Người con gái 27 năm với đời sống thực vật

Rời Sài Gòn trên chuyến xe đò cuối cùng vào 5 giờ chiều một ngày đầu mùa mưa cuối tháng 4-2000, chúng tôi đến thị trấn An Lộc vào lúc gần 8 giờ tối. Thành phố nhỏ, heo hút ánh đèn vàng, hai bên đường trùng điệp những vườn tiêu, vườn cây ngút ngàn nhấp nhô trên những sườn đồi dưới ánh trăng mười sáu mờ đục. Chiếc xe đò thả hai chúng tôi xuống trước trụ sở của Hạt Kiểm Lâm An Lộc. Nhà chị Thụy Vũ ở bên kia con dốc, sát bên Quốc lộ 13. 

Hình minh họa

(Tôi xin phép được nhắc sơ qua về nhà văn Thuỵ Vũ: – Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh

năm1937. Tên thật Nguyễn Thị Băng Lĩnh. Tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng ở miền Nam VN trước những năm 1975. Tác phẩm: Mèo Đêm (tập truyện ngắn đầu tay); Nhang tàn thắp khuya; Chiều xuống êm đềm; Khung rêu (giải thưởng văn học toàn quốc); Thú hoang; Lao vào lửa và một số tác phẩm đã đăng trên các báo nhưng chưa xuất bản. Công tác với các báo Dân Chủ Mới, Bút Thép.)

Nghe tiếng xe dừng giữa đường, chắc Thụy Vũ đã đoán ra nhà mình có khách đường xa tới thăm. Chị đứng chờ sẵn ngoài hiên, khom mình dưới tấm rèm cũ, nheo mắt nhìn hai chúng tôi bước vào sân và chị nhận ngay ra chúng tôị Nét vui mừng hiện rất rõ trên khuôn mặt gầy guộc của chị:

– Trời ơi, ông định làm tôi vỡ tim chắc? Bất ngờ quá.

Rồi chị nắm áo Ngân:

– Sáng nay điện thoại sao không nói gì?

Ngân chỉ tôi:

– Tại cái nhà ông này, bốc đồng lên rủ người ta đi, chứ tui thăm bà làm cái gì khi chưa có tiền.

Tôi hiểu là hai người đàn bà này thân với nhau lắm, thân hơn chị em ruột. Khi còn ngồi ở nhà tôi, điện thoại cho Thụy Vũ xong, Ngân bỗng nói:

“Em phải đi thăm con nhỏ này, nhớ nó quá rồi, chịu hết nổi”.

Thế là hai chúng tôi ra xe. Thụy Vũ đưa chúng tôi vào căn phòng khách nhỏ đã dăng sẵn cái mùng trên tấm nệm mút mỏng dính. Có lẽ ở những nơi xa xôi như thế này người ta có thói quen đi ngủ sớm. Chị đãi chúng tôi bữa cháo. Đang cơn đói, không cần đợi chị mời, tôi ăn uống ngon lành. Bỗng tai tôi chói lên vì một tiếng hú. Tiếng hú của một con thú nào đó từ rừng hoang vọng lại nhưng rất gần, sát bên chỗ chúng tôi đang ngồi. Tôi ngơ ngác, nhưng mọi người thì vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Chị Thụy Vũ lặng lẽ đứng dậy, Ngân thấy tôi nhìn qua khung cửa sổ bèn mỉm cười nói ngay:

– Nó khóc đấy!

Tôi vẫn ngớ mặt:

– Nó là cái gì? Con khỉ hay con heo rừng hay con chó sóỉ

– Con Thụy, con gái chị Thụy Vũ đấy, anh không biết sao?

– Chỉ nghe nói chị Vũ có một người con bị bệnh bại liệt thôi.

– Không phải bại liệt mà cháu sống như cây cỏ từ 27 năm nay rồi. Cháu nằm đó mà không hề hay biết gì hết. Năm nay cháu 29 tuổi. Em đã từng chăm sóc cháu ngay từ khi cháu còn nhỏ. Lúc đó thì còn có thể bồng bế cháu dễ dàng, đưa lên xe lăn, đẩy cho cháu ra ngoài chơi. Nhưng bây giờ thì cháu lớn quá rồi, không ai trong nhà này bế nổi cháu lên xe nữa, đành chịu vậy thôi. Mỗi lần đi đâu, em nhớ và thương nó không thể xa nó lâu được.

Tôi hiểu rằng câu Ngân nói khi còn ở Sài Gòn là nhớ con bé con chị Thụy Vũ chứ không phải nhớ chị. Tôi nhìn Ngân và hỏi lảng:

– Vậy ra cơ thể cháu phát triển bình thường?

– Vâng, cháu phát triển như những người con gái khác, chỉ có đôi chân không di chuyển

được nên cứ teo tóp lại. Người cháu rất nặng.

Tôi hỏi đến nguyên nhân có phải là thứ bệnh bẩm sinh không. Ngân lắc đầu:

– Hồi nhỏ, cháu rất xinh đẹp. Đến năm 2 tuổi, cháu đã biết đòi nghe nhạc, rất duyên dáng.

Có lẽ là do một chị người làm trông nom đã làm cháu ngã, đầu va vào góc thành giường nên từ đó cháu nằm liệt luôn và không biết gì nữa. Chị Vũ nuôi cháu trong một hoàn cảnh rất cơ cực. Sau năm 1975, còn sống ở làng Báo Chí Thủ Đức, không có cả bo bo mà ăn.

Chúng em đã buôn thúng bán bưng đủ các thứ nghề để nuôi cháu. Chị Vũ làm lơ xe buýt

đường Sài Gòn – Thủ Đức, suốt ngày chỉ đứng có một chân trên 10 chuyến xe như thế

cho đến tối mịt mới về đến nhà. Mệt quá lăn ra ngủ, bữa đói bữa no. Con cái nhốt lại cho đứa lớn coi đứa nhỏ. Sau một thời gian chịu không nổi, chẳng biết sống bằng gì, chị Vũ đưa ba đứa con về đây sống với mẹ. Căn nhà này là của bà mẹ chị để lại, bà cụ mới mất cách đây vài năm. Anh thấy nhà cửa coi bộ khang trang nhưng chỉ có cái xác nhà chứ bản thân chị Vũ thì chẳng bao giờ có đồng xu dính túi.

Tôi nhìn căn nhà, gọi là khang trang chứ thật ra chẳng có gì đáng kể. Chỉ có phía trước mới được sửa sang lại tí đỉnh cho đám cưới đứa con gái út của chị cách đây vài tháng, còn phía sau, nơi chúng tôi ngồi ăn thì vẫn lợp tôn tuềnh toàng. 25 năm trôi qua, người khác đã có thể vượt qua cơn khốn quẫn, ít ra có bát ăn bát để, nhưng chị dường như vẫn vậy. Vẫn sống bữa nay chưa biết bữa mai. Ngân kể tiếp:

– Thằng con lớn của chị đã có vợ, nhưng chị cũng chẳng nuôi nổi. Cháu phải đưa vợ vào tuốt trong rừng làm cái lán ở, trông nom miếng đất trồng trọt cho người ta lấy công. Một nơi không có điện, không có nước, sống như người rừng. Đứa con gái út mới lấy chồng.

Nhà chỉ còn lại mình chị với đứa con nhỏ bệnh tật. Chị có miếng đất bỏ hoang phía sau nhà, mấy người bạn thương hại, đầu tư cho chị chút vốn trồng vài trăm gốc tiêu, ít cây ăn trái. Nhưng mới chỉ là ban đầu. Một mình chị đóng cọc, làm cỏ, tưới cây, chăm bón và khi nghe tiếng con hú lại tất tả chạy về. Nguồn thu lợi chính của chị là dạy học thêm cho chừng hơn 10 đứa học trò nhỏ, tháng được vài trăm ngàn, không đủ tiền ăn cho hai mẹ con chứ đừng nói đến tiền thuốc thang cho cháu. Chị cũng chẳng thể làm gì hơn trong hoàn cảnh như thế này và ở một nơi chốn như thế này.

Sáng hôm sau, khi Thụy Vũ mải làm cỏ cho đám cây mới lớn ngoài vườn, tôi nhờ Ngân đưa vào thăm cháu Khôi Thụỵ Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổi.

Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửa. Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con người. Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòi. Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang. Nghe tiếng hú, tay tôi cầm chiếc máy hình run lên, nước mắt tôi bỗng trào ra, nhòe nhoẹt ống ngắm. Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài cái tiếng kêu ấy.

Biết đâu cháu chẳng có một chút tri thức nhỏ nhoi nào đó còn sót lại trong cái đời sống thực vật kia. Biết đâu chẳng phải là tiếng nói nghẹn lại trong nỗi ẩn ức vô cùng không thể diễn tả thành lời. Cứ nghĩ như thế tôi lùi dần ra ngoài cánh cửa gỗ mùi hôi nồng tanh tưởi còn đọng lại mặc dù căn phòng được lau rửa hàng ngày. Những người quanh cháu đã quen với cái thứ mùi này rồi nên không để ý, nhưng người mới tới lần đầu là thấy ngay.

Ngân phải cầm máy hình, chụp giúp tôi vài tấm. Thú thật là ngay lúc đó tôi chưa biết phải làm gì với mấy tấm hình đó. Tôi chỉ cảm thấy cần phải có vài tấm hình của cháu mà thôi.

Ngân chỉ chiếc xe lăn bên cạnh phòng:

– Có vài chiếc xe lăn của mấy người bạn chị Vũ ở nước ngoài gửi về cho cháu như anh Triển cùng chị Triều Giang, chị Trùng Dương. Nhưng đã bán hết, nay chỉ còn lại một chiếc còn để đó, chẳng ai trong nhà này bế cháu lên nổi xe lăn nữa.

Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:

– Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ.

Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ

– Phải nói rằng một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến.

Ngân tiếp:

– Suốt bao nhiêu năm sống bên cạnh chị Vũ, em chưa hề nghe chị phàn nàn một tiếng

nào trong việc phải cực khổ trông nom nuôi nấng đứa con bệnh tật đau khổ này.

Tôi buột miệng hỏi:

– Còn cha nó? Có thăm nom gì không?

– Cha nó, Tô Thuỳ Yên ở bên Mỹ, nhưng từ ngày ra đi, ông quên mẹ con chị Vũ rồi. Mặc dù bạn bè ai cũng biết, mấy mẹ con chị sống khổ cực cay đắng đến như thế nào 25 năm qua, cho đến bây giờ đời sống vẫn vậy. Không đủ tiền cho con ăn, lấy tiền đâu uống thuốc? Sống hôm nay biết hôm nay, ngày mai nói chuyện sau. Tính chị Vũ vẫn vậy. Hôm sau tôi hỏi lại chị Vũ về việc này cho rõ ràng . Chị chỉ gật đầu:

– Đúng thế. Tôi không hề biết địa chỉ của anh ấy. Thỉnh thoảng mấy đứa con anh ấy về

chơi, chúng rất có cảm tình với tôi. Có lẽ vì thấy ….

Chị bỏ lửng câu nói ở đấy rồi bắt sang chuyện khác. Tôi cúi đầu, một nỗi đau tràn đầy, niềm tủi buồn dâng ngập.

Và đêm đó tôi lại nghe tiếng hú của cháu vang lên trong đêm dài giữa núi rừng An Lộc lộng gió. Cái bóng âm thầm của chị Thụy Vũ vọt dậy, lặng lẽ đến với đứa con, tiếng hát ru nhè nhẹ của chị sợ làm kinh động giấc ngủ của khách và nhà hàng xóm. Tôi làm sao mà ngủ lại được! Ngày hôm sau, chị Vũ đưa hai chúng tôi ra trước cửa trụ sở của Hạt Kiểm Lâm đứng đón xe đò trở về Sài Gòn. Chiếc xe chuyển bánh, người đàn bà gầy gò đứng chơ vơ trên sườn đồi đất đỏ. Chị cúi đầu trở lại với công việc làm cỏ khu vườn tiêu và với đứa con bệnh tật cùng với cuộc sống vô cùng thiếu thốn cô đơn của chị. Cái hình ảnh ấy khiến tôi ngồi dại đi. Ngân cũng chẳng hơn gì tôi, mặc dầu với tôi đây là lần đầu tiên tôi đến thăm Thụy Vũ, nhưng với Ngân đây là lần tạm chia tay với mẹ con Thụy Vũ không biết là lần thứ bao nhiêu rồi. Tôi biết rằng tôi phải làm một cái gì đó. Một lát sau, tôi nói với

Ngân:

– Anh phải viết một bài về chị Thụy Vũ và cháu Khôi Thụy. Nhưng không biết có chạm đến lòng tự ái của chị Thụy Vũ hay không. Bởi chị là người không hề than thở với ai điều gì bao giờ, chị luôn luôn tìm tiếng cười trong cuộc đời vô cùng bất hạnh của chính mình. Ngân suy nghĩ một chút rồi nói:

– Nếu anh hỏi ý kiến thì chị Vũ có thể sẽ từ chối đấỵ Nhưng anh hãy làm cái gì mà anh thấy cần làm. Em sẽ nói với chị ấy sau. Anh tin vào tình thân của em với chị Vũ thì cứ làm.

Tôi nói với Ngân:

– Bạn bè anh ở nước ngoài đã có một số biết về tình cảnh của chị Thụy Vũ và đã có “yểm trợ”. Nhưng còn một số anh chị em khác vẫn chưa biết.

– Em hiểu, thỉnh thoảng chị Thụy Vũ cũng có được những ngày vui, đầy đủ với con cái nhưng chỉ ít ngày sau là lại túng thiếu. Vì thế vấn đề bây giờ là phải làm sao cho chị ấy có vốn để buôn bán hoặc trồng trọt, tính đến cuộc sống lâu dài, chị ấy cũng 63 tuổi rồi chứ ít sao. Chị ấy thường lo rằng nếu chị ấy chết trước thì cháu Khôi Thụy sẽ khổ hơn nữa. Anh em nó cũng chẳng ai đủ sức lo cho nó được. Chị thường nói: “Nếu hai mẹ con chết cùng một lượt thìà vui biết mấy”.

Nghe câu “vui biết mấy” mà tôi muốn dựng tóc gáy. Đó cũng là tính cách đặc biệt của Thụy Vũ. Đau buốt ruột mà vẫn giỡn đấy, giỡn đấy mà là giỡn thiệt chứ không phải mỉa mai. Tôi đã đề nghị chị viết lại một tập hồi ký về đời mình. Chị lắc đầu:

– Thèm viết lắm, nhưng làm gì còn thì giờ, còn tâm trí đâu mà viết nữa. Vả lại bỏ nghề lâu rồi chẳng biết mình viết nữa thì sẽ ra sao.

Tôi hiểu rằng chính cái thiếu thốn trăm bề khiến chị không còn thì giờ đâu mà ngồi vào bàn viết. Tôi phải bàn với Ngân tìm tạm một cơ hội nào đó cho chị rảnh rang chân tay để cho có được một tác phẩm chắc chắn là sẽ rất hay. Ngân đồng ý là sẽ hết sức cố gắng làm công việc này. Thuyết phục mãi, chị Thụy Vũ hứa là sẽ tiếp tục việc viết lách. Và tôi rất hy vọng sẽ có một tác phẩm mới của Thụy Vũ vào một ngày không xa. Chính vì vậy, tôi nghĩ đến việc thông tin cho các bạn tôi ở nước ngoài. Nhưng như tôi đã nói với Ngân:

– Các bạn tôi ở nước ngoài cũng là những người chẳng dư giả gì, có ông còn đói dài.

Nhưng họ vẫn gửi về giúp đỡ anh em mỗi khi cần đến. Vì sự nhún nhường thường có của các anh chị em, tôi không tiện kể tên ra đây. Tuy nhiên nếu tôi lên tiếng đề nghị thì chắc chắn sẽ lại có anh em tiếp tay ngay. Nhưng ở đây, tôi xin gửi đến tất cả độc giả thông tin này để nếu có thể tiếp tay cùng anh chị em chúng tôi lo cho đời sống của mẹ con chị Thụy Vũ một cuộc sống vững vàng hơn. Và nếu như có một cơ quan từ thiện nào sẵn lòng giúp đỡ cho cháu Khôi Thụy được đi chữa bệnh thì vấn đề sẽ được giải quyết tốt đẹp hơn rất nhiều. Sau cùng, tôi xin lỗi chị Thụy Vũ vì đã viết bài này mà chưa hề biết ý kiến của chị.

Tôi chỉ làm một công việc mà tôi thấy cần phải làm. Tôi đã hỏi ý kiến của bạn bè thân ở Sài Gòn và ở nước ngoài, hầu hết anh em thân thuộc đều cho phép tôi được viết bài này.

Tôi hy vọng sẽ có rất nhiều bạn đọc có tấm lòng sẵn sàng giúp đỡ và để khỏi phải qua một trung gian nào, xin liên lạc thẳng với chị Thụy Vũ theo địa chỉ sau:

Nguyễn Thị Băng Lĩnh,

Hộp Thư 08 – Bưu điện Lộc Ninh – Tỉnh Bình Phước.

Bài của VĂN QUANG (nqtuyen@****.fpt.vn), Feb 15, 2004

Quan điểm về nuôi dạy con, cháu!

Note: trả lời quan điểm về chăm sóc cháu của một số bạn hữu

Con do mình đẻ ra,
Tròn bổn phận mẹ cha
Chăm lo nuôi dạy chúng
Không ỷ lại ông bà!

Con mình rứt ruột ra,
Cận huyết thống mẹ cha
Giao ông bà chăm sóc
Vô trách nhiệm thế a?

Mẹ cha sinh ta ra
Chăm sóc nuôi dưỡng ta
Vất vả xưa từng trải
Nay phải được hưởng già

Cái việc chăm trẻ con
Phải người khoẻ còn son
Thân già yếu hay vụng
Cháu té ngã no đòn!

Quan điểm tôi rõ ràng
Sinh con, nuôi đàng hoàng
Mai sau tôi có cháu
Chơi đùa, không đa mang!
Đặng Phước

Tranh minh họa (sưu tầm)

Rèn luyện nghệ thuật viết tiểu thuyết cho người đọc cấp tốc

Tiểu thuyết vi mô, còn được gọi là tiểu thuyết flash hoặc tiểu thuyết nhanh, cho người đọc thấy một thế giới mới, một quan điểm mới lạ, chỉ trong một hoặc hai phút. “Đây là một trò chơi mà các nhà văn tiểu thuyết thích chơi”, Edward Porter nói, ông là giảng viên sáng tạo tại đại học Stanford. “Đây có thể chỉ là một cách để bắt đầu viết, nhưng nó cũng cho phép nhà văn tiểu thuyết sống trong thế giới mà các nhà thơ đang sống, một trong những nơi mà niềm tự hào về sự hoàn thành thường đến nhanh hơn”. Porter dẫn sinh viên đại học thông qua bài tập với lời nhắc như thế này: Sử dụng một người kể chuyện bất ngờ để kể cho chúng ta về một khoảnh khắc lịch sử. Katiana Uyemura, tìm thấy một khoảng khắc tuyệt vời.

Đó không phải là lỗi của tôi. Tôi sẽ thừa nhận mình cô đơn, nhưng chỉ có làm bạn của những con mòng biển và những con sóng che khuất vào ban ngày và những ngôi sao xa xôi và những cơn gió lạnh vào ban đêm, bạn cũng sẽ cô đơn như vậy. Đôi khi, tôi thường tự an ủi bản thân bằng cách nghĩ về việc mình đẹp như thế nào, lấp lánh như một viên kim cương có một chút vẫn đục hay một viên đá sapphire nhạt khổng lồ, hải đăng của ánh sáng được phân chiều. Nếu đó là sự thật, thì bạn nên gặp tôi trước khi quá muộn. Mặc dù bạn đã không gặp tôi, nhưng tôi cho rằng đó cũng không phải là lỗi của bạn. Nếu người cảnh báo đã có ống nhòm, nếu thuyền trưởng giảm tốc độ, nếu thân tàu mạnh hơn, nếu hành khách không được tự mãn bởi hơi ấm bên trong, nếu sóng biển không cao quá mức, nếu, nếu, nếu, v.v.

Tốt. Cuối cùng, không gian rất yên tĩnh, nếu bạn có thể tin được. Tôi kinh hoàng với những gì tôi đã làm. Nhưng tôi cũng đã thấy những cánh tay điên cuồng rơi xuống khi những chiếc xuồng cứu sinh gần như trống rỗng trôi qua, nghe thấy những tiếng rì rầm cuối cùng của những người đắm bị mắc kẹt bên dưới khi nước dâng lên cổ và mũi, ngửi thấy sự tuyệt vọng khi cha mẹ nhận ra họ không thể cứu con mình, vì những người yêu nhau nhận ra họ có thể không cứu nhau hay cứu mình. Vâng, đó không phải là lỗi của tôi, đó là lỗi của họ, bởi vì lỗi của con người gộp lại và gộp lại cho đến khi hầu hết họ quên mất động thái anh hùng và lòng tốt và ý nghĩa là gì, và thực sự, việc nhớ lại cuối cùng cũng không giúp được gì.

Nguồn: Jill Patton. Undergrad fiction writers master the art of the speed-read. https://stanfordmag.org/contents/tales-from-the-garden-and-the-sea

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada dịch.

Em bé mồ côi

Hạ qua, thu đến, đông lại về

Em bé nghèo, côi cút nấp xó chợ

Chiếc áo rách mỏng tanh, bàn tay lạnh

Thu mình oằn oại giữa đêm khuya

Mọi thực cảnh, hiện ra trước mắt

Tự hỏi mình: “ Sao hạnh phúc vội qua?”

Đến nay, không nhà, không cha mẹ

Mồ côi tội nghiệp, lang thang đường

Đêm khuya lạnh lẽo, tuyết bỗng rơi

Chớp chớp mắt, hòa vào giấc ngủ

Đắm chìm say, trong một giấc mơ đẹp

Tết đến rồi, bên bếp lửa hồng than.

Nguyễn Cô-li, cô giáo người Sơn La.

Văn học là nhân học.

Khi còn là học sinh phổ thông tôi được dạy như vậy, tuy nhiên khi ấy tôi cũng chưa rõ “nhân học” là gì? Ngày nay, càng ngày tôi càng hiểu ra “Quả đúng là văn học là nhân học!”. Văn học nói lên tư chất và nhận thức,… nó nói lên tất cả về bản thân người viết nói lên bối cảnh xã hội, về nội dung muốn truyền đạt, đối tượng người cần truyền đạt…

Tóm lại nói về hết tất cả mọi thứ. Vậy nhưng chúng ta không quan tâm, hay nói đúng hơn mấy cái bộ Thông Tin Truyền Thông, mấy cái hội Nhà Văn, mấy cái bộ Giáo Dục,.. các trường phổ thông , đại học từ thấp đến cao… đều không đả động đến việc nghiên cứu và dạy văn.

Những bạn không tin điều trên thì hãy tự đặt câu hỏi cho mình:
– Thế nào là một đoạn văn? Thế nào là nội dung truyền đạt, tức một ý?
– “Dùng dấu “,” (dấu phảy) thế nào? “; dùng các loại dấu câu thế nào?
– Hành văn là gì? Giá trị “nhân học” trong việc phân tích một câu văn, một tác phẩm bao gồm những gì?
– Thế nào là ngữ pháp, thế nào là chức năng của từ?

Chúng ta thử bắt đầu bằng đoạn văn là gì? Tôi cũng đang phải sử dụng công cụ ngôn ngữ để truyền đạt, vậy các bạn tự theo dõi cách tôi sử dụng các dấu câu, cách tôi phân đoạn văn, để phản bác lại ngay thứ mà tôi đang viết ra.

Rất nhiều sinh viên khi được hỏi về đoạn văn là gì thì trả lời “đoạn văn là xuống dòng, hết một ý”. Vậy khi hỏi ý là gì thì thường là không thể trả lời được. Các vị đang đọc tút này cũng thế thôi, chắc chắn các vị tự cho rằng mình biết tiếng Việt. Chả nhẽ không biết đến đoạn văn là gì mà “nói liên tục suốt ngày, viết lăng nhăng hết dự án này đến dự án kia … Đọc hết tút này, các bạn có thể tự tiến hành kiểm tra và hiểu ra rằng rất nhiều người chưa bao giờ đặt vấn đề hiểu rõ công cụ ngôn ngữ thế nào trước khi sử dụng!”. Hãy tạm chỉ nói về thế nào là một đoạn văn!

Hẳn ai từng học toán, chắc còn nhớ toán thì có các chứng minh. Chứng minh toán học là để khẳng định sự đúng sai, dựa trên việc công nhận một số thứ đã được cho là đúng. Văn thì cũng như vậy, nó thuyết phục người đọc tin và làm theo trên những điều đã được cho là đúng. Như vậy văn học là thứ khoa học bao trùm mà toán học chỉ là một phần. Mỗi một thuyết phục, được coi là một đoạn văn và chúng được phân tách bởi dấu xuống dòng. Cấu trúc của mỗi đoạn văn bao gồm các yếu tố cần để thuyết phục “A”, quy tắc thuyết phục “A=>B” và điều cần thuyết phục “B”.

Có thể phải nhắc lại một ít về từ loại, tức chức năng của nó trong câu. Nếu chúng ta vì một cái gì đó để viết ra thì cái đó là chủ ngữ. Chủ ngữ có thể là danh từ như “Đinh La Thăng” và nếu có thể đoán ra được thì danh từ có thể được thay thế bằng đại từ như “anh, tôi, ông ấy, nó….” . Các thay thế này chỉ có tác dụng trong đoạn văn mà nó được sinh ra mà thôi. Văn học cũng chính xác như toán học, mỗi đoạn văn là một khẳng định độc lập. Ở đoạn văn mới các đại từ ngầm định phải được tái gán nội dung.

Thuyết phục một người tức là chuyển trạng thái tâm sinh lý của họ từ trang thái này sang trang thái khác. Như thế một bài viết na ná như một thang thuốc bắc, mà các đoạn văn là các vị thuốc. Trong thang thuốc đó có vị là chủ đạo, có vị bổ trợ, vị dẫn thuốc… Như thế các đoạn văn được phân vai, có đoạn để minh chứng cho yếu tố nào đó cần cho suy diễn là đúng, có đoạn thuyết phục nên sử dụng quy tắc suy diễn nào là đúng.. có đoạn đóng vai trò trạng để nói lên thời gian địa điểm hay nguyên nhân, cứ như thế mà hình thành ra bài viết.

Thường thì các đoạn văn thành phần xuất hiện một cách liên tục, đoạn nọ sau đoạn kia theo trình tự thời gian hoặc không gian. Trình tự này phản ảnh kết nối hệ lụy giữa các sự kiện. Giữa các đoạn có thể có một câu dẫn dắt thể hiện sự liên kế nghĩa nào đó để người đọc không bị bất ngờ. Cũng có thể xuất hiện sự liên kết đoạn mới không theo trình tự thời gian hay không gian mà theo trình tự thuyết phục. Khi đó tính liên tục của thời gian và không gian bị phá vỡ. Hình thức này được gọi là lập thể. Picaso là người đầu tiên đưa lập thể vào hội họa và vào năm 1925 Эйзенштейн đưa khái niệm về tính lập thể vào điện ảnh trong bộ phim Chiến Hạm Pochomkin.

Nếu bài viết quá lớn người ta phân ra chương hồi, mỗi chương hồi có một tác dụng na ná như đoạn văn, nhưng phức tạp hơn.

Một đoạn văn là một quá trình lập luận để thuyết phục người đọc dựa trên các quy tắc suy diễn. Các quy tắc suy diễn đôi khi là ngầm định đã được mọi người chấp nhận. Ví dụ như “con mèo thì tất nhiên là bắt con chuột”; “chuồn chồn bay thấp thì mưa”, “cho cả lớp tát một học sinh phổ thông 200 cái thì là tội ác”…. Những quy tắc suy diễn ngầm định ấy không cần chúng ta phải viết ra mà người đọc tự hiểu. Tập hợp tất cả các ngầm định tự hiểu được ra đó được gọi là văn hóa. Vậy chúng ta chỉ có thể hiểu tốt một tác phẩm văn học, hay thậm chí chỉ là một câu nói — nếu chúng ta có cùng văn hóa với người viết. Nói một cách khác chúng ta chỉ có thể viết ra một tác phẩm văn học nếu chúng ta hiểu được văn hóa của người đọc. Điều này hàm ý chúng ta phải xác định đối tượng người đọc trước khi viết. Và trước đó chúng ta cần phải hiểu văn hóa là gì? Khi tôi đang viết cho các vị đọc đây, tôi hình dung các vị đang bị choáng vì chợt nhận ra nhiều thứ quá quan trọng mà mình hầu như không để ý. Nếu tôi bảo các vị là một lũ “vô văn hóa” thì thật là bất tiện (tôi đành phải sử dụng dấu nháy — dấu nháy, viết nghiêng, là các thủ thuật được dùng khi muốn nói ý khác với ngầm định ngữ nghĩa, hay khác với ngầm định ngữ pháp).

Rất có thể ai đó trong số các bạn mong muốn tôi giải thích văn hóa là gì? Chúng ta sẽ nói về việc này sau, nó cũng hơi dài. Vậy chúng ta sẽ chỉ nói về một góc cạnh nhỏ của khái niệm văn hóa đủ để hiểu những gì tôi trình bày ở trên. Văn hóa là các quy tắc định hướng suy diễn. Có 3 quy tắc chính. Quy tắc mà chúng ta hay dùng và hay gây ra các chuyện kinh thiên động địa khi bị ai đó đưa ra nhận xét “vô văn hóa” là thứ văn hóa hàm ý “hệ thống các ngầm định không giống với đa số những người xung quanh”. Những bạn ở quê thì biết ông bà thường nhắc nhở “chó đẻ thì đừng nghịch con của nó, mùi khác đi là chó mẹ nó cắn chết con”. Con chó con bị cắn chết là bởi mùi của nó khác với các con còn lại — đó là không cùng chung văn hóa. Nếu một cô gái “trần như nhộng” đi dạo Hồ Gươm thì sẽ bị coi và vô văn hóa, và sẽ bị bắt nhốt (có bị đánh hay không còn tùy thuộc văn hóa của các quan Phụ Mẫu!). Chân củ lạc muốn che dấu bằng áo quần, cô gái cân đối xinh đẹp muốn phô ra. Đơn giản là, cô gái không “giống” như mọi người. Văn hóa là thứ để cộng đồng tự bảo vệ mình, nó sẽ đào thải các mầm mống văn hóa khác lạ. Chó thuộc loại mù màu đừng giải thích cho chó. Người thuộc văn hóa này sẽ khó có thể hiểu được văn hóa khác. Vì vậy để tránh các cuộc chiến tương tàn, chúng ta cần phải học văn học, cần phải giao lưu, để hiểu các hình thái văn hóa khác nhau. Hiểu được cách suy diễn của nhau.

(đang viết…do có thể bị mất điện nên tôi phải post bài viết lên)

==============================

Viết bởi Nhà toán học Nguyễn Lê Anh, đăng trên Facebook cá nhân.

Hình minh họa bởi đại học Oxford, cảnh chụp trong thư viện

Phụ huynh Mỹ tặng xe hơi cho cô giáo dạy con mình

Một ngày nọ, chồng của bà Courtney Adeleye, một cư dân Hunstville, tiểu bang Alabama nói với vợ rằng cô giáo của con họ rất vất vả. Ngày nào cô cũng phải đi nhiều chặng xe bus mới tới được trường. Cô không có xe hơi riêng. Ông nói chúng ta nên làm gì đó giúp cô. Nghe vậy bà bảo:” anh không cần kể thêm nữa em đã có quyết định rồi”.

Ngay lập tức. theo Inspiremore, bà Courtney Adeleye đã mua tặng cho cô giáo của con bà một chiếc Ford Focus trí giá 18 ngàn usd .

Xe được chở tới trướng và gắn ruban màu xanh rất đẹp đẽ. Bà Adelaye vào lớp và mời cô giáo ra nhận xe. Quá bất ngờ, cô giáo ( mặc áo xanh) nói ” Thật ư ? Ôi chúa ơi, bạn có nghiêm túc không? ” Cô che mặt bằng hai tay, rồi ôm ông bà Adeleye để cám ơn. Gương mặt của cô tràn ngập những giọt nước mắt hạnh phúc . Đây là lần đầu tiên cô có xe hơi.

Giáo viên ở Mỹ có những người lương thấp, gia cảnh khó khăn so với mặt bằng chung của xã hội. Tuy vậy họ vẫn cần mẫn dạy học sinh tận tâm chứ không yêu sách, đòi hỏi phụ huynh hay dạy thêm kiếm tiền. Để có thêm thu nhập, họ sẽ làm thêm 2-3 việc để sống lương thiện. Ở Mỹ phụ huynh không có thói quen tặng quà giáo viên. Nếu có tặng cũng là những món nho nhỏ mang tính chất lưu niệm là chính vì không đắt tiền. Vì vậy hành động của bà Adelaye là rất hiếm hoi và được đánh giá cao.

Tham khảo:  Inspiremore, Nguyễn Thị Bích Hậu