Một xã hội suốt đời học tập

Mấy hôm nay nghe các cô giáo mầm non chia sẻ rằng “chúng em ai cũng phải cố mà đi học chứng chỉ nâng hạng ngạch giáo viên mầm non kẻo sau này thua thiệt” tôi bỗng chạnh lòng mà nghĩ rằng hình như xã hội thời “chưa có khi nào rực rỡ như hôm nay” luôn bắt con người ta suốt ngày phải “chạy đua với học tập”, tuy nhiên học chỉ để cho “bằng chị, bằng em” chứ kỳ thực có giúp gì thêm cho công việc hay không có trời mới biết!

Đọc tiếp “Một xã hội suốt đời học tập”

Kỹ năng giao tiếp với phụ huynh

 

Trong giáo dục, ngoài việc tiếp xúc và giáo dục học sinh bạn còn phải tìm sự hợp tác từ phía phụ huynh của các em. Phụ huynh là những người đóng góp cho việc học của con cái họ, họ là người ủng hộ và động viên các con đến trường, họ cũng là người luôn bên con trong mỗi bài học. Và chất lượng học vấn của con là mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh, nhất là ở nước ta, nơi còn nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn, họ rất muốn con họ học hành chăm chỉ để thoát cảnh nghèo khó, có thể sống tốt trong xã hội. Vì vậy, bạn cần tìm kiếm sự chung tay của họ để cùng giáo dục trò. Đọc tiếp “Kỹ năng giao tiếp với phụ huynh”

Những điều cần làm sau kiểm tra

Hiện nay, giáo dục Việt Nam thường xuyên dùng phương pháp kiểm tra để đánh giá học sinh, giáo viên và các hoạt động trong các nhà trường. Chúng ta có thể thấy nhan nhản các bài kiểm tra từ đầu năm đến cuối năm, từ kiểm tra việc học thuộc và hiểu môn học của học sinh đến kiểm tra việc soạn bài, việc giảng dạy của giáo viên (thông qua dự giờ đánh giá hay thi giáo viên dạy giỏi), hoặc kiểm tra hiệu trưởng các trường về các chính sách công, về các hoạt động chỉ đạo, kiểm tra cho điểm để đánh giá thứ hạng giữa các trường với nhau,… Có quá nhiều nội dung kiểm tra trong một hệ thống giáo dục hiện hành nhưng hiệu quả thu được sau kiểm tra còn rất hạn chế.

Vậy mục đích của kiểm tra là gì?

Hiện nay, việc kiểm tra của chúng ta đang đi lệch bản chất của chữ kiểm tra. Và các giáo viên, những thành viên khác trong ngành giáo dục cũng đang cố tình hoặc vô tình làm sai đi ý nghĩa của việc kiểm tra. Họ đã biến việc kiểm tra thành cơ hội để lũng đoạn, để doạ dẫm nhau , để nịnh nọt nhau, để nâng đỡ nhau, để phong bì phong bao trong đó, để xoá bỏ đi sự công bình trong mỗi nội dung kiểm tra,… Và xoá bỏ hẳn giá trị đích thực của việc kiểm tra.

Kiểm tra, với bản chất là minh định lại giá trị của mỗi hoạt động, mỗi công việc đã được thực hiện trước đó. Nội dung kiểm tra phải đảm bảo tính đa dạng, tính sáng tạo trong thực hành, tính tự do (tức dùng các dạng câu hỏi mở) trong mỗi câu trả lời, đồng thời phải xoá bỏ tính chất “thuộc bài” tức những tri thức mang tính ghi nhớ, những nội dung có thể tra cứu dễ dàng mà không đòi hỏi sự vận dụng của tư duy. Kiểm tra là phải đánh giá gần đúng nhất những mặt đã đạt được, những sở trường hay những sở đoản đang tồn tại trong đối tượng đem kiểm tra. Và người kiểm tra phải công bố một cách công khai minh bạch, công tâm về các số liệu được ghi lại một cách khách quan từ kết quả có được sau mỗi bài kiểm tra ấy cho đối tượng được kiểm tra, đồng thời cũng tuỳ từng mục đích kiểm tra có thể phải công bố trên diện rộng hơn.

Qua việc kiểm tra, các nhà nghiên cứu về mặt chính sách, các chuyên gia về bộ môn và những người trực tiếp thực hiện công việc cùng nhau bàn thảo để đưa ra các giải pháp phối hợp nhằm giải quyết những tồn tại, những bất ổn, những điều không còn phù hợp, những nguyên nhân của sự trì trệ nhằm tìm cách cải tạo, thay đổi về mặt nội dung, phương pháp thực thi công việc, thay đổi chính sách để đạt được mục đích mang lại giá trị cao nhất cho nội dung; phát huy sở trường và tăng cường tính sáng tạo những điều mới mẻ hơn, phù hợp hơn, có giá trị thực tiễn và giá trị phát triển hơn trong tương lai.

Không thể dùng kết quả của kiểm tra các đối tượng để khen thưởng hay kỷ luật đối với học sinh hay giáo viên. Mà phải dùng kết quả kiểm tra để xây dựng niềm tin, kế hoạch cho những hoạch định mới nhằm phát triển những điều tốt đẹp giúp định hướng chuẩn mực hơn cho học sinh lẫn giáo viên thuận lợi trong hoạt động dạy và học.

Tulip Đen.

Tác giả là thạc sĩ toán học, hiện đang giảng dạy trung học ở Hà Nội và là thành viên của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Bàn về học giỏi cấp trung học phổ thông ở Việt Nam

Tiêu chí để là một học sinh giỏi ở Việt Nam phải hội tụ đủ các điều kiện sau:

Xếp loại về đạo đức: Khá hoặc Tốt.

Xếp loại về các môn học (13 môn gồm: Ngữ Văn, Toán học, Vật Lý, Hoá Học, Sinh Học, Lịch Sử, Địa Lý, Giáo dục công dân, An ninh Quốc Phòng, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ, Công nghệ) đạt điểm trung bình mỗi môn học từ 6,5 trở lên, riêng môn Văn hoặc Toán phải đạt điểm trung bình môn từ 8,0 trở lên và tổng điểm trung bình tất cả các môn đạt 8,0 trở lên.

Như vậy, để là một học sinh giỏi, các học sinh phải học thật chăm chỉ, học một cách khôn ngoan, biết học gạo (tức biết chọn lọc phần nào dùng đi thi để tập chung vào học) và phải có kỹ thuật ôn trước mỗi bài thi để đạt được điểm cao. Việc đạt được điểm cao, học sinh đã học rất vất vả, vì học sinh phải học cùng lúc 13 môn, cùng thi một thời điểm liên tục trong vòng một tuần.

Nhiều học sinh, để có được thành tích học sinh giỏi đã phải từ bỏ nhiều sở thích cá nhân, quên luôn những đam mê cho một vài mong muốn khác ngoài môn học. Và nhiều học sinh đã phải cố gắng học giỏi vì sự thúc ép, hãnh diện khoe tài về con cái của chính bố mẹ chúng. Nên tình trạng học sinh chịu áp lực quá tải, luôn thiếu ngủ, dễ cáu gắt và lạc lõng trong các hoạt động tập thể lại tập chung nhiều vào những học sinh giỏi.

Với những tiêu chí để đạt học sinh giỏi, chúng ta hình dung đến một bộ não chỉ dành cho việc tiếp thu những tri thức văn hoá mỗi ngày, không còn đủ thời gian để chơi cùng bạn bè, không có thời gian cho một buổi thể thao, cũng chẳng còn thời gian tha thẫn cho một chiều ngắm mây lơ lửng hay bất chợt cảm hứng vẽ một bức hoạ cho riêng mình. Nghiễm nhiên, học sinh giỏi đồng nghĩa với việc sống trong một ngôi nhà khép kín của những tri thức khuôn mẫu được gói gọn trong các môn học, trong mỗi bài thi. Vì vậy, nhiều phụ huynh kêu than, con học giỏi nhưng không biết đến cắm nổi nồi cơm, không biết giặt nổi bộ quần áo, không biết đến các con đường, những ngôi nhà xung quanh, đến họ hàng cũng không biết tên,…

Nếu phân tích kỹ về sự giỏi hiện nay, chúng ta sẽ thấy rất thừa thãi và lãng phí tài nguyên con người. Với 178 ngành nghề được giới thiệu trong cuốn “Hiểu nghề nghiệp tương lai” của Nhật Bản được dịch, chúng ta sẽ thấy rất nhiều ngành nghề cần những hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực, một đam mê nào đó. Và mọi nghề nghiệp đều cao quý, đều được coi trọng và khuyến khích ngang nhau. Mỗi nghề lại có những người thành công và thất bại, đều có người nổi tiếng, làm giàu và vinh danh với nghề mà họ đã chọn.

Điều đó để thấy thêm rằng giáo dục Việt Nam đang tạo ra áp lực không đáng có cho học sinh, khi chỉ vinh danh ca ngợi những học sinh giỏi kiểu Việt Nam, khiến cho nhiều học sinh lẫn phụ huynh mãi vất vả đuổi theo những thứ phù phiếm, không thực tế. Đặc biệt, việc coi trọng nghề này hơn nghề kia đã làm cho mỗi đứa trẻ ganh đua nhau bằng điểm số để đạt được đầu vào những ngành được coi trọng hơn trong xã hội, khiến cho một thời gian dài trên các mặt báo kêu than: Thừa thầy, thiếu thợ.

Chúng ta cần điều chỉnh lại việc khen thưởng với học sinh. Cần xoá bỏ những tiêu chí về học sinh giỏi như lâu nay đang tồn tại. Chúng ta nên khen ngợi bất kỳ học sinh nào nếu có niềm đam mê trong bất cứ môn học nào hay công việc gì, chỉ cần chúng ta tôn trong giá trị các ngành nghề như nhau, tôn trọng khả năng đặc biệt của mỗi người như nhau, thì giáo dục lúc đó sẽ đúng nghĩa là môi trường để mỗi đứa trẻ tìm đến.

Và nhà trường, phải là nơi đứa trẻ được tìm ra năng lực nổi trội của bản thân mình để phát triển.

Tulip Đen.

Tác giả là thạc sỹ toán học, hiện đang giảng dạy trong một trường trung học phổ thông ở Hà Nội và là thành viên của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Ứng xử sư phạm. Bài 2: Hướng dẫn học

Việc giảng dạy của giáo viên đạt hiệu quả cao, nhận được sự hợp tác từ phía học sinh hay sự chống đối phản kháng chính là do việc hướng dẫn học của giáo viên với trẻ. Hướng dẫn học nên được thực hiện vào tiết 2, ngay sau buổi làm quen ở tiết 1. Bạn không nên vội vàng trong việc ngay lập tức phải dạy trẻ về mặt chuyên môn. Bạn cần hiểu rằng, trẻ luôn tìm kiếm một người bạn, một người chúng hiểu và có thể chia sẻ, đồng hành. Vì vậy, với tiết 1 làm quen và giới thiệu cũng như đưa ra các quy tắc làm việc thống nhất với trò thì tiết 2 bạn nên dành một phần thời gian đầu tiên cho việc hướng dẫn cho trò cách học môn của bạn.

Mỗi môn học có đặc thù khác nhau, yêu cầu và phương pháp học cũng có sự khác nhau, vì vậy, bạn nên cho trẻ biết, cả quá trình sau này, trẻ và bạn sẽ làm việc như thế nào để chiếm lĩnh tri thức. Việc thống nhất cách học, chính là bạn đang tìm kiếm sự đồng thuận trong cách làm việc với đối tác, bạn đang kêu gọi sự ủng hộ về mặt phương pháp cũng như nội dung trong suốt một quá trình cùng hợp tác. Nếu bạn làm tốt việc này thì toàn bộ quá trình học còn lại của một năm dài sẽ chỉ còn niềm vui công việc và sự thống nhất trong hành động của bạn với trò. Điều này cũng tránh những chống đối với cách làm việc của bạn từ trò, bạn sẽ giảm áp lực đáng kể trong hành trình đi cùng chúng.

Với môn học của bạn, bạn đã hiểu rất rõ mục đích, yêu cầu mà trò cần đạt được. Vì vậy, bạn cũng biết rất rõ, bạn sẽ muốn trò thu nhận và hăng say với những khám phá nào cho quá trình tìm hiểu kiến thức thuộc môn học của bạn. Bạn cần thống nhất với trò về các loại sách bắt buộc cho môn học như sách giáo khoa hay sách bài tập; thiết bị cần có phục vụ việc học nhanh hơn như thước kẻ, compa, bút màu, loại máy tính cầm tay, sổ ghi nhớ,…; loại vở ghi chép nội dung học trên lớp hay ở nhà, bạn nên gợi ý loại vở nên dùng bao nhiêu trang, khổ to hay nhỏ thì phù hợp và thuận lợi, mục đích của các loại vở đó. Tuỳ tính chất môn học, có môn kiến thức học mỗi kì học không có hệ thống, tức không liên đới về nội dung với nhau, các trò có thể thay vở ghi chép, nhưng với những môn có liên đới về mặt nội dung, nếu viết vở quá mỏng hay khổ giấy nhỏ sẽ khiến việc trình bày và hiểu bài gặp khó khăn hơn,…

Sau đó, bạn cần giới thiệu với trò một vài cuốn tài liệu tham khảo của môn học bạn đang phụ trách, bạn có thể giải thích, các bài tập lớn về nhà hay các chuyên đề nhóm sẽ được tham khảo trong một vài cuốn đó, học trò có thể tìm kiếm trên thư viện hoặc tham khảo ở các hiệu sách,…

Mỗi môn học, nếu học trò chỉ biết học trong sách giáo khoa hay sách bài tập thì mới chỉ đạt ở mức nhận thức cơ bản, bạn nên khuyên các trò mở mang thêm các hiểu biết qua những tài liệu khác thú vị hơn cho các em. Chính các tài liệu tham khảo, các cuốn cẩm nang về công thức, những cuốn phương pháp học hay phương pháp giải bài, hay những câu chuyện thú vị về các tác giả hay các nhà bác học về phần nội dung đang được học có trong các tài liệu tham khảo chính là động lực giúp trẻ thêm yêu và hiểu biết hơn về môn học của bạn. Đặc biệt, hiện nay với sự tiện lợi trong việc tra cứu thông tin qua internet, học trò hoàn toàn có thể tạo thêm niềm đam mê môn học, chỉ cần biết đặt câu hỏi.

Vì vậy, bạn hãy dạy trò cách đặt câu hỏi nghi vấn. Đặt câu hỏi chính là cách chúng ta đi tìm những điều mà mình chưa hiểu hay còn băn khoăn. Việc đặt nhiều câu hỏi cho giáo viên, cho các bạn trong lớp hay đặt câu hỏi trên internet để tra cứu là nhiệm vụ và được động viên khích lệ. Chính việc cho trò đặt câu hỏi, bạn sẽ tạo không khí lớp học sôi nổi hăng say tập trung vào bài học và tinh thần học tập vui vẻ, đó là yếu tố quan trọng để trẻ tiếp thu bài hiệu quả.

Bạn có thể hướng dẫn trẻ cách đặt câu hỏi qua bài học đầu tiên về môn học của bạn, học trò có thể tham khảo một số câu hỏi được đặt gợi ý trong sách giáo khoa, bạn cho trò tự tìm kiếm câu trả lời, ghi ra giấy nháp hoặc vở, sau đó có thể yêu cầu trò đặt câu hỏi nghi vấn hoặc câu hỏi về nội dung mà trò đã trả lời hoặc nghe bạn trả lời nhưng chưa hiểu,…

Dạy trẻ không phải là bê kiến thức từ sách vào vở trẻ, mà là cho trẻ biết cách để tìm kiếm các câu trả lời cho những câu hỏi có sẵn hoặc câu hỏi của chính mình.

Tulip Đen.

Tác giả là thạc sỹ toán học, hiện đang là giáo viên dạy toán một trường cấp 3 ở Hà Nội và là thành viên của Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam.

Bài viết thuộc Chương trình cải thiện ứng xử sư phạm cho người giáo viên do Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam tổ chức.  Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/Knq8Gq

Văn trong giáo dục: “ứng xử” thay cho “xử lý”

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Đọc tiếp “Văn trong giáo dục: “ứng xử” thay cho “xử lý””

Ứng xử thế nào trong tiết học đầu tiên

Tiết học đầu tiên của một giáo viên bộ môn (không làm công tác chủ nhiệm) là tiết học mà bạn lần đầu bước vào lớp mới với vai trò giảng dạy bộ môn bạn phụ trách.

Bạn cần làm gì? Đọc tiếp “Ứng xử thế nào trong tiết học đầu tiên”

Một số so sánh về giáo dục giữa Việt Nam và Phần Lan

STT Việt Nam Phần Lan
1 Cạnh tranh giữa các trường

 

Hợp tác giữa các trường
2 Tiêu chuẩn hoá việc học

 

Đặt ra mục tiêu kết quả rõ ràng, cao và được quy định từ trên xuống cho tất cả trường học, giáo viên và học sinh.

 

Dẫn tới tiêu chuẩn hoá việc dạy thông qua chương trình đào tạo được xây dựng từ bên ngoài.

 

Cá nhân hoá việc học

 

Đề ra khuôn khổ quốc gia rõ ràng nhưng linh hoạt cho việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng trường. Khuyến khích các giải pháp trường và giải pháp cá nhân.

 

Tìm ra cách tốt nhất để tạo ra các cơ hội học tập cá nhân hoá cho tất cả học sinh.

 

3 Tập chung vào đọc, viết, toán và khoa học tự nhiên.

 

Thời gian dạy các môn này được tăng lên, đồng thời thời gian các môn khác giảm đi (như nghệ thuật, âm nhạc)

 

Tập trung vào toàn bộ học sinh

 

 

Mục đích của việc đến trường là tìm ra tài năng trong mỗi cá nhân để phát triển.

4 Trách nhiệm giải trình dựa trên bài kiểm tra (bị trừ đi tinh thần trách nhiệm)

 

Dùng bài kiểm tra để khen thưởng hay trách phạt, trả lương cho giáo viên hay đánh giá nhà trường.

 

Trách nhiệm dựa trên lòng tin

(Tính chuyên nghiệp)

 

Dùng bài kiểm tra để các cơ chế  trách nhiệm giải trình tác động tới công việc của giáo viên và việc học của học sinh.

5 Lựa chọn trường học

 

Khuyến khích cạnh tranh giữa các trường để phục vụ nhu cầu của gia đình.

Bình đẳng kết quả

 

Mọi học sinh có triển vọng thành công ở trường như nhau.

 

6 Chất lượng cá nhân giáo viên

 

Tính đồng nghiệp
7 Công nghệ

(mang nặng tính kỹ thuật)

 

Sư phạm

(mang đậm tính giáo dục)

8 Chiến lược rời rạc

 

Tư duy hệ thống

Tulip Đen- Thạc sỹ toán học- Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam..

Công bằng và hợp tác trong giáo dục

Giáo dục Việt Nam đã nằm trên bàn cân đo về các điểm số, các chỉ tiêu trong giảng dạy về mặt môn học được đặt ra sẵn trong hệ thống biết bao thế hệ; những chỉ tiêu luôn được xây dựng từ đầu mỗi năm học hay khi có một sự biến động về chỉ đạo chất lượng cũng như hình thức thi cử; xa hơn có những chỉ tiêu được định sẵn trước khi đứa trẻ biết về khả năng nổi trội hay niềm đam mê của bản thân;…

Vậy giáo dục kiểu đó có phải là giáo dục? Và sản phẩm tạo ra sẽ như thế nào?

Nhìn vào hàng ngàn sinh viên thất nghiệp, hàng ngàn tiến sĩ, giáo sư nhưng khi nói đến các sáng chế mới lại đều từ những bạn học sinh hay những người công nhân, nông dân đang trực tiếp làm nghề,…

Thay vì giáo dục nhằm vun đắp bồi dưỡng con người thì họ đã dập khuôn để biến mỗi đứa trẻ thành một mũi tên, một viên đạn được chuẩn bị sẵn cho việc lên nòng trước mỗi cuộc chiến thi cử. Chữ giáo dục gần như vô hình không có bản chất của nó khi xây dựng một con người nhân bản sống trong một cộng đồng người. Và với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mạng lưới truyền thông phủ khắp thế giới; những thiết bị nhân tạo, người máy có thể làm thay thế hầu như phần công việc cho con người thì những bài kiểm tra sát hạch được đặt ra từ trước khi bắt đầu của sự học ngày càng trở nên lạc hậu, lỗi thời.

Không có bài kiểm tra nào quan trọng, không có đánh giá nào có thể ghi nhận hết khả năng của mỗi đứa trẻ.

Và chẳng có bài kiểm tra nào hiện nay ghi nhận lại các kỹ năng cần có hàng ngày của mỗi con người trong cuộc sống và công việc hiện nay như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hiểu biết không gian và kỹ năng sáng tạo.

Tôi tin vào điều này: “Nếu có sự tập chung nhất quán vào yếu tố CÔNG BẰNG và HỢP TÁC trong giáo dục, chứ không phải CHỌN LỌC và GANH ĐUA thì có thể dẫn tới một hệ thống giáo dục trong đó mọi học sinh đều được học hành nghiêm túc và trở nên có ích cho cộng đồng”.

Một nền giáo dục chỉ có thể phát triển khi mỗi đứa trẻ đạt được yếu tố công bằng trong giáo dục, tạo môi trường hợp tác vui vẻ thì tự bản thân mỗi đứa trẻ đã sinh ra những yếu tố làm sinh sôi nảy nở sự sáng tạo, điều cần thiết cho sự phát triển của con người. Công bằng giúp cho trẻ tự tin vào bản thân, hợp tác giúp trẻ coi trọng mỗi người bạn đồng hành bên cạnh.

Tulip Đen.

Giáo viên dạy giỏi cấm học sinh học yếu đến lớp: sự chọn lọc tàn nhẫn!

Anh Nguyễn Văn M. (trú quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng), cho biết: “Tối 8/1, gia đình tôi nhận được tin nhắn điện tử của trường Tiểu học Lê Hồng Phong với nội dung: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong thông báo, từ thứ tư (9/1) đến thứ sáu (11/1), Sở Giáo dục và đào tạo tổ chức hội thi giáo viên giỏi thành phố cấp tiểu học tại trường. Học sinh được giáo viên chủ nhiệm lựa chọn tham gia các tiết dạy của giáo viên dự thi có mặt tại trường theo sự dặn dò của giáo viên chủ nhiệm. Học sinh khác nghỉ học. Trân trọng!”.

Bạn Lê Nguyễn Quang Phát bình luận: “Từ cấp 1 cho đến cấp 3, giáo dục chỉ biết nhồi nhét những thành tích ảo vào đầu những con rối. Đạo đức càng học càng xuống cấp.” Bệnh thành tích đã ăn sâu vào tư tưởng nghành giáo dục rồi. Nếu đúng như vậy thì giả dối quá. Thiết nghĩ nền Giáo dục nước nhà nặng tính lý thuyết, giáo điều, thay vì vậy xin thay đổi dậy con trẻ kỹ năng sống, cách làm người, dạy luật pháp, văn hoá tham gia giao thông…

Dạy giỏi là gì? Là dạy trẻ từ không biết thành biết. Từ kém thành giỏi. Từ trẻ không ngoan thành trẻ ngoan. Là dạy con người ta nên người, với trình độ, tri thức, nhân cách để bước vào đời. Thế nhưng tới tận thế kỷ này, thập kỷ này, thời đại này rồi mà vẫn còn duy trì sự giả dối, chỉ để phục vụ cho mục tiêu thành tích ngu xuẩn của những kẻ được gọi là thầy cô này!” Ông Lê Thế Thắng bình luận.

Đừng chửi các thầy cô. Các thầy cô cũng làm theo chỉ đạo của cấp trên thôi. Mà trực tiếp chỉ đạo là cấp uỷ. Cô Hương Nguyễn nói: Giáo viên họ mệt mỏi cũng không muốn làm trò đâu. Phải chửi những ông bày ra cái thứ văn hóa thi đua với chào mừng sáo rỗng hủy hoại bao nhiêu thế hệ. Chuyện thường ngày…Khi nào cũng vì chỉ tiêu với thành tích. Chỉ khổ các em, không thì khổ các cô.

Anh Hài Thanh cho biết: “Có gì bất ngờ đâu, lúc mình học cấp I cách đây 15 năm trước đã thế rồi. Cô giáo chọn ra hơn mười bạn học tốt nhất được tới nhà cô học trước. Một số bạn yếu thì lấy lý do cần 2 dãy bàn cho các thầy cô tới dự ngồi nên các bạn ấy “được nghỉ”. Lúc bé không biết gì nên thấy bình thường, lớn rùi mới thấy tởm.

 

Công dân Phạm Nhật  than thở: Giáo dục,giao thông,y tế đã đến thời hỗn loạn. Việt Nam đi về đâu…?