam Định để tìm nhà trọ, thuê lều chõng sửa soạn đi thi Hương, mà lại quay về làng. Sau đó, không ai biết chàng đi đâu. Có người nói rằng chàng đi tìm những vị biết nhìn xa.

Ngày 5 tháng 9 năm 2020
Tác giả Tôn Nữ Thóc Nâu – gửi đến Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt nam từ Califonia – USA
 

Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa

PHAN HUY QUÁT – Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH

Ông PHAN HUY QUÁT – Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH


MỞ ĐẦU
Đối tượng của bài viết này là chương trình và sách giáo khoa miền Nam
1954-1975, tuy nhiên nếu không nhắc sơ lại thời kỳ quá độ trong đó nền giáo dục
Việt Nam chuyển từ cựu học sang tân học, chúng ta sẽ khó theo dõi để nhận ra một
cách rõ ràng những sự thay đổi cùng tên gọi các cấp, lớp, ban học, cũng như nội
dung cụ thể của các chương trình học mới sau này.
Có thể nói, không kể thời kỳ Nho học mà sự cáo chung được đánh dấu
bằng khoa thi Hội cuối cùng ở Trung Kỳ vào tháng 4 năm Kỷ Mùi (1919), nền giáo
dục hiện đại Việt Nam chỉ bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đã
củng cố xong nền cai trị của họ tại Việt Nam.
Lý do chấm dứt con đường học hành thi cử truyền thống đã được vua Khải
Định đưa ra trong lời phê tờ trình của Bộ Học, trước khoa thi cuối cùng nêu trên:
“Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn. Trẫm nghĩ
rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con
đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt” (theo Khải Định
chính yếu sơ tập).
Trước đó, kể từ Đạo dụ ngày 31/5/1906, chính phủ Bảo hộ Pháp được sự
thỏa thuận của Nam triều ấn định nền học chính mới thay dần cho nền giáo dục
Nho học cũ, áp dụng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, theo đó chia làm ba bậc học:
(1) Ấu học gồm lớp Đồng ấu (lớp Năm), lớp Dự bị (lớp Tư), lớp Sơ đẳng
(lớp Ba). Chương trình học gồm chữ Pháp và chữ Quốc ngữ; cuối bậc Ấu học (tức
lớp Ba), học sinh phải qua một kỳ thi để lấy bằng Sơ học Yếu lược (Primaire
Élémentaire).

(2) Tiểu học gồm lớp Nhì năm thứ nhứt (Cours Moyen 1ère année), lớp
Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2ème année), và lớp Nhứt (Cours Supérieur).
Chương trình học cũng gồm chữ Pháp và chữ Quốc ngữ; cuối cấp thi lấy bằng Tiểu
học Yếu lược, cũng gọi Sơ đẳng Tiểu học hay Sơ học Pháp Việt (Certificat d’Etude
Primaire Franco-Indigène, tương đương bằng Tiểu học sau này).
(3) Trung học, gồm hai cấp/ ban Cao đẳng Tiểu học và Tú tài: (a) Cao
đẳng Tiểu học học đủ các môn Pháp văn, Toán, Lý, Hóa, Vạn vật (Sinh vật), Sử,
Địa… tương tự chương trình Pháp, gồm 4 năm: Nhất niên (1 ère année), Nhị niên
(2 ème année), Tam niên (3 ème année), Tứ niên (4 ème année). Tất cả đều dạy
bằng tiếng Pháp, trừ 2 môn Việt văn và Hán văn; (b) Tú tài (Enseignement
secondaire, tương đương Trung học Đệ nhị cấp hay cấp III sau này), thời gian học
3 năm (tương tự 3 lớp bậc sau cùng của chương trình Trung học Pháp), chia làm 3
ban Triết học/ Văn chương, Toán và Khoa học, với học trình gồm các lớp Đệ nhất
niên (1 ère année secondaire, tương đương lớp Đệ tam hay lớp 10 sau này), Đệ nhị
niên (2 ème année secondaire, tương đương lớp Đệ nhị hay lớp 11 sau này) và Đệ
tam niên (3 ème année secondaire, tương đương lớp Đệ nhất hay lớp 12 sau này).
Cũng dạy toàn bằng tiếng Pháp, trừ môn Việt văn và Triết học Trung Hoa. Kể từ
Đệ nhất niên đã bắt đầu phân ban gồm ban Khoa học (Sciences), ban Toán
(Mathématiques), ban Triết (Philosophie). Học sinh học xong Đệ nhị niên (tương
đương lớp Đệ nhị hay lớp 11 sau này) thi lấy bằng Tú tài I (hay Tú tài phần I), nếu
đậu mới được học năm cuối cùng (Đệ tam niên, tương đương lớp Đệ nhất hay lớp
12 sau này) để thi lấy bằng Tú tài II (hay Tú tài toàn phần).
Riêng ở Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên nền học chính đều theo quy chế
thuộc địa, chỉ có chương trình Pháp, nhưng ở vài trường (như Chasseloup Laubat,
Pétrus Ký… ở Sài Gòn) cũng có dạy thêm một số giờ tiếng Việt.
Ở Bắc và Trung, hai chương trình trung học Pháp và Pháp Việt nêu trên
vẫn được áp dụng cho đến năm 1945 thì được thay bằng chương trình toàn Việt
(lấy tiếng Việt làm chuyển ngữ) ban hành trong thời chính phủ Trần Trọng Kim

bằng Dụ số 67 ngày 3/6/1945 do Hoàng đế Bảo Đại ký và được thực thi ngay với
khoa thi Tú tài niên khóa 1944-1945. Đây là chương trình trung học Việt Nam đầu
tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam hiện đại, tham khảo từ chương trình Pháp,
quen gọi Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn, vì do một nhóm giáo sư tâm
huyết ở Hà Nội và Huế biên soạn cấp tốc chỉ trong khoảng 10 ngày, dưới sự chủ
trì, đôn đốc của Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn.
Riêng ở Nam, đến năm 1949, trong thời kỳ Quốc gia Việt Nam dưới quyền
Quốc trưởng Bảo Đại, chương trình cũ (Pháp và Pháp Việt) mới được thay thế
bằng chương trình Hoàng Xuân Hãn.
Đến tháng 9/1949, hai bộ Chương trình Giáo dục Việt Nam mới dành cho
bậc Tiểu học và bậc Trung học với một số thay đổi từ chương trình Hoàng Xuân
Hãn đã được ban hành chỉ cách nhau chừng tuần lễ, dưới thời Bộ trưởng Quốc gia
Giáo dục Phan Huy Quát, để áp dụng chung trong những vùng thuộc Quốc gia Việt
Nam kiểm soát. Được biết sau đó, cả hai bộ chương trình này còn được cải cách
thêm lần nữa vào năm 1953 dưới thời Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Nguyễn
Dương Đôn.
Vì vậy, để thấy được sự tiến triển qua các thời kỳ của chương trình và sách
giáo khoa Việt Nam giai đoạn 1954-1975, chúng ta không thể không xét qua một
số bộ chương trình giáo dục cũ nhưng có tính cơ sở như vừa nêu trên, trong đó có
Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn 1945, và Chương trình Tiểu học 1949,
vì những bộ chương trình Trung và Tiểu khác về sau đều dựa theo 2 bộ chương
trình này để từ đó chỉnh sửa và phát triển thêm, với sự thay đổi gần như không
đáng kể.
Hiện nay, mặc dù chỉ mới sau 40 năm thay đổi, việc khảo sát/ nghiên cứu
đầy đủ về chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước đây là một việc làm
không dễ chút nào. Nguyên do vì các thư viện cả tư nhân lẫn nhà nước đều ít có
chỗ nào quan tâm lưu trữ loại tài liệu này (kể cả Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư
viện Tổng hợp TP HCM, Thư viện Khoa học Xã hội TP HCM…), loại tài liệu mà

người ta đơn giản cho rằng không còn cần dùng đến nữa, nên sau ngày 30/4/1975
đã bị vô tình hủy bỏ hầu hết. Chúng tôi đã ráng lùng sục, hỏi han khắp nơi vẫn
chưa tìm đủ được tất cả những bộ chương trình giáo dục đã được Bộ Quốc gia
Giáo dục miền Nam in ra, còn về sách giáo khoa phục vụ cho chương trình giảng
dạy thì tuy cũng tương tự như vậy nhưng may mắn lại được một số người yêu sách
“hoài cổ” giữ được chút ít. Vì vậy, khi trình bày bài viết này, đặc biệt ở phần
chương trình giáo dục, có những chỗ chúng tôi sẽ trích dẫn nguyên văn tài liệu cũ
khá dài, không phải không biết ngại tốn giấy mực, nhưng ngoài việc minh họa còn
có ý phần nào giúp thế hệ trẻ và những người nghiên cứu lịch sử giáo dục sau này
có sẵn tài liệu tham khảo, khi cần thì vẫn có thể trích dẫn lại được, mà không quá
vất vả như khi chúng tôi phải đi tìm chúng (ở những đoạn trích nguyên văn này,
chúng tôi sẽ cho in bằng font chữ khác với cỡ chữ nhỏ hơn bình thường, cho dễ
phân biệt).
Phần mô tả nội dung cụ thể chương trình học mỗi cấp lớp của hai bậc
Trung, Tiểu học, cũng như sách giáo khoa tương ứng, chúng tôi sẽ chỉ tập trung
vào 3 môn Văn, Đạo đức/ Công dân giáo dục (Tiểu học, Trung học hay cấp I, II) và
Triết (Trung học Đệ nhị cấp hay cấp III) vì nếu giới thiệu sang tất cả những môn
khác sẽ quá mênh mông dài dòng, và vì đây cũng là 3 môn học tiêu biểu cho thấy
những nét đặc trưng của nền giáo dục miền Nam 1954-1975 vốn dựa trên nền tảng
triết lý giáo dục (hay những nguyên tắc căn bản) gồm Nhân bản, Dân tộc và Khai
phóng. Về sách giáo khoa liên quan các bộ môn trên, chúng tôi cũng lại xin chú
trọng giới thiệu chi tiết hơn về sách giáo khoa của bậc Tiểu học, vì quan niệm đây
là bậc học phổ thông nền tảng có tính đại chúng quyết định cho những bậc học tiếp
sau.
Tuy chủ đề bài viết là chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước
1975, nhưng khi trình bày cho từng đề mục hữu quan, chúng tôi không thể không
nhắc qua những giai đoạn trước đó, vì nếu không làm như vậy, sẽ không thể nhận
ra được mối liên lạc nhân quả trong suốt dòng mạch phát triển có tính kế thừa và
liên tục. Chẳng hạn, nếu không nắm bắt sơ qua nội dung các sách giáo khoa về

Quốc văn, Luân lý của thời Trần Trọng Kim trước đó thì sẽ không thể hiểu được lý
do về nội dung hiện hữu của các sách giáo khoa Quốc văn, Đạo đức, Công dân
giáo dục về sau. Tương tự, tìm hiểu về chương trình học của miền Nam trước
1975, như trên đã nói, chúng ta cũng không thể không xét tới những bộ chương
trình cũ đã được biên soạn trước, từ 1945.
Riêng về chương trình và sách giáo khoa ở bậc Đại học, chúng tôi cũng
xin nói lướt qua cho biết vậy thôi, đơn giản chỉ vì Đại học miền Nam được quyền
tự trị, về học vụ mỗi trường đại học tự lo lấy, không có chương trình học quy định
và cũng không bị Bộ Quốc gia Giáo dục chi phối, chỉ đạo. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ
xin lưu ý giới thiệu sơ qua chương trình học và một số giáo trình thường được
giảng dạy trong các trường Đại học Sư phạm, vì quan niệm đây như bộ “máy cái”
đào tạo giáo viên, có tác dụng rất quan trọng đối với toàn bộ sự phát triển của nền
giáo dục chung cả nước.

A. CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TIỂU HỌC
I. CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC

  1. Chương trình Tiểu học 1949
    a. Tổng quát
    Chương trình Tiểu học Việt Nam đầu tiên được ban hành theo Nghị định
    4-NĐ/GD trong thời kỳ Quốc gia Việt Nam dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại, do
    Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Phan Huy Quát ký ngày 27/8/1949.
    Bậc Tiểu học 5 năm 5 lớp, xếp theo thứ tự từ thấp lên cao, gồm: lớp Năm
    (tương đương lớp 1 sau này), lớp Tư (tương đương lớp 2), lớp Ba (tương đương
    lớp 3), lớp Nhì (tương đương lớp 4), lớp Nhất (tương đương lớp 5).

Các môn học: Việt ngữ (Ngữ vựng – Tập đọc và Học thuộc lòng – Văn
phạm, Chính tả và Viết tập – Tập làm văn), Đức dục, Công dân giáo dục, Sử ký,
Địa lý, Khoa học thường thức, Toán pháp, Tập vẽ, Thủ công, Hoạt động thanh niên
và tổ chức hàng đội tự trị, Thể dục, Học hát-Tập kịch-Học nói, Họp lớp, Đi chơi,
Đi cắm trại, Trò chơi.
Chương trình này đã đánh dấu một bước ngoặt tiến triển quan trọng trong
lịch sử giáo dục tiểu học Việt Nam, trở thành căn cứ tham khảo cho những chương
trình tiểu học tiếp sau trong thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Dưới đây là “Chỉ
thị chung” cũng do Bộ trưởng Phan Huy Quát ký tại Hà Nội ngày 24/8/1949, ban
hành như một phụ bản kèm theo Nghị định 4-NĐ/GD nêu trên, nội dung tuy có
phần hơi rối rắm thiếu mạch lạc nhưng cũng đủ cho thấy chủ trương chính sách
qua đó những phương pháp của nền giáo dục mới đã được chính thức đem ra áp
dụng tại Việt Nam cho bậc Tiểu học:

CHỈ THỊ CHUNG
Bậc tiểu học là căn bản của nền quốc gia giáo dục.
Ngành tiểu học có nhiệm vụ đào tạo những thế hệ thanh niên xứng đáng
của một nước độc lập.
Chương trình bậc tiểu học đã soạn theo những nguyên tắc mới để cho nền
giáo dục thời nay được phù hợp với sự tiến hóa của dân tộc và tính cách độc lập
của quốc gia.
1) Tinh thần quốc gia.- Nêu cao tinh thần quốc gia để khích lệ lòng ái quốc
và chấn khởi dân khí. Tinh thần quốc gia Việt Nam ngày nay là tinh thần của một
dân tộc biết tự cường, tự lập, biết phấn đấu để giành độc lập, biết kiên quyết để giữ

giang sơn Tổ quốc, biết nỗ lực để ganh đua với người ngoài trên con đường tiến
hóa của nhân loại.
2) Cưỡng bách giáo dục.- Muốn đạt được mục tiêu nói trên, nền tiểu học
phải đi đến cưỡng bách giáo dục. Bộ đang nghiên cứu để tìm các phương tiện để
dần dần thực hiện được sự cưỡng bách giáo dục. Vì lẽ đó, nên chương trình tiểu
học không dành một số giờ về môn Pháp ngữ.
3) Chuyển ngữ các môn trong chương trình này là tiếng Việt, nên hạn tuổi
tối thiểu vào lớp Năm, là lớp đầu bậc tiểu học, rút xuống 5 tuổi (trước kia 6 tuổi).
Như thế, trẻ con có thể 10 tuổi đã học hết bậc tiểu học. Những học trò nào có thể
theo học bậc trung học được thì 17 tuổi đã thi lấy bằng Tú tài. So với nền trung học
của các nước Âu Mỹ, thì niên hạn ấy là tương đương, và các học sinh xuất sắc sau
này vào các trường đại học cũng một loạt tuổi nhau cả.
4) Lớp mẫu giáo.- Muốn cho trẻ con trước khi vào trường tiểu học đã
được huấn luyện theo các phương pháp khoa học, một lớp mẫu giáo sẽ thành lập
gần đây. Lớp ấy có mục đích là đào tạo một số giáo viên các lớp mẫu giáo sau này
để thu nhận các trẻ con dưới 5 tuổi.
5) Thể dục.- Cho nền giáo dục được hoàn toàn, chương trình bậc tiểu học
dành một địa vị quan trọng cho môn Thể dục. Một tinh thần mạnh mẽ trong một
thân thể cường tráng mới mong gánh vác nổi các công việc nặng nề kiến thiết quốc
gia.
Ngoài ra, sự chú trọng về thể dục là sửa soạn một số thanh niên để sau này
cung cấp cho các trường quốc gia võ bị có nhiệm vụ gây một quân đội Việt Nam
xứng đáng.
6) Ca nhạc.- Bí quyết của sự thành công trong việc giáo huấn trẻ con là sự
hoạt động và vui vẻ. Vì lẽ đó, nên ngay từ các lớp tiểu học, Bộ đã để riêng một số
giờ để dạy môn ca nhạc. Trẻ con thường thích hát và lại nhớ dai, những bài hát sẽ

được lựa chọn, và sẽ luôn luôn nhắc nhở cho chúng những điều chúng cần biết để
nuôi một tinh thần quốc gia mạnh mẽ, một lòng tin vững chắc.
7) Tinh thần đoàn kết.- Một dân tộc mà rời rạc thì tất nhiên yếu hèn, không
thể sinh tồn trong cái thế giới hơn được kém thua này. Nghĩa đoàn kết là một lợi
khí tối quan trọng trong sự tiến triển của một dân tộc. Học đường phải giải thích
cho trẻ biết nghĩa hợp quần. Muốn cụ thể hóa nghĩa đoàn kết, việc tổ chức tập đoàn
sẽ là một điều mới trong chương trình bậc tiểu học.
8) Học đường không có nhiệm vụ chỉ giáo huấn trẻ con, rồi để mặc chúng
tự ý xoay xở lấy. Muốn tránh những kết quả không hay do sự hiểu lầm ấy gây nên,
học đường cần phải liên lạc mật thiết với gia đình, để hướng dẫn học sinh vào các
ngành chuyên môn.
Để giúp vào công việc ấy, sẽ lập những phiếu để ghi các điều nhận xét về
sinh lý, về khả năng, về các điểm có liên can đến sức nảy nở của đứa trẻ về các
phương diện.
9) Ngoài ra, nếu có thuận tiện, sẽ đặt một học xưởng cạnh mỗi trường học
để học sinh có thể hằng ngày trực tiếp tế nhận các hoạt động của một tiểu công
nghệ.

Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 1949
Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục
PHAN HUY QUÁT

Sứ Mệnh Giáo Dục – Triết Lý Giảng Dạy

Giáo dục, với nhiều định nghĩa khác nhau, tuỳ theo thời đại, môi trường, xã hội, cơ chế hay truyền thống của từng miền, hay quốc gia. Có nơi cho rằng, giáo dục là sức mạnh; có nơi lại cho rằng, giáo dục là cơ hội–nhưng, riêng tác giả của bài viết nầy đã đi đến một kết luận khác, chủ quan, dựa vào kinh nghiệm được giáo dục, trải nghiệm một chuỗi năm tháng dài hơn 40 năm sống, làm việc và giảng dạy tại Mỹ–”Giáo dục giải thoát con người khỏi sự ngu dốt, áp bức và cùng khốn.”

Giáo Dục, không nghĩa là nhồi tọng vào đầu óc người trẻ, người học, một số kiến thức ắt có theo định hướng của một thể chế giáo dục, cấp cho họ một mảnh giấy, “bằng”, rồi đẩy họ vào trường đời, như bằng chứng của một kết quả giáo dục.

Giáo dục cũng không phải bài vở, bài tập, bài thi, bài. . .theo quy định của một cơ chế giáo dục. Ngày nay, giáo dục lại không còn lệ thuộc vào bốn bức tường, lớp học, giấy bút, hay bảng đen, phấn trắng-tuyệt nhiên không thể còn lối đọc chép, nhồi tọng theo lối từ chương. Ắt hẳn, châp lý của những gì từ nơi thầy cô là hoàn hảo, tuyệt đối, đúng, chân lý. Triết lý giáo dục, không phải là mới, không còn gì đáng ngờ vực, đó, chính là một hành trình song hành-giữa người hướng dẫn, thầy-cô, và người học, thiết tha vun xới tri thức, xây dựng một nền tảng kiến thức để rồi từ đó, mỗi người học, tự phát huy, vươn lên, thoát thân làm người. . .người có ăn học, người tri thức.

Giáo dục là một hành trình dài, nhiều thử thách, lắm thăng trầm, gắn liền với kiếp người đến hơi thở cuối đời.

Giáo dục không mua được bằng tiền tệ, quan hệ, quyền thế, hay bất cứ phương tiện nào khác, ngoài một ước mơ vươn lên làm người, người có phẩm giá, người có nhân cách, người hữu ích cho chính bản thân, tu thân, cho gia đình, tề gia, cho xã hội, phục vụ tha nhân, nhân loại.

Giáo dục, không chỉ nhìn qua riêng một lăng kính, tầm nhìn, góc độ tiếp cận cá biệt nào về mục đích, mục tiêu, hình thức, phương án, tiến trình, cơ chế, khoa sư phạm, giáo án, hay bất cứ tiến trình học hỏi, giáo dục nào–nhưng chính là qua một tầm nhìn tổng thể, trong đó có yếu tố văn hoá đi đầu, môi trường, ngôn ngữ, tâm sinh lý, truyền thống, kinh tế, xã hội, chính trị, tôn giáo và sau cùng là hai yếu tố tất yếu, vô cùng quan trọng, đó là: 1) người học, và 3) người dạy.

Tư duy, ý tưởng, quan tâm về giáo dục, không phải mới, không phải ít người bàn đến, không ít sách vở viết về chủ đề giáo dục; nhưng, nhìn vào kết quả giáo dục, người học đã được gì, đã giúp gì được cho bản thân, cho gia đình, và cho xã hội–đấy là thước đo thật chính xác ý nghĩa của giáo dục, chứ không bằng số lượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp, số bằng khổng lồ đăng tải thành tích loan trên mạng.

Hơn 300 năm trước, bên trời tây, John Locke[1], qua các bài “Essay Concerning Human Understanding”, (1690); “Some Thoughts Concerning Education” (1693), đã gây tác động mạnh và ảnh hưởng rộng lớn cả Âu châu về triết lý giáo dục, về khả năng tư duy, lý luận, cùng ước mơ vươn lên làm người. Locke đã nhấn mạnh đến ba (3) nguyên lý chính của sứ mệnh giáo dục: 1) Phát triển thể lý; 2) Hình thành con người đạo đức, và rồi, 3) Đạt đến những chọn lựa các môn học hợp với tài năng, khả năng và sở thích. Locke hàm ý, mọi người sinh ra trên đời, với một thể lý quân bình, đều có khả năng, có thể vươn lên, học hỏi, làm người như mọi người trong các tầng lớp xã hội, kể cả tầng lớp giàu có, quyền thế, bản vị.  Về khả năng trí tuệ, tư duy và sáng tạo của con người, Locke quan niệm rằng, trẻ con sinh ra trên đời, đều như tấm giấy trắng, không mang gì đến trần gian một hành trang trí tuệ gì khác, do đó, là những nhà giáo, với sứ mệnh giáo dục, kết quả một đời ăn học của một hoc sinh, sinh viên, là do thiện chí, nổ lực, dấn thân của nhà giáo, đóng góp vào, làm sao, cách nào, để tờ giấy trắng đó trở thành một sản phẩm hữu dụng, gía trị, một tuyệt tác cho xã hội.

A.    Người học-Học sinh-Sinh viên

Thế, trọng tâm của giáo dục, không phải là cơ chế, là nhà trường, là sách vở, là giáo trình, là thầy cô, nhưng chính là người học, học sinh, viên viên.

Lý luận, triết học đặt người học, học sinh, sinh viên là trọng tâm của sứ mệnh giáo dục, không có gì mới mẻ, đáng bàn đến. Vì, người học, học sinh, sinh viên, chính là lý do để cơ chế giáo dục, thầy cô, nhà trường hiện hữu, tồn tại và mang giá trị thương hiệu, uy tín đến cho một nền giáo dục, gia sản văn hoá nhân loại. Nhà trường, lớp học, không phải là môi trường đào tạo thiên tài, nhân tài, ngược lại, chính thiên tài, nhân tài, mang đến cho môi trường giáo dục, nhà trường, một ý nghĩa.

Giáo dục nhắm đến khích lệ, cổ động và thôi thúc người học, học sinh, sinh viên một đam mê khám phá, một đời bền bỉ, liên lỉ khám phá, trau đồi kiến thức và sáng tạo. Người học sẽ thấy phấn chấn, phấn khởi và hứng thú ăn học, say mê khám phá khi họ nhận diện ra chủ đề, môn, khoa học liên quan trực tiếp hay gián tiếp đếm tài năn, kỹ năng và đam mê của riêng họ. Nhìn vào tấm gương của Steve Job, cha sẻ của đứa con tinh thần iPhone và Apple computer. Chính ông ta đã không tìm thấy hứng thú qua giáo dục truyền thống của nhà trường, không làm việc theo phong cách cứng nhắc của một tập đoàn lãnh đạo công ty, không thể song hành cùng những ai chỉ có những tư duy hàn lâm, khuôn thức, gò bó, để rồi, Steve Job đã và đang thay đồi toàn diện sinh hoạt xã hội nhân loại. Từ đó, chỉ một iPhone nhỏ trong tay từng người tiêu dùng, công ty do Steve Job sáng lập nên, đã trở thành công ty thành công nhất trong lịch sử nhân loại-vược qua mức doanh lợi trên 1000 tỉ đô ($1,000,000,000,000.00; Aug. 2, 2018)[2]

Trong ngày hãng Apple vượt qua mức doanh thu trên 1000 tỉ đô Mỹ ($1 trillion US), chủ tịch Tim Cook gửi thông tư đến toàn thề 120,000 nhân viên, “Doanh thu của iPhone trên thị trường không phải là thước đo quan trọng [not the most important measure] về sự thành công của công ty, nhưng chính là sự thành công của việc chú trọng [focus on] về sản phẩm, khách tiêu dùng và những giá trị của công ty.”[3]

Cũng trong ngày hãng Apple đạt mức doanh thu trên 1000 tỉ đô, chủ tịch Tim Cook trả lời phỏng vấn, “Nếu chúng ta phục vụ người tiêu dùng rất mực thoả đáng, chúng ta đặt họ vào trung tâm điểm kinh nghiệm của chúng ta, quả thực, chúng ta đã làm như vậy, và nếu chúng ta chú tâm vào những sáng tạo, cung ứng cho khách tiêu dùng những sản phẩm giá trị, tôi thiết nghĩ, kết quả doanh thu vượt cao vút và lợi nhuận tất nhiên bời chúng ta đã tư duy và hành xử đúng.”[4]

Vậy, sản phẩm của nhà giáo là gì? và đối tượng sử dụng sản phầm giáo dục của nhà giáo là ai? Đó, chính là người học, học sinh, sinh viên, con em của hàng triệu phụ huynh, trong đó, ắt hẵn có con em của hàng ngàn, vạn thầy cô.

Nhà trường, môi trường giáo dục truyền thống, không phải là vườn ươm những thiên tài, nhân tài như Socrates, Leonardo daVinci, Thomas Edison, Bill Gates, Steve Job, Jack Ma, v.v. Nhiều nhà khoa bảng, được đào tạo từ Soviết, Nga, đều đồng ý rằng, Hoa Kỳ có một nền giáo dục rất tiên tiến. Thử nhìn vào cơ chế giáo dục phổ thông, trung học, “Home schooling”[5], dạy tại nhà, cho chính phụ huynh đảm trách, được công nhận như một hình thức giáo dục song song với nhà trường, vẫn được cấp bằng tốt nghiệp phổ thông như các trường lớp khác, công cũng như tư. Chương trình “Early College”[6], áp dụng các lớp của chương trình cao đẳng vào trung học phổ thông, từ lớp 9 đến lớp 12. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, học sinh được cấp hai (2) bằng, trung học và cao đẳng.  Nghĩa là, học sinh tốt nghiệp với hai bằng đó, sẽ tiệp tục học năm thứ 3, và 4 của chương trình cử nhân, thay vì mất 4 năm để theo đuổi chương trình đại học.

Nói vậy, để trở lại nguyên lý lấy người học làm trọng tâm (“Student Centered”[7]), thay vì cơ chế, thầy cô, giáo án, sách vở.

B.     Người dạy-Thầy-Cô, Giáo sư, Giảng viên, Giáo viên, Huấn luyện viên

1.      Người học, học sinh, sinh viên là trọng tâm (Student Centered)

Sự am hiểu và cách ứng phó với cảm xúc học tập của người học, học sinh, sinh viên, là mục tiêu của nhà giáo. Để đạt được mục tiêu này, sự tham gia tích cực của người học, học sinh là điều hết sức quan trọng. Để truyền cảm hứng cho sinh viên, nhà giáo phải giảng dạy một cách sáng tạo và chú ý đến tính đa dạng của mọi thành phần trong lớp. Đến lớp, học sinh, sinh viên không chỉ mang theo với họ văn hóa của cộng đồng, của gia đình, mà còn cả văn hóa văn hóa học tập và văn hoá sống riêng của từng cá nhân. Học sinh đơn phương theo đuổi mục tiêu cá nhân riêng, nhưng qua lăng kính tập thể, họ tạo thành một văn hóa lớp học, nơi họ sẽ tích cực tham gia học tập hiệu quả theo nhóm, đội, đoàn, và tích cực tham gia vào một diễn đàn dân chủ để khám phá các xu hướng mới, khái niệm chính trị và tư pháp không quen thuộc.

Giảng dạy, với nhà giáo, không phải là một công việc, hay một nghề nghiệp–Đó là một sứ mệnh mà nhiều thầy cô đã thay đổi rất nhiều cuộc sống của học sinh. Chính thầy cô, thuở xưa, cũng đã là những người học trò may mắn đó. Đã được hấp thụ giáo dục tốt và thầm mong một ngày cũng sẽ trở thành những nhà giáo thiết tha với sứ mệnh giáo dục, giúp người học, học sinh, tự giải thoát lấy chính họ, để khỏi trở thành những con số trong thống kê giáo dục.

Thầy cô phải ý thức và tin tưởng mãnh liệt rằng giáo viên, giảng viên không phải người chấm điểm, cho điểm, nắm lấy vận mệnh, sức vươn lên, khả năng thăng tiến của học sinh trong tay mình-nhưng, cùng song hành với học sinh, và giúp họ khám phá ra tiềm năng, khả năng, và tài năng tối đa của họ. Tiến sĩ Ruth Simmons, Hiệu Trưởng Đại học Brown, từng tuyên bố, “Điểm, không thể đo lường trí thông minh của một người, mà là biểu hiện của những khoảng chênh lệch kinh tế và xã hội, giữa kẻ giàu và người nghèo”[8].

2.      Nghệ thuật và Khoa học chuyển tải thông tin-Giáo dục

Để trở thành một nhà giáo hiệu quả, thày cô không chỉ mong muốn uyên bác trong mọi thông tin, tài liệu, bài vở, giáo trình của mình, hoặc có được một kiến thức sâu rộng liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ đề, môn giảng dạy-nhưng, thầy cô cần phải có nền tảng sâu về trí tuệ, cảm xúc, xã hội và trí thông minh ứng xử trổi vượt. Một nhà giáo có kiến thức, trước tiên phải là một học sinh, đi trong giày của từng học sinh, biết được động lực đến trường của họ–trên tất cả, sức mạnh và điểm yếu của chính con người học sinh và khả năng học tập. Quan trọng nhất, một giáo viên thực sự cần phải nhận thức về “quyền lợi của học sinh” như quyền của trẻ em và quyền người tiêu dùng. (Student’s Rights)[9]

Phương pháp giảng dạy hiệu quả, thực sự không nhắm đến những cách cứng nhắc trong phương pháp sư phạm, nhưng tối đa hóa nghệ thuật tương tác, cảm thông giữa các con người với con người, và các ngành khoa học xã hội khác nhau. Là một chuyên gia trong lãnh vực giáo dục, được đào tạo tốt, vững chắc, chấp nhận biết lắng nghe là nguyên tắc quan trọng nhà giáo có thể mang lại cho học sinh, sinh viên thoả đáng ước mơ được giáo dục, thăng hoa kiến thức, phát triển toàn diện khả năng và kỹ năng sẵn có. Một thử thách lớn mà mọi nhà giáo phải vướt qua, đó chính là biết lắng nghe, biết quan sát từng người học, học sinh, trong việc giúp mỗi học sinh vượt qua thử thách, không chỉ để kiếm điểm tốt cho các khóa học bắt buộc.

Mục tiêu và phương pháp giảng dạy – Đây không phải chỉ là sứ mệnh dạy học sinh hoặc người học để trau dồi kiến thức mở rộng với thông tin đồ sộ, nhưng thực sự, mấu chốt của nhiệm vụ giảng dạy là giúp học sinh tìm hiểu cách xác định các vấn đề và áp dụng các thông tin và kiến thức có được trong các vấn đề thực tế.

Kết

Một câu nói không rõ xuất xứ, “Nếu bạn muốn trở thành một nhà giáo, bạn phải biết yêu mỗi ngày. Nếu bạn muốn trở thành một giáo viên, bạn phải gạt bỏ các lý thuyết hàn lâm, cấu trúc trí tuệ, tiên đề, thống kê và biểu đồ khi bạn tiếp cận để chạm vào phép mầu, mang tên: ‘Con người cá thể-Individual human being’”.

Nhà giáo–Quả là một cuộc sống đáng kính và cuộc sống xứng đáng để mang đến cho nhà giáo đặc quyền chạm vào những phép lạ–mỗi khi thầy cô gặp một học sinh, sinh viên, một người học, dù là đối diện, hoặc qua các phương tiện điện tử, ví dụ: Skype, Google Hangout, Facebook hoặc Viber.  Không có từ nào có thể mô tả tài năng, kỹ năng, phương pháp dạy học có năng khiếu và triết lý của từng thầy cô để hoàn thành nhiệm vụ giáo dục người học–hãy nghe cựu học sinh đã thành danh, thành nhân, đã trở thành những nhà lãnh đạo, giảng viên, giáo sư chứng giám:

“Thầy tuyệt cú mèo -Thầy nhất thế giới”; San, Tr. Giuse Kim-Châu

“Thầy đã chinh phục giới trẻ”; TT BVG

“Thầy tôi, một kỹ sư tâm hồn!” Nguyễn Đ. Vinh. (VOA);

“Cô tôi, một bầu tri thức bao la cho thế hệ mai sau”; Phan V. C.

“Thầy của chúng tôi, vẫn là người thầy tuyệt vời–trước sau như một!” Trần B. H., PhD

Thầy cô, đừng vội mừng vui vì trong hằng hà sa số những học trò, học sinh, sinh viên một lần thưa xưng với mình bằng thầy-cô, và hãnh diện vì mình đã đào tạo ra những thiên tài, nhân tài cho nhân loại. Đúng ra, thầy cô phải khiêm cung, vì mình được vinh dự, diễm phúc góp phần vào, là chứng nhân của những thiên tài, nhân tài đã đầu thai làm người và làm người giữa đám học trò rất ư bình thường của thầy cô.

Sinh con ra, nào ai kể công sinh thành dưỡng dục. Làm nhà giáo, mấy ai mong chờ học trò, sinh viên quay lại tạ ơn thầy-cô. Nhưng, chữ nghĩa, đạo lý, ăn học nên người, hầu hết do nơi những hy sinh và đầu tư tâm huyết của thầy cô nơi từng em học sinh. Nếu, cha mẹ bỏ bê con cái, thiếu trách nhiệm giáo dục, thiếu hành vi, gương đạo đức, chỉ biết tất tất cho riêng mình, thì thử hỏi, chứ “hiếu” có ý nghĩa gì. Cũng vậy, nhà giáo có bao giờ tự hỏi, tôi đả làm gi cho mỗi em học sinh, thiết tha dược giáo dục nên người, được bảo vệ một môi trường giáo dục an toàn, yên vui và đầy nhựa sống, dẫn dắt các em trong hành trình tiến thân, không duy chỉ một ngày, một năm học, mà trọn cả một đời muốn học, cần học và phải học để thành công. Học để có điểm, đạt được bằng cấp, tất có thời hạn và đo lường được; nhưng hành trình học làm người, để vươn tới cấp thành nhân, hoàn toàn không thước, không cân nào đo lường được.

Để trở thành “một kỹ sư tâm hồn”, một nhà giáo, một thầy cô đúng nghĩa, trước hết, phải là một học trò đúng nghĩa, phải đi trong giày của từng học sinh, người học, hầu có thể chu toàn sứ mệnh giáo dục–đó, chính là biết song hành cùng học sinh, giúp người học khám phá ra chính mình, khai quật mọi khả năng, kỹ năng và tài năng tìm ẩn trong từng con người, bất luận tuổi tác, giống tính, giai cấp xã hội hay kinh tế gia đình.

TG: Bernard Nguyên-Đăng, J.D., Mission of Education and Teaching Philosophy

References

[1] https://www.britannica.com/biography/John-Locke

https://plato.stanford.edu/entries/locke/influence.html

[2] https://www.cnbc.com/2018/08/02/apple-hits-1-trillion-in-market-value.html

https://money.cnn.com/2018/08/02/investing/apple-one-trillion-market-value/index.html

[3] https://www.forbes.com/sites/christinemoorman/2018/01/12/why-apple-is-still-a-great-marketer-and-what-you-can-learn/#7a0b6c015bd0

Johnson, Katherine; Li; Phan; Trinh-“The Innovative Success that is Apple, Inc.”, Marshall University

johnson553@marshall.edu

[4] https://www.cnbc.com/2018/04/10/apple-ceo-tim-cook-on-the-importance-of-consumer-privacy.html

[5] https://en.wikipedia.org/wiki/Homeschooling

https://www.parents.com/kids/education/home-schooling/homeschooling-101-what-is-homeschooling/

https://www.onlineschools.org/homeschooling-guide/

[6]https://en.wikipedia.org/wiki/Early_college_high_school

https://tea.texas.gov/Academics/College%2C_Career%2C_and_Military_Prep/Early_College_High_School

[7] https://www.potatopirates.game/blog/student-centered-learning

[8] https://en.wikipedia.org/wiki/Ruth_Simmons

[9] https://en.wikipedia.org/wiki/Student_Bill_of_Rights

https://www.stuvoice.org/student-bill-of-rights/access-and-affordability

11 Rights All Students (Should) Have

Children’s Bill of Rights

Chỉ có dạy học khai phóng mới đạt thành tựu tốt đẹp

Nhà giáo Đặng Đăng Phước gửi đến Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Mấy hôm nay theo dõi tin tức giáo dục được biết hiện đang diễn ra hội nghị do Bộ Giáo dục & Đào Tạo chủ trì để thẩm định bộ sách Tiếng Việt do giáo sư Hồ Ngọc Đại chủ biên, có nhiều ý kiến trái chiều…. Đáng chú ý là ý kiến phản biện của giáo sư Trần Đình Sử về tính khoa học của bộ sách làm cho giáo sư Hồ Ngọc Đại không giữ được bình tĩnh, có những lời lẽ hết sức khiếm nhã! Riêng quan điểm của tôi, trong khi thế giới ứng dụng khoa học 5.0 mà Việt Nam vẫn loay hoay nghiên cứu dạy đọc thông, viết thạo thì biết bao giờ đuổi kịp họ? Tại sao ngành Giáo dục & đào tạo không nghiên cứu lựa chọn các nội dung khoa học phù hơp với người học nhằm tạo cảm hứng sáng tạo cho các cháu? Muốn làm được điều đó cần xây dựng triết lý giáo dục một cách khoa học làm nền tảng, trong đó giáo dục khai phóng là yếu tố hàng đầu nhằm giải phóng tư tưởng cho con người là việc làm mang tính chiến lược lâu dài mà kinh nghiệm thành công của các nước là nguồn cảm hứng cho Việt Nam.

Thiết nghĩ, lối dạy học của các nhà sư phạm Việt Nam cả một quá trình dài truyền thụ kiến thức một chiều, lâu dần nó hình thành trong não bộ của người học:”Thầy luôn đúng, lời thầy là khuôn vàng thước ngọc” – Với lối truyền thụ này, học trò luôn bị cái bóng của ông thầy bao phủ đến nổi các em làm gì, nói gì cũng sợ trái ý thầy (!) nay đã lỗi thời.

Điều nói trên nếu bị lặp đi lặp lại lâu dần sẽ làm thui chột tư duy độc lập của người học. Có thể minh chứng cho luận điểm này đó là học sinh, sinh viên học ở quốc nội rất hiếm làm được một đề tài nghiên cứu nào bức phá khỏi tầm ảnh hưởng của ông thầy.

Có thể nói, dù ông thầy có tài giỏi đến mấy cũng có khi sai lầm, đó là điều chắc chắn! Chẳng lẽ trong suốt quá trình làm việc, không có khi nào não bộ con người bị mất tập trung trong một khoảng thời gian nhỏ nhất ư? Sai lầm tại chính thời khắc đó! Và lời xin lỗi học sinh cũng là cách tạo niềm tin cho các em. Về lời xin lỗi học sinh, tôi biết có nhiều thầy cô không vượt qua được cái tôi của mình nên cố tình lấp liếm, đó là thái độ ứng xử không đàng hoàng, thật đáng hỗ thẹn!

Về sự mạnh dạn tương tác của người học trong giờ giảng, người viết bài này đã từng quan sát, chứng kiến nhiều thế hệ sinh viên tham gia học tập để được đào tạo nghề sư phạm mầm non, khi tiếp cận môn học mới mẽ là môn âm nhạc. Trong khi giáo viên cố gắng biến những khái niệm trừu tượng của môn học thành hình tượng trực quan rồi yêu cầu người học mô tả lại hiện tượng vừa quan sát được … Một việc tưởng dễ dàng nhưng các em vẫn rụt rè, sợ sai bị thầy quở trách, bạn cười chê …. Cũng có khi giáo viên liên hệ các bộ môn như Toán, Vật lý, Sinh học vào bài giảng để sinh viên so sánh, liên hệ… tuy nhiên có rất ít sinh viên còn nhớ kiến thức phổ thông, điều này cho thấy một lượng kiến thức cơ bản đã không được các em chú trọng khắc sâu?

Kiến thức khoa học bao la muôn trùng, khả năng tiếp thu của con người là hữu hạn. Không thể “dạy cá leo cây, dạy khỉ bơi lội” vì thế cần phân khúc kiến thức cho từng đối tượng, phải thừa nhận các nước áp dụng triết lý giáo dục khai phóng họ làm rất tốt điều này làm cho không một học sinh nào bị áp lực việc học nên “mỗi ngày đến lớp là một niềm vui”. Ở Việt Nam thì thế nào? Nền giáo dục Việt Nam chú trọng tính hàn lâm và bắt buộc áp dụng cho tất cả các học sinh, vì thế, có nhiều cháu học toán hoặc văn kém bị thầy cô mắng đến nổi ám ảnh, lo sợ trốn học, bỏ học …. Ừ thì học sinh A có thể học kém toán lượng giác, vi phân, tích phân …. nhưng thử hỏi mấy ai ra đời mà áp dụng các loại toán nói trên hay chỉ dùng 4 phép tính và các bài toán về chu vi, diện tích, thể tích các hình? Trò A tuy học kém toán nhưng làm thủ công khéo tay, chơi đàn guitar giỏi, tổ chức sinh hoạt tập thể tạo được sức hút …. tại sao chúng ta không tạo điều kiện cho trò A phát triển năng lực cá nhân mà bắt em ấy phải học các loại toán khó đến nổi bị ám ảnh, lo sợ khi đến lớp?

Có một nguyên tắc cần phải quán triệt thống nhất với sinh viên, học sinh đó là chỉ tin vào kiến thức khoa học chứ không tin người thầy dạy học. Thực tế như đã nói ở đầu bài, ông thầy cũng có lúc sai nên tôi thường tạo tình huống sai để thử sinh viên, em nào phát hiện hoặc phản biện sẽ được đánh giá cao! Tôi thường dùng giọng hài hước: “Các em nên tin kiến thức khoa học chứ không nên tin thầy, kể cả chúng ta cần phải nghi ngờ cả sách giáo khoa lẫn tài liệu học tập”

Dạy học và đánh giá là hai việc làm song song, việc đánh giá khách quan, khoa học, vừa sức mà phân loại chính xác trình độ thí sinh đó là tiêu chí hàng đầu nhằm tạo động cơ tốt cho người học. Đặc biệt chú ý tính dân chủ trong đánh giá đó là sự chấp nhận giải quyết khiếu nại(nếu có) một cách minh bạch, công tâm để làm thỏa mãn những thắc mắc của họ làm cho việc dạy học cởi mở, tạo sự thân thiện trong cả quá trình học tập của người học

Thay lời kết cho bài viết này, cần nhấn mạnh một lần nữa đó là muốn Việt Nam phát triển không thể mãi để học sinh bị cái bóng quá lớn của thầy che phủ mà cần áp dụng triết lý dạy học khai phóng, tạo ra khoảng ánh sáng cần thiết từ bầu trời nhằm khuyến khích các em bay bỗng với những sáng tạo do khoảng sáng bầu trời đem lại, đó mới đích thực là giá trị của nghề dạy học!
05/01/2020
Đặng Phước.

Trăm năm trồng người

 

Đây là Hoàng Thị Nhật Lệ, một sinh viên giỏi, ngoan hiền nếu xét theo định nghĩa của mái trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Em giơ hai ngón tay ra, uống cong chạm vào nhau thành hình cơ quan sinh dục nữ. Tất nhiên không thể bảo là em dâm đãng hay phạm pháp được. Em có quyền làm như vậy, chẳng ai cấm được em.

Một trăm năm trồng người, chưa đầy 80 năm đã biết phá sản.

Hôm nay trường tôi khai giảng, sau khi đã học được 3 tuần.

Hôm nay trường tôi khai giảng, sau khi đã học được 3 tuần. Cả nước cũng vậy.
Đấy, có mỗi chuyện nhỏ nhặt là khai giảng xong hãy học mà ngành giáo dục mãi không làm được thì đừng mong chờ giáo dục sớm chuyển biến tích cực.“- nhà giáo Đỗ Việt Khoa cho biết hôm 05 tháng 09 năm 2019.

Dạy và học trước no nê đến nghẹn, rồi khai giảng sau, ấy là nói dối. Ngành giáo dục làm dối, chẳng khác nào dạy học sinh cũng phải nói dối.

Các thầy cô cần đấu tranh sao cho ngày khai giảng là ngày đầu tiên các em học sinh bước vào cổng trường, ngày đầu tiên gặp lại bạn bè sau một mùa hè. Như vậy mới đúng với ý nghĩa ban sơ của ngày khai giảng.

Phản đối môn học tẩy não ở Hồng Kông và ở Việt Nam

 

Chu Đình ( 周庭 Agnes Chow Ting) sinh năm 1996, mới chỉ 23 tuổi, là một nhà hoạt động xã hội Hồng Kông (1). Cô là thành viên của Ủy ban Thường vụ Demosistō và là cựu phát ngôn viên của Học giả, một nhóm hoạt động dân chủ trong các lĩnh vực của chính sách giáo dục, cải cách chính trị và chính sách thanh niên của Hồng Kông.

Đọc tiếp “Phản đối môn học tẩy não ở Hồng Kông và ở Việt Nam”

Học tập về nghệ thuật tự do ở chương trình trung học ở Hồng Kông

 

Học tập về nghệ thuật tự do là kiểm tra liên ngành của các môn học liên quan đến nhân văn, nghệ thuật và khoa học. Là một học sinh của học tập về nghệ thuật tự do, bạn sẽ theo đuổi kiến thức trong các lĩnh vực khác nhau, thường học cách tổng hợp những gì bạn học thành một tổng thể mạch lạc phục vụ các mục tiêu cuộc sống của bạn.

Đọc tiếp “Học tập về nghệ thuật tự do ở chương trình trung học ở Hồng Kông”