Áp dụng Việt đạo vào Việt y (1)

Tác giả: Việt Nho

(Theo lời yêu cấu của GS Tôn Nữ Thóc Nâu và nhóm Phát huy Tinh Hoa Việt Cổ)

          Y học có nhiều có nhiều nhánh: Đông Y, Tây Y và Việt Y. Nhành Việt Y còn gọi là thuốc tam bao gồm nhiều môn phái như: cạo gió, giác hơi, lể đẹn, bắm huyệt, bào chế thuốc Nam và nấu ăn theo dưỡng sinh đặt trên căn bản của Tam Cương và Ngũ Thường của Việt Dịch. Bài viết sẽ được trình bày trên hai bộ môn chính là:

Tập hít thở quán niệm

I. Phương pháp hít thở theo tinh thần Việt đạo

II. Lấy thuốc ở trong ta và trong đất trời

 Trong kỳ thứ nhất, tôi xin trình bày phần I (Hít thở ba thì thiên địa nhân )

I. Phương pháp hít thở đúng tinh thần Việt Đạo

1/ Hít thở 3 thì: Thiên – Địa – Nhân kết hợp nuốt nước miếng 

(Có thể xem như ngón đòn võ thuật “Bách đả nhất trừ”

          Cách Hít Thở của BS Nguy ễn Khắc Viện: BS Viện sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, mất 1997. Năm 35 tuổi bị cắt 1 lá phổi trái và 1/3 phổi phải . Ông BS người  Pháp bảo ông chỉ sống thêm được 2 năm sẽ chết nhưng thật kỳ diệu, ông sống thêm 50 năm nữa và qua đời lúc 85 tuổi

Dưới đây là bài vè 12 câu dạy hít thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra

Phình bụng hít vào

Hai vai bất động

Chân tay thả lỏng

Êm chậm sâu đều

Tập trung theo dõi

Luồng ra luồng vào

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Đứng ngồi hay nằm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được!

Như trên là là sự hướng dẫn hít thở theo Thiền Quán Niệm của BS Nguyễn Khắc Viện do BS Đỗ Hồng Ngọc truyền lại. Tôi thì làm chuyện quán niệm hơi thở cách ngắn hơn là nhẩm trong đầu bốn câu văn vần để cho tâm trí mình khỏi chạy lung tung sau hơi thở ra:

“Hít vào dưỡng khí chạy vào

Thở ra thán khí tuông trào chạy ra

Khí vào nuôi dưỡng thân ta

Thở ra buông thả an hòa thân tâm”

(BS Đỗ Hồng Ngọc)

      Và, bốn câu nầy lại được lập lại trong hơi thở kế tiếp suốt buổi tập thở. Nhưng đây chỉ là một trong nhiều cách làm chứ không là một khuôn mẫu cố định. Nhiều người có tự lực chưa cao thì cũng có thể niệm danh hiệu lục tự  A Di Đà Phật hoặc niệm lời cầu xin Đức Mẹ Maria …

         Hít Thở  ba thì  đi kèm tĩnh tâm vả nuốt nước miếng

   kích thích huyệt đạo trên nguyên tắc đồng thanh, đồng khí tương ứng, tương cấu gọi là đờng ứng trị liệu pháp (thầy Lý Phước Lộc)

  2/ Hít Thở Theo Mô Thức Tam Tài Thiên Địa Nhân

Dưỡng khí là rất cần cho một cơ thể sống:  Một cơ thể sống không thể thiếu lượng oxy, nhưng làm cách nào để có lượng oxy?  Thưa, cần thở cho đúng cách,  thở lâu, dài, đều và với ba thì thở:

 a. Thở ra: tóp bụng lại, làm hoành cách mô đưa lên, đẩy hết thán khí trong phổi ra, hơi thở càng dài càng tốt nhưng cũng phải tùy sức của mình. Ban đầu có thể hơi thở ngắn nhưng tập lâu ngày hơi thở càng lúc càng dài ra.

b. Hít vào: Hít vào bụng phình ra, hoành cách mô kéo xuống là cho dung tích phổi tăng lên, dưỡng khí đưa vào phổi sẽ nhiều hơn

  c. Nín thở: Việc nín thở giữ hơi lại trong người có tác dụng đưa khí huyết lưu thong cùng khắp cơ thể, nhưng thời gian nín thở cũng phải tùy sức, thùy người, nghĩa là tùy thời vị. Kéo dài thời gian nín hơi sẽ là cho áp huyết tăng, tốt cho người áp huyết thấp nhưng không tốt cho người đang có áp huyết cao, mình phải là thầy thuốc của mình, mình cần phải chiêm nghiệm bản thân mình mà tập thở. 

Ba thì: thở ra, hít vào, nín thở là ba thì một hơi thở, khi thực hiện xong, ta lại tiếp tục chu kỳ hơi thở với ba thì như vừa nói.

 Hơi thở cần sâu, nhẹ, đều và trong tư thế tĩnh lặng: Những loài vi trùng, vi khuẩn và tế bào ung thư hầu hết đều phát triển mạnh trong môi trường thiếu khí (yếm khí). Hít thở để đưa dưỡng khí tối đa vào phổi, ngoài việc làm cho máu tốt để nuôi  cơ thể, oxy còn có tác dụng diệt khuẩn và làm chậm tiến trình phát triển tế bào ung thư.

Tĩnh lặng trong lúc thở sẽ làm cho hệ miễn nhiễm hoạt động tốt, làm giảm căng thẳng, stress, điều hòa nhịp đập của tim …

Việc làm cho tâm tĩnh không là điều dễ làm, bởi “tâm viên, ý mã” (Tâm nhảy lung tung như khỉ, ý chạy như ngựa)

 Muốn giữ tâm định cần có phương pháp: Trong lúc hít thở đừng nghĩ lung tung mà tập trung theo dõi hơi thở của mình: Thở ra, biết mình đang thở ra, hít vào biết mình đang hít vào, nín thở biết mình đang nín thở.

Nếu tư tưởng chạy lạc thì hãy kéo nó lại với hơi thở của mình, việc làm nầy thiền học gọi là thiền quán niệm hơi thở (Ānāpānasati)

Suốt trong thời gian tập thở cần nuốt nước miếng: Nước miếng được xem như nước cam lồ. Nó có ba tính qúi:

      Tiêu hóa thức ăn; Làm mát lục phủ, ngũ tạng; Có tính sát trùng cao

 Thường  nước miếng của mình  nó độc là độc  đối với người khác, nhưng với chính mình thì nó rất bổ, tương tự như  yến sào!

Ăn tổ yến vừa tốn tiền, đôi khi còn bị “tiền mất tật mang” vì ăn trúng tổ yến giả do bọn gian thương hám lợi bán cho, chưa nói đến ăn tổ yến là bất nhân lắm!

Thật ra, tổ yến không gì khác hơn là nước miếng của loài chim yến: Chim yến làm tổ bằng nước miếng của chính nó. Đôi chim Yến đã rút nước miếng của mình ra để làm tổ và đẻ trứng vào đó, nếu tổ bị hư hao vì gió bão hay vì con người lấy tổ, yến phải cố sức vét nước miếng cạn kiệt đến máu chảy ra mà xây tổ mới. Người ăn yến thường thích loại yến huyết; tổ yến huyết hơn loại thường.

          Điều đáng thương tâm là, khi người ta khai thác yến, trứng hay con đều bị vứt chỉ lấy tổ, và khi chim mẹ về mất con, mất tổ kêu la thảm thiết lắm, rồi bay vút lên trởi cao, nhào đầu nơi chỗ tổ bị con người lấy mà tự tử. Con chim trống cũng làm thế để cùng chết với vợ và bầy con ngay nơi chỗ tổ mà con người lấy mất. Có một số con trống không tự vẫn, mãi sống để gậm nhấm nỗi đời cô đơn. mất vợ, mất con và cả đời không bao giờ có vợ khác.

          Những ai còn chút lương tâm khi biết được loài chim đầy tính trung thành và yêu thương con cái, chắc không bao giờ ăn tổ yến mà thay vào đó là bằng nuốt nước miếng của mình để có sức khỏe tốt.

          Trong phần thảo luận có một bạn trẻ trong nước hỏi về gan bị nhiễm siêu vi B và thận bị sạn  được trả lời là để chữa bệnh viêm gan B, nên sắc lá mơ lông sau khi đã sao vàng hạ thổ rồi uống, cứ kiên trì chắc chắn bệnh sẽ thuyên giảm. Bệnh sõi thận thì hãm nước chuối hột sau khi đã sao vàng, xay nhuyễn uống thường xuyên.

          Chi tiết bài thuyết trình xin vào link: https://drive.google.com/file/d/1-hirjxotKf7Itq7oudi4ssujUvq3TqTl/view?usp=sharing

Mời quý vị đón đọc kỳ II sẽ trình bày phần “Lấy thuốc ở trong ta và trong đất trời” 

Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian ra đọc và nghe

San jose, 17/9/20

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com Fb: Việt Nho Nguyễn

Sponsored Post Learn from the experts: Create a successful blog with our brand new courseThe WordPress.com Blog

Are you new to blogging, and do you want step-by-step guidance on how to publish and grow your blog? Learn more about our new Blogging for Beginners course and get 50% off through December 10th.

WordPress.com is excited to announce our newest offering: a course just for beginning bloggers where you’ll learn everything you need to know about blogging from the most trusted experts in the industry. We have helped millions of blogs get up and running, we know what works, and we want you to to know everything we know. This course provides all the fundamental skills and inspiration you need to get your blog started, an interactive community forum, and content updated annually.

Văn hóa xưng hô!

Bài viết này không đề cập đến việc xưng hô trong tôn tộc, gia đình có quan hệ huyết thống mà chỉ đề cập đến nhân xưng ngoài xã hội!

Về quan hệ xã hội, có hai cách xưng hô đó là xưng hô theo chức vụ và xưng hô theo tuổi tác.

Xưng hô theo chức vụ, là khi ta đến các cơ quan công sở, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội dân sự ta nên xưng hô theo chức vụ các vị quan chức hay chức sắc để thể hiện sự tôn trọng tổ chức. Tuy nhiên, thái độ phải đàng hoàng chửng chạc, chỉ xưng gọi chức vụ của người tổ chức khi mới vào lần đầu, còn sau đó thì nên gọi “ông”, “bà”, “cô” và xưng “tôi”. Cần nói thêm là không được tỏ thái độ khúm núm, hèn hạ như xoa tay, cúi khom người …

Xưng hô theo tuổi tác đó là cách ứng xử văn hóa của người Việt từ bao đời nay!

Theo cách đó, người nhỏ tuổi xưng hô với bậc cao niên đáng tuổi anh, chị, chú, bác, ông, bà của mình thì gọi theo đúng vai như thế để thể hiện sự tôn trọng người lớn tuổi. Trường hợp, mới gặp chưa biết tuổi nhau thì gọi “anh, chị” xưng “tôi”để giữ phép lịch sự xã giao!

Người có văn hóa, trọng Lễ Nghĩa, việc xưng hô theo tuổi tác không bị ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị, vì thế cho dù khác chiến tuyến thì người ta vẫn xưng hô đàng hoàng, tử tế.

Thời tôi sống ở miền Nam Việt Nam dù khác quan điểm chính trị với miền Bắc tuy nhiên người miền Nam vẫn được dạy cách xưng hô một cách trung dung không bày tỏ thái độ miệt thị, chẳng hạn như gọi là ‘ông Hồ Chí Minh’, ‘ông Phạm Văn Đồng’, ‘ông Tôn Đức Thắng’…chứ không ai gọi thằng này, thằng nọ bao giờ cả!

Ở miền Bắc thì dạy cách xưng hô thế nào? Tất cả những thành viên của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều bị gọi một cách xách mé, miệt thị chẳng hạn như như “thằng Diệm” “thằng Thiệu”… Nếu xưng hô theo cách đó thì Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc đều bị gọi bằng “thằng” cả?

Tôi xin lỗi các vị Tổng thống VNCH quá cố vì đã phải nhắc lại cách gọi tên của người miền Bắc để cho thấy văn hoá giáo dục ở thể chế cộng sản như thế nào?

Người ta nói: “thể chế chính trị nào thì nền giáo dục đó, nền giáo dục nào thì con người đó” quả là không sai!

Một luật sư còn trẻ tuổi như Nguyễn Thuỷ mà dám gọi cụ già đáng tuổi ông mình là “thằng”và đòi đem tùng xẻo cụ trong khi cụ chưa làm điều gì hại nước, hại dân mà cụ chỉ đứng ra bảo vệ đất đai của tổ tiên bao đời nay. Vậy mà, người ta vào tận phòng ngủ để bắn chết cụ rồi dùng đám con ranh DLV, AK47 để phỉ báng cụ không tiếc lời thì đạo đức và luật pháp ở đâu?

Nhà giáo Đặng Đăng Phước

Lý Thường Kiệt đánh Tàu liệu có “hỗn”?

Việt Nho

1.     Thích Chân Quang là ai?

Trong một buổi thuyết giảng trước đông đảo Phật tử, tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT), ông Thượng Tọa Quốc Doanh Thích Chân Quang đã nói: “Tàu là Anh ta là em, Lý Thường Kiệt đánh Trung Quốc là hơi hỗn” (hết trích), vậy Thích Chân Quang là ai? Phát ngôn của ông ta như thế có đúng hay không?

Thích Chân Quang nhận danh hiệu
“Nhân tài đất Việt thời kỳ hội nhập quốc tế

Vừa qua, vào ngày 14/8/2019 (nhằm ngày 14/7/năm Kỷ Hợi), tại Thiền Tôn Phật Quang (Núi Dinh, thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh BRVT) đã diễn ra buổi Lễ trao tặng bảng vàng vinh danh NHÂN TÀI ĐẤT VIỆT THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ dành cho TT. Thích Chân Quang – Phó trưởng ban Kinh tế Tài chánh T.Ư GHPGVN, Viện chủ Thiền Tôn Phật Quang do Viện Khoa học Nghiên cứu Nhân tài Nhân lực Việt Nam tổ chức.

Nguồn từ nhà nước Cộng Hòa Xã Hộì Chủ Nghĩa Việt Nam: Thầy Thích Chân Quang hiện là vị Hòa Thượng chân tu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hiện tại, Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang – Bà Rịa Vùng Tàu.

Thầy có lòng yêu nước rất nhiều, nên Thầy thường xuyên là đối tượng của các thế lực phản động chống phá. Ta có thể thấy lòng yêu nước của Thầy thể hiện ở rất nhiều bài giảng. Thầy là trụ trì chùa của Chùa Phật Quang … Thầy Thích Chân Quang hiện là Hòa Thượng làm Phó trưởng ban kinh tế tài chánh TW của GHPGVN.

Nguồn từ Nhật Ký Yêu Nước

Thích Chân Quang nổi lên như cồn thời Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (con vô thừa Nhận của HCM). ông ta diễn thuyết những câu chuyện luôn gắn liền với đời sống chính trị, nhưng ở hàm ý ca ngợi chế độ CSVN và bào chữa cho việc làm sai trái của Tàu vào thời nhà Tống như bài giảng của Ông nói về Đức Lý Thường Kiệt: “Tàu là anh, ta là em. Lý Thường Kiệt đánh anh là hỗn”. Xin vào đường link dưới đây để nghe bài giảng của ông ở: https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/videos/1675775075782566/

          Chưa hết, sư quốc doanh Việt Cộng GHPGVN nầy còn nói Đế Minh dòng Viêm Việt là vị vua đầu tiên của Tàu.  Đé Nghi con của Đế Minh là người Tàu, giải thích lươn lẹo như vậy nhằm nói lên rằng: “ta là em, Tàu là anh, đánh Tàu là hỗn”.  Dưới đây tôi sẽ vạch mặt trò gian xảo, lươn lẹo nầy của ông sư của tình báo Hoa Nam

II. Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương (Lục Tộc) là Tàu hay Việt Theo Tinh Thần Của Huyền Sử?

Muốn biết được điều nầy nghĩ cần làm rõ huyền sử và cổ sử của Hán Việt:

Huyền sử là ngoại sử, tiền sử, là thời kỳ của Hồng Bàn Thị. Chính sử về sau thuật lại rằng: thời kỳ Hồng Bàng khởi đi khoảng năm 2879 TCN nghĩa là cách nay ngót 5000 năm, thuộc niên đại của Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ.  Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ XuyênTrung Quốc ngày nay). Như thế liên bang Việt tộc (Bách Việt) thời bấy giờ là cả một vùng đất mênh mông từ Dương Tử Giang đến giáp Chiêm Thành. Tuyệt nhiên không có bóng dáng của nước Hán (Chine, China)

Chính sử: Theo Đại Việt Sử ký Toàn thưĐế Minh (dòng Viêm Đế, Viêm Việt) là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh (Viêm Việt) truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), và Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lục Tộc làm vua xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2879 TCNLục Tộc/Kinh Dương Vương lấy Tiểu Long Nữ là con của chủ nhân Động Đình HồThần Long, Tiểu Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, làm vua, xưng là Lạc Long QuânLạc Long Quân: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_B%C3%A0ng

Như vậy: dòng Thân Nông, Đế Minh, Đế Nghi, Lục Tộc Kinh Dương Vương Sùng Lãm LLQ đều là đều thuộc Việt tộc. 

Đế Minh (cháu ba đời Thần Nông), Đế Nghi,  Lục Tộc là hai anh em ruột có cùng một người cha là Đế Minh, vua Việt đầu tiên trên phần đất Bách Việt cũ. Ngay cả Thần Long (chủ nhân Động Đình Hồ),Long Nữ (con gái Động Đình Hồ) và LLQ, Âu Cơ đều là dòng Viêm Việt Đế Minh

Kể từ Thần Nông là huyền tự chỉ khoảng không hỗn độn (Chaos) ban sơ khi mặt trời và qủa đất chưa hình thành, đến Đế Minh (Viêm Đế, chứ không là Đế Viêm) là thần thuộc xứ nóng Xích Đạo dòng Viêm Việt. Từ Thần Nông đến Viêm Đế/ĐếMinh được ghi nhận là ba đời. Đây là phần huyền sử nói về sự hình thành của Trời Đất, nói khác đi là giai đoạn của Thiên Sử hay Sử Vũ Trụ.

Đến Đế Thần Long + Long Nữ là thế hệ thứ tư kể từ Thần Nông

Đế Nghi + Lục Tộc (Kinh Dương Vương) là thế hệ thứ 5

Sùng Lãm/Lạc Long Quân là thế hệ thứ 6

Sáu “thế hệ” (từ tạm gọi), 3 thế hệ đầu thuộc Thiên Sử, 3 thế hệ sau thuộc sử nhân gian. Điều đáng ghi nhận ở đây là: Tục lệ Nam phương 5 thế hệ được xem là “Ngũ đại đồng đường”, trong việc dựng vợ gả chồng việt tộc không lấy nhau vì còn là “đồng đường”, Sùng lãm/Lạc Long Quân và Âu Cơ thuộc đời thứ 6 nên huyền sử kể là không còn là “đồng đường” nên có thể kết hợp thành vợ chồng. Đây là điểm khác biệt về tục lệ của phương Nam Việt tộc với Hán tộc Bắc phương rất rõ ràng khác nhau là: dòng Nam Tộc các trẻ, con cô con cậu không thể lấy nhau, nhược lại với Hán Tàu là con dì, con cô có thể lấy nhau.

Lấy Lý Số để giải thích con 5 (5 thế hệ) là con huyền số, viết ra Lý Số là con LI 101 (nằm phương Nam BQHT) vừa chỉ ra phương vị, vừa nêu ra Đạo Lý của phương nầy về tính chất “đồng đường” (chung một từ đường) thì không được kết hôn với nhau vì còn xem là bà con.

Về truyện hoàng Đế đánh Si Vưu: Xi Vưu (cũng đọc là Xuy VưuSi Vưu, “Txiv Yawg”. là một anh hùng cổ xưa của người Miêu ở phần Đất Trung Hoa. 

Xi Vưu, cùng với Hoàng Đế và Viêm Đế, được coi là ba quốc phụ vĩ đại. Si Vưu là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc. Si Vưu Là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê và được biết đến nhiều do đã chiến đấu rất dung cảm với Hoàng Đế trong trận Trác Lộc trong. Si Vưu đã thể hiện được uy lực trong chiến tranh, tên gọi Xi Vưu cũng trở thành đồng nghĩa với từ “chiến tranh” trong tiếng Hán, những người tôn trọng thì xem ông như là “chiến thần”, còn những người bài xích thì xem ông như là “họa thủ”. Đối với người Miêu“Txiv Yawg” (Si Vưu) là một vị vua thần thoại có tính khôn ngoan. Người ta tin rằng ông là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc được hình thành bởi một số bộ lạc ở miền nam Trung Hoa khoảng 3000 TCN 

Các sử gia đều thừa nhận rằng nguồn gốc của Si Vưu là rất phức tạp, và việc nầy đã gây tranh luận không ít trong giới sử gia, ông có thể thuộc tộc Miêu (H’Mông), Đông Di, hay thậm chí là Man, tùy theo nguồn và nhận định. Ngày nay, Si Vưu vẫn giữ một vị trí quan trọng trong thần thoại của người Miêu (Mèo), người Miêu hiện vần còn tồn tại ở vùng cao miền Bắc Việt Nam).

Ở vào khoảng niên đại nầy (3.000 năm TCN), nhà Hán Tàu chưa hình thành, đến Hán Cao Tổ (256 TCN _195 TCN) nhà Hán mới có.

Tôi nghĩ từ “Hoàng Đế” là từ phịa đặt của đám Hán về sau và  như thế, thực chất trận chiến ở Trác Lộc là trận chiến mang tính “nồi da xáo thịt” của con cháu dòng Viêm Việt mà thôi.

Người mà sách vở Tàu viết là Hoàng Đế thì chẳng là “Hòang Đế” mà là “Đế Hòang” mới phải lẽ. Thật sự chẳng có ông Hoàng Đế nào cả! Điều nầy, trong chúng ta ai cũng biết là: Lũ Hán Tàu là bọn cướp gian manh luôn luôn sửa sách sử, phịa đặt huyễn (dấu ngã) sử, để dễ bề Hán hóa ta. Điều nầy, không ai không thấy là: từ thời Xuân Thu đã được ghi chép về truyền thuyết Xi Vưu, song thường nó mâu thuẫn là với nhau. Muốn rõ xin vào xem tài liêu tham khảo trên mạng ở link:https://vi.wikipedia.org/wiki/Xi_V%C6%B0u (phần phân tách và giải thích là phần viết của tác giả)

Cũng theo chính sử, Hán Cao Tổ 256 TCN _ 195 TCN), húy Lưu Banglà vị hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Hán, Hán Tàu chỉ thực sự xuất hiện từ  Hán Cao Tổ.

Qua đoạn huyền sử và thực sử trên, chứng tỏ rằng: Hán Tàu là đám sinh sau đẻ muộn, sau những nhiều ngàn năm sau Viêm Việt (Đế Minh), Việc phân ranh Nam Bắc: Đế Lai trị vì phương Bắc, Lộc Tục cai trị phương Nam lấy núi Ngũ Lĩnh (ngày nay thuộc tỉnh Hồ Nam) làm ranh giới để phân ranh, Bắc Ngũ Lĩnh thì thuộc Đế Nghi cũng là nằm sâu hẳn vào lành địa của Việt tộc, nghĩa là nằm về phía Nam Động Đình Hồ, sông Dương Tử/ Trường Giang, như ngày nay câu hát ru em của các bà mẹ Việt còn hát để nhắc cho con cháu ngàn sau nhớ đến gốc gác khởi nguyên của Việt tộc:

“Động đình Hồ mẹ ru con ngủ

Năm canh dài thức đủ năm canh

Lạnh lành lanh, lạnh lành lanh”

Ngay cả như núi Thái Sơn trong hiện tại là thuộc Tàu Chệch, nhưng trước đây vẫn là của Việt tộc nên Mẹ Việt Nam mới lại hát rằng:

“Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ, kính Cha

Cho trọn chữ hiếu mới là Đạo Con”

Những bài hát ru nầy nhằm truyền dòng cho con cháu Việt ngàn đời biết về đất tổ đả bị giặc phương Bắc cưỡng chiếm, với niềm hy vọng một ngày nào đó giống chim Hồng Lạc trở lại quê xưa khi mùa xuân nắng ấm trở về lại đất Bắc, như lời thơ của Nguy Ý Nguyễn Hữu Ngư muốn nhắn gởi cho con cháu Việt tộc:

Mặt đất Bắc nặng dày băng tuyết

Sự sống còn le lói như ma trơi

Giống chim Hồng, chim Lạc khắp nơi nơi

Vội vỗ cánh xuôi Nam tìm nắng ấm

Và tự hẹn đến mùa Xuân khie thắm

Người tung tang và chim véo von ca

Sẽ cùng nhau ngược dòng Nam tiến

Trở về thăm quê cũ đợi ai mà

Việc nầy không khác với lời chào nhau mỗi độ Xuân về của người Do Thái suốt dọc dài 2.000 năm thất quốc, mội độ xuân về là hẹn nhau xuân đến sẽ gặp nhau trên đất tổ quê hương của họ …

Qua phân tích trên thì Thích Chân Quang nếu không là con cháu Hán Tàu thì hắn cũng phải là tên điệp viên văn hóa của tình tình báo Hoa Nam. Nhưng cây kim trong bọc lâu ngày rồi cũng lòi ra, sự chỉ bị che dấu một thời chứ không thể dấu mãi được. Ngoài ra có thể nhìn con thì biệt cha và ngưôc lại (Tel père, tel fils). Hôm nay cứ nhìn đám Tàu Tập và đảng của nó thì biết ông cha của chúng:

Nhìn nay thì biết sự xưa

Bọn người Hán tộc là ưa nống, bành (1)

Hôm nay đảng Tập lưu manh

Diệt Mông, Mãn, Tạng cũng anh Tàu Phù (2)

1)    Nống, bành: Nống lấn, bành trướng

2)  Tàu Phù: Tàu Phù là bành trướng, phình ra. Chữ  “phù” có trong từ “phù thũng”. Tàu Phù là Tàu mang lấy tính con Khảm 010 là tính bung ra, bành trướng. xâm lược

Cảm ơn qúi vị đã bỏ tời gian ra đọc

San Jose, 15/ 9/2020. NVN.

Email: nguyenvietmho1943@yahoo.com

FB: Việt Nho Nguyễn

Hiểu thế nào là “Thiên thư” trong bài “Hịch phá Tống” của Lý Thường Kiệt

Tác giả: Việt Nho

1. Đôi Hàng Về Thân Thế Và Sự Nghiệp Lý Thường Kiệt

Ngài Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt (李常傑; 1019–1105), Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái TôngLý Thánh TôngLý Nhân Tông, Ông  vốn họ Quách, tên Tuấnbiểu tự là Thường Kiệt  vì có công lớn với nước nhà nên được vua ban ân sủng đặc biệt là đổi sang họ của vua là Lý. Ngài Lý Thường Kiệt chẳng những là một tướng đại tài, ngài là người đầu tiên và duy nhất đã dùng thế “tiên hạ thủ vi cường”, đánh chiếm hậu cần ở các châu Khâm, Liêm và Ung Châu của Tàu, mà ngài còn là vị danh Nho, được lưu danh mãi với bài thơ phá Tống, được người đời xem như là bài tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta:

Nguyên văn:

南國山河

南 國 山 河 南 帝 居

截 然 定 分 在 天 書

如 何 逆 虜 來 侵 犯

汝 等 行 看 取 敗 虛

Phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

2. HIỂU THẾ NÀO VỀ CUỐN THIÊN THƯ (SÁCH TRỜI)?

2.1_ Thiên Thư Là Gì?                                                

Trời đất không nói cho dầu nửa lời, thế nên cái mà gọi là “Thiên Thư” hẳn không là một bản văn được viết bằng chữ qui ước mà là bức thư được thiết lập bằng tượng số của Đất Trời/Âm nòng (0) và Dương (1), gọi là triết tự (từ dùng trong KInh Hùng) để hình thành “Thiên Thư”. Vậy, sách trời tức là bức đồ hình Hà Đồ và tượng của Hà Đồ như là tượng con rùa thần, như 3 đồ hình bên dưới chưng ra bức “Thiên Thư”:

                                            H1                            H2                    H3                         

H1: Lạc Thư dưới dạng số, H2: Hình Lạc Thư dưới dạng chấm đen âm, trắng dương _ H3: Hình Rùa Thần từ Hà Đồ mà ra

2.2_Nguồn Gốc Thiên Thư: Là Thư của Trời Đất Và Cũng Là Bức Thư Của Tộc Việt

@ Trong Trời Đất vốn sẵn được phân định 4 phương, tứ hướng và các phương hướng nầy mang sẵn trong nó tính phong thủy tương sinh tương khắc, nói khác đi là nguồn của “thiên thư” là vốn tự nơi Càn Khôn/Trời đất chưng ra. Tổ Tiên dòng Việt quan chiêm “thiên thư” mà trời đất chưng ra nầy và dùng “gậy thần đốt trúc có hai đầu Âm Dương” mà hình thành bức ‘quái đồ” Lạc Thư để chưng ra cức thư của Trời Đất. (Xin đọc lại phần Viết về Đệ nhất Tứ Bất Tử Thần Tản Viên đã dung gậy trúc do Long Vương tặng mà hình thánh Thiên Thư Lạc Thư)

Lạc Thư Thấy Qua Tượng Bánh Chưng Tiết Liệu Đã Dâng Lên Hùng Vương 6

Quả là “Cha làm thầy con đốt sách”! Ngày nay con cháu gói bánh chưng không dùng lạc tre, trúc mà dùng đủ thứ dây để buộc bánh và buộc không theo một khuôn phép nào khiến đã đánh mất ý nghĩa chiếc bánh chưng để dâng cúng Ông Bà Tổ Tiên.

Ngày xưa bánh chưng của Tiết Liệu dùng 4 lạc tre để buộc, chua hình vuông của bánh ra thành 9 ô, gọi là cửu cung (tức hình Lạc Thư). Qua đó, tượng bánh chưng cũng là tượng hình của Thiên Thư Lạc Thư (Xem hình 1 và 2) để chưng ra Đạo Lý phong thủy của Càn Khôn/Trời Đất mà Đức Lý Thường Kiệt gọi là “Định phận tại Thiên Thư”.

Xuyên qua ý nầy ta mới được cái lý do tại sao mà Hùng Vương 6 đã trao truyền ngôi vua cho hoàng tử thứ 18 là Tiết Liệu trong, là một trong số 20 hoàng tử. (Con 18 và con 20 là hai con huyền số. 18 là Thuần Khảm 010/010, Khảm/Thủy là Lý Trí “trí gỉa nhạo Thủy”; con 20 là Lôi Thủy Giải 010/100. Giải là giải tỏa, giải quyết)

Tóm lại, nguồn gốc của Lạc Thư là xuất khởi tự Càn Khôn/Trời Đất và để làm lối dẫn cho con cháu ngàn sau, tổ tiên Việt tộc (Việt Thường) đã mô phỏng theo Trời Đất mà hình thành  “Thiên Thư” chưng ra Đạo Lý Đạo Lý Càn Khôn vì thế Đạo Càn Khôn cũng là Việt Đạo trong cả hai nghĩa của chữ Việt là Đạo siêu Việt và Đạo của người Việt, Ông, là Thường Đạo (Đạo Thường Hằng của Trời Đất cũng là Đạo của Người Việt Thường của Bách Việt ngày xưa)

2.3. Ý Nghĩa Thiên Thư

@ Hình 1: là đồ hình Tiết Liệu dùng bánh chưng để ám chỉ hình Lạc Thư và được Hùng Vương 6 chọn ông để truyền ngôi cửu ngũ (tức ngôi vua mà cửu ngũ cũng là 9 và 5 (9×5=45, 45 cũng là số của Lạc Thư)

@ Các hướng Đông Tây, Nam, Bắc cũng như các phương Đông Bắc _ Tây Nam và Đông Nam – Tây Bắc đều có tổng số là 15; Con 15 viết ra lý số là con Thiên Sơn Độn 001/111 (Độn là trốn lánh hay dấu kín những điều cần che dấu trong đồ hình). Sau đây là những điều che dấu (độn) bên trong Lạc Thư:

_ Lạc Thư Chưng ra Thường Luật gọi là Ngủ Thường của Ngũ Hành KIM, MỘC, THỦY, HỎA THỔ:

* Con 6 và 7 viết ra lý số là con Đoài 110 và con Càn 111, hành KIM

* Con 4 và 3 viết ra Lý Số là con Chấn/Lôi 100 và Tốn/Phong 110 hành MỘC

* Con 2 và con 5 viết ra Lý Số là con Thủy/Khảm 010 và con Li/Hỏa hành THỦY và Hành HỎA.

* Con 8 và 1 Lý Số là con Khôn/Địa 000 và con Cấn/Sơn thuộc hành THỔ

Như vậy, Ngũ hành tương khắc đã được chưng ra từ Thiên Thư Lạc Thư chỉ ra Thường Luật xung khắc qua đây ta rút được qui luật phong thủy là:

_ Kim (Đoài và Càn) khắc Mộc (Lôi và Phong) cũng có nghĩa là Tây Đoài khắc Đông Lôi (luật nầy được bàn thờ Ông Bà chưng ra là “Đông bình Tây qủa”

_ Thủy 010 khắc Li/Hỏa 101: Thủy phương Bắc khắc Hỏa phương Nam (Bắc khắc Nam).

Hiểu những qui luật xung khắc nầy mà Lý Thường Kiệt mởi thẳng vào mặt bọn Bắc phương và rầng:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

@ Điều huyền nhiệm 1 thấy từ Lạc Thư:

 _ Con 3 viết ra Lý số với hệ Dịch nòng 0 và nọc 1, là con Phong Địa Quán 000/011 (có ngoại quái là Phong 011 và nội quái là Địa 000), Quán là quan sát cái nó thể hiện ra (ở đây là quan sát cái Thiên Thư Hà Lạc).

Cũng nhờ vào Thiên Thư mà danh Nho Nguyễn Trãi (1380 _ 1442), là một danh nhân văn hóa Việt, đã xác định một lần nữa qua đối chiếu với thực sử rằng:

“… Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có …”

Cảm ơn qúy vị đã bỏ thời gian ra đọc

San Jose, 10/9/20

Email: nguyenvietnho1943@yahoo.com

Fb: Việt Nho Nguyễn

Chương trình học bổng đào tạo quốc tế giảng viên đại học chất lượng cao của Viện Globethics.net

Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu:

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO QUỐC TẾ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC CHẤT LƯỢNG CAO
Capacity Building and Training of Teachers Programme

KẾ HOẠCH TUYỂN SINH KHÓA HỌC THỬ NGHIỆM
“Nâng cao đạo đức học đường và kỹ năng thực hành giảng dạy“

👉ĐỐI TƯỢNG TUYỂN SINH
Cán bộ giảng dạy trong các hệ thống các trường ĐH và CĐ trong cả nước;
Cán bộ quản lý trong hệ thống giáo dục và đào tạo;
Công chức, viên chức trong các viện, các cơ quan nghiên cứu có hoạt động đào tạo;
Một số đối tượng khác sẽ xét trực tiếp…
👉CHỈ TIÊU TUYỂN SINH
40 học viên.
👉TIÊU CHÍ TUYỂN SINH
Nam, nữ mọi lứa tuổi;
Ngoại ngữ: Tiếng Anh đủ trình độ nghe nói, tiếp thu (kèm chứng chỉ photo).
👉YÊU CẦU ĐỐI VỚI HỌC VIÊN
Thái độ nghiêm túc, nhiệt tình, cầu thị;
Đảm bảo đủ giờ lên lớp và tự học.
👉THỜI GIAN TUYỂN SINH
Từ 1/1/2021-31/1/2021 đăng ký chính thức.
KINH PHÍ
👉Phí ghi danh: US$ 50.00, không hoàn lại; miễn phi
Học phí: US$: 0 (được tài trợ 100%).

Tải chương trình khóa học tại đây

Ban Thư ký Nghiệp đoàn Giáo chức, nghiepdoangiaochuc@gmail.com

An toàn trong hoạt động lao động công ích

Bức ảnh lan truyền trên cộng đồng mạng xã hội được mô tả là cảnh học sinh lao động tại trường tiểu học Nghĩa Hưng huyện lạng Giang tỉnh Bắc Giang, theo Facebooker Đặng Như Quỳnh cho biết:

Học sinh tiểu học lao động trong tình trạng nguy hiểm

“Trời vừa tạnh mưa thì giáo viên đứng chỉ tay bắt học sinh ra ‘lao động’, dọn trên ban công nhô ra trước sân đầy rêu với độ cao khoảng 4 mét rất nguy hiểm”

 Về việc này, dưới góc độ là nhà giáo dục, tôi xin có mấy ý kiến như sau:

Hiện nay, tại các trường tiểu học, chủ trương lấy việc giáo dục lao động cho các cháu học sinh để hình thành nhân cách là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, về tính chất và mức độ lao động cần chú ý chỉ nên tạo không khí vui tươi, nhẹ nhàng, thoải mái, tự giác và hợp tác…. Đặc biệt, hết sức chú ý việc bố trí nội dung lao động cho học sinh thực hiện tuyệt đối bảo đảm an toàn, tránh nguy cơ gây nguy hiểm đến thân thể của các cháu học sinh.

Chẳng hạn, giáo viên chủ nhiệm có thể bố trí các công việc để các cháu cùng làm như: quét sân trường, vệ sinh lớp học, nhổ cỏ vườn trường, tưới cây, lau bàn ghế… đó là những hoạt động lao động mang tính tập thể thường xuyên của học sinh khi học tập tại trường nhằm giáo dục cho các cháu biết yêu quý và tôn trọng những giá trị do lao động mang lại cho xã hội…Từ đó thêm quý trọng những người lao động như ông, bà, cha, mẹ của mình….

 Tuy nhiên, điều đáng lên án ở đây là hành vi của giáo viên chủ nhiệm tại trường tiểu học Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong trường hợp này là phản khoa học giáo dục, nếu không muốn nói cô giáo đã vi phạm đạo đức nhà giáo khi cưỡng bức các cháu vị thành niên làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm!

 Rõ ràng, Công việc dọn dẹp rêu và bùn bẩn ở trên ban công tại sảnh ngoài trời của dãy hiệu bộ nhà trường với độ cao hơn 4 mét mà cô giáo chủ nhiệm giao cho học sinh tiểu học thực hiện như vậy là rất mất an toàn, có thể nguy hiểm đến tính mạng của học sinh.

 Hãy quan sát các cháu đang lao động trên ban công nếu chúng ta có lòng trắc ẩn thì không khỏi ái ngại cho các cháu, bởi lẽ ở tuổi này các cháu rất hiếu động, chưa làm chủ được hành vi, chưa đánh giá hết được mức độ nguy hiểm của hành vi do mình gây ra…. giả sử đang lao động như vậy mà đột nhiên có một cháu nô đùa đẩy bạn ngã xuống ban công thì tai nạn nghiêm trọng sẽ xảy ra, lúc bấy giờ giáo viên chủ nhiệm và nhà trường ăn nói thế nào với phụ huynh và dư luận xã hội? Rất may, thực tế đã không ra điều đó!

Qua sự việc này cần cảnh báo cho các trường phổ thông trong cả nước lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Đề nghị các Hiệu trưởng nhà trường phổ thông các cấp  quán triệt đầy đủ với các giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách lao động của nhà trường lựa chọn các công việc lao động thật phù hợp đối với từng lứa tuổi học sinh. Ngoài ra cần chú ý phân công công việc một cách hợp lý, khoa học để tạo không khí vui tươi, tự nguyện hợp tác trông lao động để giáo dục nhân cách cho học sinh!

11/9/2020

Nhà giáo Đặng Đăng Phước

Người con gái 27 năm với đời sống thực vật

Rời Sài Gòn trên chuyến xe đò cuối cùng vào 5 giờ chiều một ngày đầu mùa mưa cuối tháng 4-2000, chúng tôi đến thị trấn An Lộc vào lúc gần 8 giờ tối. Thành phố nhỏ, heo hút ánh đèn vàng, hai bên đường trùng điệp những vườn tiêu, vườn cây ngút ngàn nhấp nhô trên những sườn đồi dưới ánh trăng mười sáu mờ đục. Chiếc xe đò thả hai chúng tôi xuống trước trụ sở của Hạt Kiểm Lâm An Lộc. Nhà chị Thụy Vũ ở bên kia con dốc, sát bên Quốc lộ 13. 

Hình minh họa

(Tôi xin phép được nhắc sơ qua về nhà văn Thuỵ Vũ: – Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh

năm1937. Tên thật Nguyễn Thị Băng Lĩnh. Tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng ở miền Nam VN trước những năm 1975. Tác phẩm: Mèo Đêm (tập truyện ngắn đầu tay); Nhang tàn thắp khuya; Chiều xuống êm đềm; Khung rêu (giải thưởng văn học toàn quốc); Thú hoang; Lao vào lửa và một số tác phẩm đã đăng trên các báo nhưng chưa xuất bản. Công tác với các báo Dân Chủ Mới, Bút Thép.)

Nghe tiếng xe dừng giữa đường, chắc Thụy Vũ đã đoán ra nhà mình có khách đường xa tới thăm. Chị đứng chờ sẵn ngoài hiên, khom mình dưới tấm rèm cũ, nheo mắt nhìn hai chúng tôi bước vào sân và chị nhận ngay ra chúng tôị Nét vui mừng hiện rất rõ trên khuôn mặt gầy guộc của chị:

– Trời ơi, ông định làm tôi vỡ tim chắc? Bất ngờ quá.

Rồi chị nắm áo Ngân:

– Sáng nay điện thoại sao không nói gì?

Ngân chỉ tôi:

– Tại cái nhà ông này, bốc đồng lên rủ người ta đi, chứ tui thăm bà làm cái gì khi chưa có tiền.

Tôi hiểu là hai người đàn bà này thân với nhau lắm, thân hơn chị em ruột. Khi còn ngồi ở nhà tôi, điện thoại cho Thụy Vũ xong, Ngân bỗng nói:

“Em phải đi thăm con nhỏ này, nhớ nó quá rồi, chịu hết nổi”.

Thế là hai chúng tôi ra xe. Thụy Vũ đưa chúng tôi vào căn phòng khách nhỏ đã dăng sẵn cái mùng trên tấm nệm mút mỏng dính. Có lẽ ở những nơi xa xôi như thế này người ta có thói quen đi ngủ sớm. Chị đãi chúng tôi bữa cháo. Đang cơn đói, không cần đợi chị mời, tôi ăn uống ngon lành. Bỗng tai tôi chói lên vì một tiếng hú. Tiếng hú của một con thú nào đó từ rừng hoang vọng lại nhưng rất gần, sát bên chỗ chúng tôi đang ngồi. Tôi ngơ ngác, nhưng mọi người thì vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Chị Thụy Vũ lặng lẽ đứng dậy, Ngân thấy tôi nhìn qua khung cửa sổ bèn mỉm cười nói ngay:

– Nó khóc đấy!

Tôi vẫn ngớ mặt:

– Nó là cái gì? Con khỉ hay con heo rừng hay con chó sóỉ

– Con Thụy, con gái chị Thụy Vũ đấy, anh không biết sao?

– Chỉ nghe nói chị Vũ có một người con bị bệnh bại liệt thôi.

– Không phải bại liệt mà cháu sống như cây cỏ từ 27 năm nay rồi. Cháu nằm đó mà không hề hay biết gì hết. Năm nay cháu 29 tuổi. Em đã từng chăm sóc cháu ngay từ khi cháu còn nhỏ. Lúc đó thì còn có thể bồng bế cháu dễ dàng, đưa lên xe lăn, đẩy cho cháu ra ngoài chơi. Nhưng bây giờ thì cháu lớn quá rồi, không ai trong nhà này bế nổi cháu lên xe nữa, đành chịu vậy thôi. Mỗi lần đi đâu, em nhớ và thương nó không thể xa nó lâu được.

Tôi hiểu rằng câu Ngân nói khi còn ở Sài Gòn là nhớ con bé con chị Thụy Vũ chứ không phải nhớ chị. Tôi nhìn Ngân và hỏi lảng:

– Vậy ra cơ thể cháu phát triển bình thường?

– Vâng, cháu phát triển như những người con gái khác, chỉ có đôi chân không di chuyển

được nên cứ teo tóp lại. Người cháu rất nặng.

Tôi hỏi đến nguyên nhân có phải là thứ bệnh bẩm sinh không. Ngân lắc đầu:

– Hồi nhỏ, cháu rất xinh đẹp. Đến năm 2 tuổi, cháu đã biết đòi nghe nhạc, rất duyên dáng.

Có lẽ là do một chị người làm trông nom đã làm cháu ngã, đầu va vào góc thành giường nên từ đó cháu nằm liệt luôn và không biết gì nữa. Chị Vũ nuôi cháu trong một hoàn cảnh rất cơ cực. Sau năm 1975, còn sống ở làng Báo Chí Thủ Đức, không có cả bo bo mà ăn.

Chúng em đã buôn thúng bán bưng đủ các thứ nghề để nuôi cháu. Chị Vũ làm lơ xe buýt

đường Sài Gòn – Thủ Đức, suốt ngày chỉ đứng có một chân trên 10 chuyến xe như thế

cho đến tối mịt mới về đến nhà. Mệt quá lăn ra ngủ, bữa đói bữa no. Con cái nhốt lại cho đứa lớn coi đứa nhỏ. Sau một thời gian chịu không nổi, chẳng biết sống bằng gì, chị Vũ đưa ba đứa con về đây sống với mẹ. Căn nhà này là của bà mẹ chị để lại, bà cụ mới mất cách đây vài năm. Anh thấy nhà cửa coi bộ khang trang nhưng chỉ có cái xác nhà chứ bản thân chị Vũ thì chẳng bao giờ có đồng xu dính túi.

Tôi nhìn căn nhà, gọi là khang trang chứ thật ra chẳng có gì đáng kể. Chỉ có phía trước mới được sửa sang lại tí đỉnh cho đám cưới đứa con gái út của chị cách đây vài tháng, còn phía sau, nơi chúng tôi ngồi ăn thì vẫn lợp tôn tuềnh toàng. 25 năm trôi qua, người khác đã có thể vượt qua cơn khốn quẫn, ít ra có bát ăn bát để, nhưng chị dường như vẫn vậy. Vẫn sống bữa nay chưa biết bữa mai. Ngân kể tiếp:

– Thằng con lớn của chị đã có vợ, nhưng chị cũng chẳng nuôi nổi. Cháu phải đưa vợ vào tuốt trong rừng làm cái lán ở, trông nom miếng đất trồng trọt cho người ta lấy công. Một nơi không có điện, không có nước, sống như người rừng. Đứa con gái út mới lấy chồng.

Nhà chỉ còn lại mình chị với đứa con nhỏ bệnh tật. Chị có miếng đất bỏ hoang phía sau nhà, mấy người bạn thương hại, đầu tư cho chị chút vốn trồng vài trăm gốc tiêu, ít cây ăn trái. Nhưng mới chỉ là ban đầu. Một mình chị đóng cọc, làm cỏ, tưới cây, chăm bón và khi nghe tiếng con hú lại tất tả chạy về. Nguồn thu lợi chính của chị là dạy học thêm cho chừng hơn 10 đứa học trò nhỏ, tháng được vài trăm ngàn, không đủ tiền ăn cho hai mẹ con chứ đừng nói đến tiền thuốc thang cho cháu. Chị cũng chẳng thể làm gì hơn trong hoàn cảnh như thế này và ở một nơi chốn như thế này.

Sáng hôm sau, khi Thụy Vũ mải làm cỏ cho đám cây mới lớn ngoài vườn, tôi nhờ Ngân đưa vào thăm cháu Khôi Thụỵ Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổi.

Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửa. Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con người. Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòi. Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang. Nghe tiếng hú, tay tôi cầm chiếc máy hình run lên, nước mắt tôi bỗng trào ra, nhòe nhoẹt ống ngắm. Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài cái tiếng kêu ấy.

Biết đâu cháu chẳng có một chút tri thức nhỏ nhoi nào đó còn sót lại trong cái đời sống thực vật kia. Biết đâu chẳng phải là tiếng nói nghẹn lại trong nỗi ẩn ức vô cùng không thể diễn tả thành lời. Cứ nghĩ như thế tôi lùi dần ra ngoài cánh cửa gỗ mùi hôi nồng tanh tưởi còn đọng lại mặc dù căn phòng được lau rửa hàng ngày. Những người quanh cháu đã quen với cái thứ mùi này rồi nên không để ý, nhưng người mới tới lần đầu là thấy ngay.

Ngân phải cầm máy hình, chụp giúp tôi vài tấm. Thú thật là ngay lúc đó tôi chưa biết phải làm gì với mấy tấm hình đó. Tôi chỉ cảm thấy cần phải có vài tấm hình của cháu mà thôi.

Ngân chỉ chiếc xe lăn bên cạnh phòng:

– Có vài chiếc xe lăn của mấy người bạn chị Vũ ở nước ngoài gửi về cho cháu như anh Triển cùng chị Triều Giang, chị Trùng Dương. Nhưng đã bán hết, nay chỉ còn lại một chiếc còn để đó, chẳng ai trong nhà này bế cháu lên nổi xe lăn nữa.

Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:

– Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ.

Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ

– Phải nói rằng một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến.

Ngân tiếp:

– Suốt bao nhiêu năm sống bên cạnh chị Vũ, em chưa hề nghe chị phàn nàn một tiếng

nào trong việc phải cực khổ trông nom nuôi nấng đứa con bệnh tật đau khổ này.

Tôi buột miệng hỏi:

– Còn cha nó? Có thăm nom gì không?

– Cha nó, Tô Thuỳ Yên ở bên Mỹ, nhưng từ ngày ra đi, ông quên mẹ con chị Vũ rồi. Mặc dù bạn bè ai cũng biết, mấy mẹ con chị sống khổ cực cay đắng đến như thế nào 25 năm qua, cho đến bây giờ đời sống vẫn vậy. Không đủ tiền cho con ăn, lấy tiền đâu uống thuốc? Sống hôm nay biết hôm nay, ngày mai nói chuyện sau. Tính chị Vũ vẫn vậy. Hôm sau tôi hỏi lại chị Vũ về việc này cho rõ ràng . Chị chỉ gật đầu:

– Đúng thế. Tôi không hề biết địa chỉ của anh ấy. Thỉnh thoảng mấy đứa con anh ấy về

chơi, chúng rất có cảm tình với tôi. Có lẽ vì thấy ….

Chị bỏ lửng câu nói ở đấy rồi bắt sang chuyện khác. Tôi cúi đầu, một nỗi đau tràn đầy, niềm tủi buồn dâng ngập.

Và đêm đó tôi lại nghe tiếng hú của cháu vang lên trong đêm dài giữa núi rừng An Lộc lộng gió. Cái bóng âm thầm của chị Thụy Vũ vọt dậy, lặng lẽ đến với đứa con, tiếng hát ru nhè nhẹ của chị sợ làm kinh động giấc ngủ của khách và nhà hàng xóm. Tôi làm sao mà ngủ lại được! Ngày hôm sau, chị Vũ đưa hai chúng tôi ra trước cửa trụ sở của Hạt Kiểm Lâm đứng đón xe đò trở về Sài Gòn. Chiếc xe chuyển bánh, người đàn bà gầy gò đứng chơ vơ trên sườn đồi đất đỏ. Chị cúi đầu trở lại với công việc làm cỏ khu vườn tiêu và với đứa con bệnh tật cùng với cuộc sống vô cùng thiếu thốn cô đơn của chị. Cái hình ảnh ấy khiến tôi ngồi dại đi. Ngân cũng chẳng hơn gì tôi, mặc dầu với tôi đây là lần đầu tiên tôi đến thăm Thụy Vũ, nhưng với Ngân đây là lần tạm chia tay với mẹ con Thụy Vũ không biết là lần thứ bao nhiêu rồi. Tôi biết rằng tôi phải làm một cái gì đó. Một lát sau, tôi nói với

Ngân:

– Anh phải viết một bài về chị Thụy Vũ và cháu Khôi Thụy. Nhưng không biết có chạm đến lòng tự ái của chị Thụy Vũ hay không. Bởi chị là người không hề than thở với ai điều gì bao giờ, chị luôn luôn tìm tiếng cười trong cuộc đời vô cùng bất hạnh của chính mình. Ngân suy nghĩ một chút rồi nói:

– Nếu anh hỏi ý kiến thì chị Vũ có thể sẽ từ chối đấỵ Nhưng anh hãy làm cái gì mà anh thấy cần làm. Em sẽ nói với chị ấy sau. Anh tin vào tình thân của em với chị Vũ thì cứ làm.

Tôi nói với Ngân:

– Bạn bè anh ở nước ngoài đã có một số biết về tình cảnh của chị Thụy Vũ và đã có “yểm trợ”. Nhưng còn một số anh chị em khác vẫn chưa biết.

– Em hiểu, thỉnh thoảng chị Thụy Vũ cũng có được những ngày vui, đầy đủ với con cái nhưng chỉ ít ngày sau là lại túng thiếu. Vì thế vấn đề bây giờ là phải làm sao cho chị ấy có vốn để buôn bán hoặc trồng trọt, tính đến cuộc sống lâu dài, chị ấy cũng 63 tuổi rồi chứ ít sao. Chị ấy thường lo rằng nếu chị ấy chết trước thì cháu Khôi Thụy sẽ khổ hơn nữa. Anh em nó cũng chẳng ai đủ sức lo cho nó được. Chị thường nói: “Nếu hai mẹ con chết cùng một lượt thìà vui biết mấy”.

Nghe câu “vui biết mấy” mà tôi muốn dựng tóc gáy. Đó cũng là tính cách đặc biệt của Thụy Vũ. Đau buốt ruột mà vẫn giỡn đấy, giỡn đấy mà là giỡn thiệt chứ không phải mỉa mai. Tôi đã đề nghị chị viết lại một tập hồi ký về đời mình. Chị lắc đầu:

– Thèm viết lắm, nhưng làm gì còn thì giờ, còn tâm trí đâu mà viết nữa. Vả lại bỏ nghề lâu rồi chẳng biết mình viết nữa thì sẽ ra sao.

Tôi hiểu rằng chính cái thiếu thốn trăm bề khiến chị không còn thì giờ đâu mà ngồi vào bàn viết. Tôi phải bàn với Ngân tìm tạm một cơ hội nào đó cho chị rảnh rang chân tay để cho có được một tác phẩm chắc chắn là sẽ rất hay. Ngân đồng ý là sẽ hết sức cố gắng làm công việc này. Thuyết phục mãi, chị Thụy Vũ hứa là sẽ tiếp tục việc viết lách. Và tôi rất hy vọng sẽ có một tác phẩm mới của Thụy Vũ vào một ngày không xa. Chính vì vậy, tôi nghĩ đến việc thông tin cho các bạn tôi ở nước ngoài. Nhưng như tôi đã nói với Ngân:

– Các bạn tôi ở nước ngoài cũng là những người chẳng dư giả gì, có ông còn đói dài.

Nhưng họ vẫn gửi về giúp đỡ anh em mỗi khi cần đến. Vì sự nhún nhường thường có của các anh chị em, tôi không tiện kể tên ra đây. Tuy nhiên nếu tôi lên tiếng đề nghị thì chắc chắn sẽ lại có anh em tiếp tay ngay. Nhưng ở đây, tôi xin gửi đến tất cả độc giả thông tin này để nếu có thể tiếp tay cùng anh chị em chúng tôi lo cho đời sống của mẹ con chị Thụy Vũ một cuộc sống vững vàng hơn. Và nếu như có một cơ quan từ thiện nào sẵn lòng giúp đỡ cho cháu Khôi Thụy được đi chữa bệnh thì vấn đề sẽ được giải quyết tốt đẹp hơn rất nhiều. Sau cùng, tôi xin lỗi chị Thụy Vũ vì đã viết bài này mà chưa hề biết ý kiến của chị.

Tôi chỉ làm một công việc mà tôi thấy cần phải làm. Tôi đã hỏi ý kiến của bạn bè thân ở Sài Gòn và ở nước ngoài, hầu hết anh em thân thuộc đều cho phép tôi được viết bài này.

Tôi hy vọng sẽ có rất nhiều bạn đọc có tấm lòng sẵn sàng giúp đỡ và để khỏi phải qua một trung gian nào, xin liên lạc thẳng với chị Thụy Vũ theo địa chỉ sau:

Nguyễn Thị Băng Lĩnh,

Hộp Thư 08 – Bưu điện Lộc Ninh – Tỉnh Bình Phước.

Bài của VĂN QUANG (nqtuyen@****.fpt.vn), Feb 15, 2004

Nhìn xa, trông rộng …

Trong nền giáo dục hiện tại của nước nhà dưới triều đại độc tài toàn trị của những người cộng sản cuồng tín đi theo Mác Lê Mao chủ nghĩa, đã thể hiện rất nhiều bất cập. Đó là không có sự học hỏi. Bởi vì không chấp nhận tư duy đối lập có nghĩa là không cho phép được hỏi những gì không phù hợp, mà chỉ biết học vẹt có nghĩa là học theo kiểu của con vẹt. Học mà không có nhận thức. Do đó mà nền giáo dục mới bị thui chột và xuống cấp. Hôm nay, tôi muốn chuyển tải một bài học rất đơn giản qua câu chuyện đối thoại giữa một nhà sư với một anh chàng thư sinh.

Hình minh họa (sưu tầm)

Từ lúc qua đò Gián, đi dọc theo con đê rồi quẹo vào đường cái quan, hướng theo núi Gôi mà đi về phía Nam Định, có lẽ đã khá lâu vì chàng thư sinh cảm thấy mệt mỏi; hơn nữa mặt trời đã ngả về dãy núi đá vôi vùng Trường Yên sau lưng chàng.
Khi thấy cổng chùa, mắt chàng sáng lên vì đây tuy chưa phải là trường thi hương Nam Định, nhưng là nơi chàng đến nghỉ đêm nay.


Sau khi chào hỏi và trình thư giới thiệu của người quen, thư sinh được nhà sư mời vào nghỉ trong một căn phòng nhỏ, bên cạnh phòng của nhà sư. Phòng này quá đơn sơ, chứng tỏ chùa thuộc loại nghèo. Chùa vắng vẻ, chỉ có hai thày trò, một nhà sư đứng tuổi và một chú tiểu.


Tối đến, chú tiểu bưng khay cơm vào mời thư sinh, rõ ràng là cơm nhà chùa xứ quê; ngoài liễn cơm đỏ, còn một bát canh mướp mùng tơi, cạnh một chén cà và một bìa đậu phụ nướng. Thế mà thư sinh thấy ngon tuyệt.


Một lúc sau, chú tiểu vào dọn khay cơm và lễ phép mời chàng sang uống trà với nhà sư. Sau vài câu chuyện xã giao, thư sinh lân la hỏi về cuộc đời tu hành của nhà sư. Ông cho biết ông đi tu từ thuở nhỏ, theo thày học Phật bằng chữ Hán – vì thế được học thêm cả Nho và Lão – thuộc môn phái Trúc Lâm Yên Tử mà sơ tổ là Hương Vân Đại Đầu Đà tức là vua Trần Nhân Tông. Dòng thiền này hoàn toàn Việt Nam, do người Việt Nam sáng lập tại một ngôi chùa trên núi Yên Tử, truyền bá tại Việt Nam.

– Bạch thầy, nếu có người xin thầy cho nghe Phật pháp trong một lúc thôi thì thầy sẽ nói những gì ?

– Đức Phật thuyết pháp trong 45 năm, chỉ thuyết mà không viết. Sau khi ngài nhập diệt, có mấy cuộc kết tập để ôn lại những những lời giảng dạy của ngài. Lần thứ ba, người ta chép lại thành ba loại : Kinh, Luật, Luận, gọi chung là Tam Tạng. Thiên kinh vạn quyển, thế mà thí chủ bảo tôi nói trong một lúc thì nói sao nổi !

– Dù sao cũng xin thầy ban cho vài lời.

– Vậy thì tôi xin nói: Trên thế gian này, tất cả các hiện tượng mà người ta nhận được bằng các giác quan, đều là vô thường, nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, chẳng có gì là vĩnh cửu cả.
Mọi sự, mọi thứ – nhà Phật gọi là vạn pháp – đều tuân theo luật “thành, trụ, dị, diệt” hay “thành, trụ, hoại, không”, thay đổi có khác nhau chăng chỉ là nhanh hay chậm. Kiếp của phù du thì mau, kiếp của trái núi hẳn là lâu lắm. Dù sao, trong mỗi sát-na, thì vẫn có thay đổi, biến dịch. Đó là nói về hiện tượng, nhưng nhà Phật lại xác nhận rằng hết thảy mọi hiện tượng đều có chung một bản thể bất di bất dịch, thường hằng, vĩnh viễn. Bản thể này, các giác quan thông thường không thể “nhận thấy được”. Kinh sách có dùng một thí dụ thật hay, hay đến nỗi khó có thể tìm một thí dụ khác để thay thế được : Phật học ví các hiện tượng như các đợt sóng trên mặt đại dương ; muôn vàn sóng, mỗi mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một thứ, đó là nước. Sóng dụ cho hiện tượng, nước dụ cho bản thể.

– Chẳng hay điều ấy có ích chi cho xã hội ?

– Biết vạn pháp là vô thường thì chớ có bám víu vào làm chi. Tiền tài, danh vọng … đâu có bền. Nên tìm một cái gì vững bền hơn. Nếu cứ ham cái này, thích cái kia, đến độ ham quá, thích quá, lòng như lửa đốt thì dám làm những điều ác để thỏa lòng dục. Tham dục là gốc của khổ đau. Người con Phật được dạy “thiểu dục tri túc”, kẻ xuất gia được luyện “diệt dục”. Bản thân bớt tham, tránh điều ác, làm điều lành, như vậy, xã hội chẳng tốt hơn hay sao ?

– Tiểu sinh thấy vấn đề “bản thể” thật khó “vào” , vì có cách nào mà “thấy” đâu !

– Đó là khía cạnh tôn giáo của vấn đề. Xác nhận một điều mà không “chứng minh” điều ấy, quả thật là khó chấp nhận. Tôn giáo có giáo điều, không chứng minh ; đạo Phật có giáo điều của đạo Phật. Đó là “vạn pháp có chung một bản thể”. Nói cách khác, dùng cho Phật tử : “ai ai cũng có Phật tánh”. Phật tánh là gì ? Bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh … Không một lời nào để diễn tả “nó” được, phải “cảm”, phải “ngộ”, phải “giác” Lại hỏi “làm sao mà giác?”. Có nhiều cách, nhiều pháp môn, tùy người ta lựa chọn theo căn cơ của mình.Trong khi thầy đang đi tìm giác, thầy có nghĩ rằng xã hội đang cần thầy không ?Thí chủ dùng chữ nhẹ nhàng, người khác nói trắng ra rằng tôi là kẻ ăn bám xã hội, “trốn việc quan đi ở chùa”. Nhưng thí chủ ạ, tôi và chú tiểu hàng ngày làm việc quần quật, cuốc
xới mấy sào vườn để độ nhật, không hề ăn bám làng xóm, đồng bào. Một thiền sư đã dạy: “Một ngày không làm là một ngày không ăn”. Tôi không lên rừng, tôi không lên núi, tôi ở đây sống giữa bà con và mang lại cho bà con những giúp đỡ về tinh thần, những dìu dắt về tâm linh mỗi khi bà con cần đến.Bạch thầy, nếu tiểu sinh không lầm, thầy đã coi mọi thứ như huyễn rồi, thế thì còn lo việc hàng ngày cho mình và cho người làm gì, mệt cả thân lẫn trí ?Quả thật, giấc mộng cả đấy. Trong giấc mộng, người nằm mộng thấy mình nói thật, thấy mình nghĩ thật, thấy mình làm thật, tỉnh dậy nhiều khi toát mồ hôi. Nay mọi pháp đã là huyễn, thì xử sự như huyễn, tu như huyễn. Nhưng nói như thế làm gì mà hóa ra gàn! Đây này, có hai sự thật, sự thật thế gian và sự thật xuất thế gian, nói khác đi là: sự thật của thế
giới tương đối và sự thật tuyệt đối. Theo tuyệt đối thì thế này, theo tương đối thì thế kia. Kẻ tu hành tùy cơ xử sự mà không để mất mục tiêu của mình. Chắc hẳn thí chủ đã nghe nói về chuyện một một vị bồ-tát kia, thấy mẹ con con hổ đói quá, bèn nhảy xuống vực bố thí thân mình cho hổ ăn. Vô lý quá, điên quá phải không? Xuất thế gian là như thế, nhưng phải đi đến một trình độ nào đó, đạt đến một mức tuyệt đối nào đó, không phải chỉ mặc áo cà-sa là được đâu! Thế gian có những quy luật của thế gian, có ăn mặc, có giận hờn, buồn tủi, vui mừng… Kẻ tu hành tự kiểm soát, tự kiềm chế, điều thân, điều tâm mong ngộ rồi nhập vào bản thể – cái bản thể mà không ngôn từ nào diễn tả cho nổi, cái bản thể mà chúng tôi gọi là pháp thân.

– Bạch thầy, thế rồi việc đời sẽ ra sao ?

– Việc đời vẫn theo quy luật của vũ trụ, vẫn theo luật duyên khởi, luật nhân quả nghiệp báo, luật thành trụ hoại không. Nhưng kẻ thành đạo không hưởng cái vui giải thoát một mình đâu, vì bồ-tát đạo dạy rằng: Chúng sinh còn thì còn phải giúp chúng sinh. Cho nên có câu xắn tay áo đi vào chợ trong cửa thiền.

– Quả là hay ! Xuất thế gian mà chẳng ly thế gian. Tiểu sinh xin phép lấy việc thế gian gần đây để trình thầy: quân Lang-sa đánh phá Thăng Long, quan Tổng đốc cùng con trai, con rể quyết giữ thành, đã hy sinh cả nhà. Có một quan chưởng binh và một trăm chiến sĩ dưới quyền đã chiến đấu anh dũng và cùng bỏ mình ở ô Đông Hà. Nay đồng bào gọi ô Đông Hà là ô Quan Chưởng. Thầy có nghe thấy việc này không ?

– Mọi người nghe thấy thì tôi cũng nghe thấy. Thí chủ cho rằng tôi đã điếc hai tai chăng? Tôi đi tu, đúng vậy ; song tôi là người Việt Nam cho nên cái đau của người Việt Nam là cái đau của tôi. Có khác chăng là khác ở cách bộc lộ cái đau ấy, cách phản ứng với cái đau ấy mà
thôi.

– Bạch thầy, tiểu sinh nghe cái đau ấy là cái nghiệp, cần phải trả hết cái nghiệp ấy đi, có phải
như thế không ?

– Đúng thế, gây nhân, chịu quả, hứng nghiệp, là một quy luật bất khả dịch. Đạo Phật có dạy như vậy, nhưng không phải chỉ dạy có vậy. Cải nghiệp được mà, nhà nho nói “đức năng thắng số” mà. Gây nhân lành để tạo ra cái lá chắn đỡ mũi tên của nghiệp ác được chứ! Khía
cạnh này, thí chủ đã nghe thấy chưa?

– Đa tạ thầy đã chỉ giáo ; tiểu sinh nghe nói thoát tục nên mới mạo muội đem cái đau của dân
tộc ra trình với thầy để nghe thầy chỉ giáo, chứ không hề có ý láo xược nghĩ đến câu “thương nữ bất tri vong quốc hận” ; xin thầy hiểu cho. Thầy đã cho hầu chuyện, tuy khuya rồi, xin thầy ban cho vài điều về đất nước.

– Thí chủ quả là khéo, muốn thử ý tôi. Không sao đâu. Đối với tôi, cái ngã nó khá nhỏ, tôi không để tâm dù cho thí chủ nghĩ có rằng tôi “mũ ni che tai”. Thí chủ ạ, tiếng vẫn lọt qua mũ ni chứ!

– Bạch thầy, tiểu sinh còn ít tuổi, nghĩ ngợi chưa chín chắn. Mong thầy dạy cho vài điều về đất nước.

– Vâng, thái rồi bĩ, bĩ rồi thái. Đang bĩ thì lo xây dựng cái thái. Nhớ lại ngày đại phá Mông Cổ, đại phá Minh, Thanh, nhớ lại ngày đọc Hịch Tướng Sĩ, đọc Bình Ngô Đại Cáo… , đó là sử. Coi việc trước mắt, thấy chướng tai gai mắt, luân thường đảo lộn, thấy đau thương nhục nhã. Đó là hiện tại. Rồi tới tương lai. Nhưng tương lai ra sao? Phải có những người quân tử – gọi vậy cho tiện, khỏi phải tìm chữ khác – nhìn xa hơn người thường. Vì thế mới có câu “nhìn xa trông rộng”. Thấy đường đi nước bước của hiện tại, học các bài học của quá khứ, rồi tìm ra, nhận thấy, nhận rõ bước sắp tới, và cả một đường dài vị lai, thế mới là lãnh đạo.

– Tiểu sinh thành thực xin thầy hé cho thấy con đường vị lai.

– Không dám. Không phải ai cũng nhìn được xa. Nếu tôi nhìn được xa, hẳn là tôi đã không ngồi tu ở chùa này. Ngài Trần Khánh Dư quảy “gánh càn khôn” xuống ngàn, ngài Trần Nguyên Hãn gánh dầu đi bán, tìm bạn đồng hành – và tìm thấy – để cùng vào Lam Sơn gặp minh chủ . Các vị đó và nhiều vị khác nữa là những người khổng lồ, đã nhìn được xa hơn mà còn có cả viễn kính để nhìn xa nữa, chỉ đường cho dân tộc tiến lên. Kẻ hèn này không theo được đâu.

– Chẳng lẽ khoanh tay ?

– Không, không. Dân tộc không thể mất được nếu như văn hóa còn. Văn hóa kể từ cái răng, cái tóc, miếng ăn, đồ mặc … cho đến đời sống tâm linh. Theo tôi, mặt tâm linh vô hình mà lại hữu hiệu. Nếu không đánh mất đời sống tâm linh thì không thể mất dân tộc được. Thí chủ ạ, nếu mỗi người tìm giữ tâm linh ấy theo cách của mình thì có lẽ hay lắm. Nhà Nho mà không “hủ Nho”, nhà Thích mà không “hủ Thích”, gắng nhắm trúng cái gì bền vững nhất đối với tâm linh của dân tộc ta, thì mới là hay, là chánh, là tiến. Tôi biết nhà nho đôi khi làm thơ châm biếm chúng tôi, chúng tôi chỉ cười, chẳng lẽ chúng tôi làm thơ nói lại? Trong Phật giáo, người ta có nói đến một thời kỳ gọi là “mạt pháp”, nay chắc là thời đó, nhưng “y pháp, bất y nhân”.

– Đa tạ, đa tạ. Thầy có làm thơ, xin thầy cho nghe mấy bài.

– Không dám. Người Việt Nam nào mà chẳng làm thơ. Tiếng mình đã là thơ rồi mà. Có thiếu chăng là thiếu cái nội dung của thơ, cái hồn của thơ. Đi tu như chúng tôi, cần nhất là cái hạnh “từ bi”, nôm na là “cho vui, cứu khổ”. Cuộc đời là bể khổ nên phải học cứu khổ, mà muốn cứu khổ thì phải quên “ngã”, đồng thời biết rung động. Trước khi đến bậc bồ-tát hoàn toàn giác ngộ, chuyên tâm cứu khổ cho vui, người tu hành phải qua thời biết rung động. Từ rung động này mà hay thành nhà thơ. Nhưng phải nghe cho rõ: tôi nói “hay thành nhà thơ” chứ tôi không nói “thành nhà thơ hay”. Thí chủ muốn đọc thơ của Thích tử thì tôi xin giới thiệu thơ của Tam tổ Huyền Quang, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử.

Đêm đã khuya, thư sinh từ biệt nhà sư, về phòng nghỉ. Tuy mỏi mệt, thư sinh vẫn trằn trọc không ngủ được. Nhà sư này nói “không biết nhìn xa”, nhưng ít nhất cũng đã nhìn được gần, nhìn ra con đường đi cho bản thân, nhìn ra bổn phận đối với xóm làng và biết đau cái đau của dân tộc. Đức Thích-Ca đã nhìn được xa hơn, tìm ra đường thoát khổ cho hết thảy chúng sinh. Còn con đường của đất nước này, ai nhìn ra, ai đã nhìn ra, ai sẽ nhìn ra? Đầu thế kỷ XV, có nhà chiến lược kiêm thi sĩ đã viết nên Bình Ngô sách; thế kỷ này, có ai đây?


Sáng hôm sau, từ biệt nhà sư, chàng thư sinh lại lên đường nhưng không đi về hướng Nam Định để tìm nhà trọ, thuê lều chõng sửa soạn đi thi Hương, mà lại quay về làng. Sau đó, không ai biết chàng đi đâu. Có người nói rằng chàng đi tìm những vị biết nhìn xa.

Ngày 5 tháng 9 năm 2020
Tác giả Tôn Nữ Thóc Nâu – gửi đến Nghiệp Đoàn Giáo chức Việt nam từ Califonia – USA
 

Trả lời bạn đọc 61: “Nhất vợ, nhì trời” là gì? Tại sao gọi là “Tàu Chệch”?

Thiên Đạo: “Nhất vợ nhì trời”

Địa trên Thiên dười Thái thời: Bình yên (*)

Tu là sửa, sửa hướng Tiên (**)

Duy Dương Tàu Chệch xích xiền người dân (***)!

Tác giả Việt Nho và Phu nhân

(*): “Nhất vợ nhì trời” tức đặt Âm Khôn (vợ) trên Dương Càn (trời) là đặt Địa trên Thiên là Địa Thiên Thái (Việt Dịch Vô Ngôn cần bỏ lời lấy tượng).

(**): Tu tiên là tu tâm, tư nhân, Huyền thoại “Chia Con 100 Trứng của cặp Tiên Rồng” bảo đường tu nầy là “theo Mẹ lên núi” hay “Nhân gỉa nhạo Sơn”.

(***): Câu nầy chỉ ra rằng Tàu Chệch (người Tàu qua triết thuyết của Khổng Tử đã đi chệch hướng ban đầu của Nguyên Nho/Việt Nho), thay vì chọn Tam Cương là Thiên Địa Nhân, Tàu lại chọn cái Tam Cương sai chệch là “Quân thần cương, phụ mẫu cương và phu phụ cương”. Tàu đã cải sửa con 2/3 Thủy Phong Tỉnh 010/110 để chọn chọn tham lưỡng 3/2 Phong Thủy Hoán 011/010; thay vì “nhất vợ nhì trời” (đặt số chẵn Âm (2) trên số lẻ (3) Dương, Tàu cải sửa đặt lại Dương số 3 trên Âm số 2, là Phong Thủy Hoán 011/010, khiến cho xã hội Tàu và những nước chọn hướng văn hóa của Tàu xã hội đều bị loạn, dân chúng đều bị nghèo đói, luôn thường Đạo Lý chẳng còn.

Tác giả Việt Nho – từ USA gửi cho Nghiệp đoàn giáo chức VN

Vấn đề công bằng xã hội!

Trước đây, nhà văn Hà Văn Thùy và nay, Sv. Tôn Phi của Nghiệp đoàn Sinh viên VN đều có  nhắc đến vấn đề “Tự do và Bình sản “, nhận thấy Vấn đề này là trọng điểm của nền Văn Hóa Vịệt , nên chúng tôi xin được đóng góp một số ý kiến , đây là  cách giải quyết nan đề Công bằng Xã hội.

Công bằng  Xã hội là nan đề lớn nhất của Nhân loại xưa nay, lịch sử của Nhân loại là Lịch sử của những cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt cùng với những đổ vỡ cả hai mặt về Vật chất lẫn Tinh thần.  Đó là những Bất công được gây ra  từ trong Gia đình tới ngoài Xã hội. Sự bất công đều do mỗi con Người Bất Nhân hay một Tập thể độc tài  làm ra, một bên là Cá nhân, bên kia là Tập thể, cả hai đều có liên quan đến Văn Hóa ( nếp sống) Cá nhân hay Tập thể.

Xét ra từ trong gia đình tới ngoài xã hội, mọi nan đề  đều do nạn con Người “ Lấy Mạnh hiếp Yếu “, hay  “Nạn Cá Lớn nuốt cá Bé “, hay nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “, mà gây ra nạn Bất công.

Tây phương  còn có câu:

  Patout the Delicat  ( subtle, delicate: khoan hòa nhu thuận: Văn Hóa Nông nghiệp  ) est toujours vaincu par le Grossier (: vulgar, rude: thô lỗ, bỉ tiện: Văn Hóa Du mục ): Hầu hết khắp nơi,  những người “ khoan hòa nhu thuận  “   đều bị đánh bại bởi những kẻ “ thô lỗ, bỉ tiện “

Cụ Nguyễn  Trãi đã  tóm tắt trong Bình Ngô  đại  cáo;

Lấy Đại Nghĩa để  thắng Tham tàn

ĐemChi Nhânmà thay Cường bạo

Đại Nghĩa Chí Nhânthuộc phekhoan hoà nhu thuận.< Vit Nam >

Tham tàn Cường bạothuộc phe thô lỗ bỉ tiện. < Đại Hán >

Thế mà trên thế giới chỉ có   “ Phe Châu chấu : Khoan Hoà Nhu thuậnViệt Nam  đã  nhiều  lần suốt trường kỳ  Lịch sử  5 ngàn năm đã  “ đá Xe :” Tham tàn Cường bạo Đại Hán”  ngả nghiêng !

“ Nực cười Châu chấu đá Xe

“ Tưởng rằng Chấu đổ, ai dè Xe nghiêng !”

( Ca dao )

Nguồn gốc của Nam đề

Mọi sự rắc rối trong xã hội đều do con Người làm ra ,vậy con Người  là ai, bản tính con Người  ra sao ?. Các nền Văn Hóa cũng như  Tôn giáo đều có những Định nghĩa khác nhau về con Người, vậy thử hỏi những  con người trong Nhân loại có Bản Tính đồng nhiên nơi Tiềm thức cộng thông nhân loại hay không ( collective unconsciousness  ? )

 Khi đi vào Tâm lý miền sâu thì con Người  bắt gặp được Sơ nguyên tượng ( Archetype ) về mối Tình bao la của Người Mẹ đã khắc sâu vào Tâm khảm của người con , chính nguồn Tình bao la đó giúp Nhân loại tìm đến với nhau , tìm cách ăn ở công bằng mà Hòa với nhau , khi đó mới chấm dứt được Bất công,chứ con Ngưòi cứ đem  bạo lực từ nguồn Hận thù ra cư  xử  với  nhau thì chỉ gây ra Bất công gây khổ đau cho nhau mà thôi!

Điều này cho chúng ta thấy sự quan trọng của Mối Tình bao la, vô vị lợi của người Mẹ, khi người con” Nên “ thì Mẹ thương đã đành , nhưng khi ngưòi con “ Hư “, Mẹ  lại càng thương hơn, nhờ tính chất bao dung của Tình yêu mới cảm hóa được lòng người con sai quấy..

Trong Kitô giáo có mối Tình bao la của Đức Mẹ Maria, trong Phật giáo thì có Lòng Từ bi của Quan Thế Âm Bồ tát, may thay  trong nền Văn Hóa Việt lại có Bọc Âu Cơ Tổ Mẫu bao che ấp ủ mọi con dân Việt trong Tình / Nghĩa Đồng bào với lòng Bao dung, nên Dân tộc chúng ta vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt!

Qua hàng ngàn năm Lịch sử,nhờ được ấp ủ trong Tình Nghĩa Đồng bào mà nhân dân Việt Nam đã có đủ Nội lực để  chống trả thành công nhiều cuộc chiến tranh và âm mưu   tàm thực thâm hiểm của kẻ Thù khổng lồ Bắc phương.

Ngày nay là thời đại phát triển của Khoa học, của Lý trí, nên con Người bị lâm vào  đại nạn lạm phát Lý trí và đói khát Tình yêu, , nhất là Tinh thần Duy Lý – nguồn của sự chia ly -.  Nguyên do là con Ngưòi đã đánh mất nguồn Tình kéo theo sự mất dần mối Liên hệ gần gủi với nhau.   Khi con Người có Tình thì họ mới biết lưu tâm và chia sẻ với  người khác,  để thắt chặt mối Tình thân với nhau.

 Khi đói khát Tình Yêu, đáng  lý phải trau dồi Tình yêu cho đời sống trở lại cân bằng, thì  con người  lại chỉ mê mải theo cơn lốc kỷ thuật số cao tốc, khiến cho nạn đói khát Tình Yêu ngày càng  trầm trọng thêm, làm cho  con người cô đơn thêm, xa rời nhau thêm, những mối Liên hệ  Gia đình, thân tộc, ban bè, Quốc gia  ngày một lỏng lẻo thêm!

Những computer, laptop, iPad, iPhone đã giúp cho Lý trí con Người phát triển theo cao tốc bao nhiêu, thì đồng thời cũng làm cho Tình cảm con Ngưòi  teo tóp  đi bấy nhiêu, Khoa học kỹ thuật tuy đã giúp con người nâng cao đời sống vật chất to lớn, đồng thời cũng  tách con ngưòi ra từng xứ cô đơn, khiến con người trở nên Duy Lý, mất quân bình, Duy lý cực đoan đưa con Người tới tình trạng Tham tàn và Cường bạo.

Ngoài cái hại đó, Khoa học cũng đem tới cái Lợi to lớn là giúp cho nhân loại, tuy cách xa ngàn trùng nhưng lại gần nhau trong gang tấc, nên có cơ hội hiểu nhau, thông cảm nhau hơn, miễn là mọi người duy trì được nếp sống Tâm linh và Khoa học được lưỡng nht. 

Khoa học đem lại cho nhân loại cặp bài trùng Lợi / Hại lớn lao, nên nhân loại cần  biết cách sử dụng  sao cho Khoa học và Tâm linh hợp với Dịch lý:  “Âm< Tâm linh > / Dương < Khoa họcHòa” thì  cuộc sống con Ngưòi trong Vũ trụ mới được ổn định, nghĩa là : Tâm linh / Khoa học lưỡng nhất. (Dual unit: Nhất nguyên lưỡng cực : Thái cực “Âm / Dương Hòa “

Con Người phải  thực sự sống làm sao cho Tình cảm <, Tâm linh> và Lý trí < Khoa học >  nơi con người  được cân bằng, thì mới có thể ăn ở tử tế với nhau được.   

Để cho Tình Lý tương tham , Nho đã tìm ra Tỷ lệ Hòa là :  Tình  /  Lý = 3 / 2.

Nho gọi là “ ThamThiên  (số 3 ) lưỡng  Địa ( số 2 )  nhi ỷ số “:  Tỷ lệ Hoà theo Dịch lý.

Thiên /Địa, Tình / Lý, Nhân / Nghĩa, EQ / IQ, Tâm linh / Khoa học  đều là nghịch số, là cặp đối cực của Dịch lý cần được lưỡng nhất ( dual unit: 2    1 ) để tạo ra thế Quân bình động,  hầu được Tiến bộ luôn ở trong trạng thái ổn định.

Sở dĩ Tình (chiếm 3 phần ) phải nhiều hơn Lý ( chiếm 2 phần ), là vì khi  hai bên có sự  mâu thuẩn hay xích mích nhau, nếu có được nhiều Tình hơn thì hai bên có thể tha thứ cho nhau, bao dung nhau mà tìm cách cư xử công bằng mà Hòa với nhau.  Con số 3, 2 không là con số toán học, mà là con số uyển chuyển có thể thay đổi tùy theo  từng người, từng trường hợp , từng hoàn cảnh, miễn sao hai bên dàn xếp với nhau cho ổn thỏa là được, nhưng  Tình phải nhiều hơn Lý để hai bên chấp nhận đối thoại   với nhau .

Tình cảm chính là Bản tính của con Người, khi có Tình cảm với nhau thì hai ngưòi mới yêu thương, quý trọng nhau, khi đó không nỡ nặng lời với nhau, chê bai nhau, lấn át nhau, cướp giết nhau, ta có thể  bảo rằng khi con người  “ Vô Tình “ hay  “ Bất Nhân “ thì không thể sống công bằng với nhau mà chỉ làm chuyện Bất công gây khổ đau cho nhau.

 Vậy Bất Nhân là nguyên nhân gây ra hành động Bất công ( Bất Nghĩa )  làm phương hại đến Vật chất và Tinh thần của người khác .

Đây là nguyên nhân “ Nhân vi (: Artificial )“

Chế độ Nô lệ, đế quốc Thực dân,  Công sản là 3 tai họa lớn  lao mà Âu châu đã cống hiến cho Nhân loại.

Còn một nguyên nhân quan trọng hơn thuộc  “Thiên bẩm (:innateness )“

Con người được sinh ra trên thế giới  đã lên tới hàng 8, 9 tỷ người mà chẳng ai giống ai hoàn toàn, mỗi người mỗi vẻ, nhưng mười phân chưa vẹn mười, vì chẳng ai đã được hoàn thiện:

Về  thể chất, người thì rất khỏe mạnh, người thì có sức khoẻ trung bình, kẻ khác thì lại yếu đuối không thể làm việc.

 Về Tinh thần thì có người thông minh dĩnh ngộ, có người có IQ trung bình, có người lại rất thấp. Đây là lãnh vực Thiên bẩm.

Ngày nay, nhìn vào mức thu nhập do sức lao động trí óc và tay chân của con người, chúng ta thấy sự chệnh lệch quá lớn, nhiều người cho đó là nguồn bất công duy nhất , vì họ mới chỉ nhận ra được sự bất công do Nhân vi mà không nhận ra do yếu tố Thiên bẩm mà ra.

Nhờ Thiên bẩm cao thấp mà có ngưòi làm ra mỗi giờ hàng nhiều ngàn, gia tài họ có đến trăm tỷ dollar, còn người khác thì không làm ra 1 xu, sự giàu có  của họ là nhờ tài thiên bẩm của họ làm ra mà vô số người khác không thể nào có được, ở Hoa Kỳ ông Bill Gate có đến 100 tỷ ,còn người Vô gia cư không làm ra 1 xu, đây có phải là sự bất công do Ông Bill Gate làm ra hay không, ông Bill Gate có áp bức bóc lột sức lạo đông tay chân và trí óc của Dân Hoa Kỳ không, không những không mà ông còn đem hàng chục hằng trăm triệu giúp thế giới chống với bệnh tật và nghèo đói.     Rõ ràng Sự cách biệt giàu nghèo giữa hàng trăm tỷ với 1 xu  không phải Nhân vi mà là do Thiên bẩm, nhưng con Người không thể kiện Ông Trời để đòi lại  sự công bằng  xã hội. Vậy xem ra Trời sinh ra loài người dường như bất công.

Vậy muốn giải quyết vần đề công bằng Xã hội thì chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân:

Nguyên nhân thứ nhất là Nhân vi, đó là cảnh con Người  ( thiếu con Tim: EQ ), nên áp bức bóc lột con Người như trong chế độ      Nô lệ ,chế độ đế quốc Thực dân, Phát xít, Phong kiến chuyên chế , chế độ Độc tài CS .

Nguyên nhân thứ hai là do Thiên bẩm, Thiên bẩm là nguồn động lực năng động của Nhân loại, giúp nhân loại thăng tiến cuộc sống vật chất và Tinh thần.  Những người có Thiên bẩm IQ cao ( Lý ) , nếu thiếu EQ  ( Tình ) để cân bằng thì có thể đi vào con đường bất Nhân gây ra bất Công, mà làm giàu.

Vì con Người và Xã hội là những thực thể hữu hạn trong thế giới hiện tượng, mọi sự đều tương đối,  đều biến đổi bất biến, tuy con người phải luôn hướng về Tuyệt đối nhưng  không thể đem ảo tưởng tuyệt đối vào Xã hội như Thiên đường trần gian mà làm nhà tan, nước nát , nhất là đày ải con người .

Chúng ta hãy đi vào xã  hội Đông phương xưa và xã hội Tây phương ngày nay, cụ thể là Hoa kỳ để xem cách giải quyết vấn đề Bất công Xã hội như thế nào?

VẤN ĐỀ CÔNG BÌNH XÃ HỘI

A.- NHỮNG GÌ CHÚA TRAO BAN

Chúng ta hãy đi vào Thánh Kinh để xem Kitô giáo quan niệm thế nào về Vấn để công bình xã hội?

( Trích ba dụ ngôn trong Tân Ước Mã Thi.( Mát Thêu )

 Thánh kinh hội Quốc tế xuất bản 1994 )

“ Nước Trời giống như trường hợp người Chủ lên đường viễn du, gọi các đầy tớ vào, ủy thác cho họ tài sản của mình. Chủ giao cho mỗi người tuỳ khả năng: Người thứ nhất 50 lạng vàng, người thứ nhì 20 lạng và người thứ ba 10 lạng.

Sau khi chủ lên đường, người 50 lạng lập tức kinh doanh, lời được 50 lảng. Người 20 lạng cũng đầu tư, thu lời 20mlạng, còn người nhận 10 lạng đào đất chốn dấu số vàng của chủ.  Sau một thời gian khá lâu, chủ trở về, tính sổ với các đầy tớ.

Người nhận 50 lạng đem thêm 50 lạng đến trình: “ Thưa Chủ, 50 lạng vàng chủ giao, tôi làm thêm được 50 lạng nữa “. Chủ khen: “  Tốt lắm, con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên sẽ được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta.

Người nhận 20 lạng  cũng bước đến thưa chủ: “  20 lạng vàng chủ giao, tôi làm lời thêm 20 lạng nữa. Chủ khen: “ Con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên đã được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta “.

Người nhận 10 lạng đến phân trần: “ Thưa Chủ, tôi biết chủ khắt khe, hay gặt hái trong chỗ không gieo, thu hoạch ở nơi không trồng. Vì loo sợ nên tôi tím chỗ chôn dấu vàng của chủ, và đây tôi xin giao lại số vàng cho chủ. “       Chủ quở trách: “ Anh thật gian ngoa lười biếng!   Đã biết ta thu hoạch lợi tức, sao anh không gởi số vàng ấy vào ngân hàng để khi ta về lấy cả vốn lẫn lời? “   Rồi chủ ra lệnh: “Đem 10 lạng này cho người có 100 lạng!   Vì ai có, sẽ được thêm đến mức dư dật, còn ai không có, dù còn gì cũng bị lấy đi. Còn tên đấy tớ vô dụng kia, đem quăng nó vào chỗ tối tăm, đầy than khóc và nghiến răng! “

B.- Ý NGHĨA CỦA LẠNG VÀNG

I.- Ý nghĩa của dụ ngôn theo Việt Nho

Trước khi viễn du, người Chủ  gọi đầy tớ đến rồi giao Vốn cho các tôi tớ  “ làm Lời “: Đây là ẩn dụ nói về việc Chúa sáng tạo ra loài người hay cách khác là con người được bẩm thụ từ Thiên Chúa: Người thì được Chúa ban phát 50 lạng, người thì 20 lạng, người thì 10 lạng.

Các lạng đây chỉ về  Thể chất và Tinh thần mỗi người lãnh được từ khi Cha mẹ sinh ra, tức  cũng là từ Chúa trao ban cho.. 

II.- Thiên Chúa tạo ra con người dường như bất công

Khi giao cho đầy tớ – con cái Chúa – , mỗi người một số Lạng khác nhau, người thì 50, kẻ 20, người khác thì 10, nên về Trí tuệ, người thì thông minh, người thì có sự hiểu biết trung bình, người thì u tối, về Thể xác người thì khỏe mạnh, kẻ thì gầy yếu, người là lực sĩ, kẻ lại tật nguyền, vì thế mà những con người trong nhân loại đã có Tư cách và Khả năng khác nhau ( do sự bẩm thụ khác nhau ) được diễn ra dưới muôn hình muôn vẻ.  

Do Thiên bẩm khác nhau, mà có kẻ Thông minh, người kém hiểu biết, kẻ Giàu người Nghèo, kẻ Sang người Hèn, kẻ lành người dữ, người thì làm ra mỗi giờ hàng ngàn, kẻ thì không làm ra một đồng xu, đưa tới cảnh “ Người ăn không hết, kẻ thì lần không ra “ .

Ngoài ra, có  một số người với Thiên bẩm trội hơn, tuy đã có đời sống sung túc, nhưng lại còn dùng ưu thế của mình để áp bức bóc lột người thấp cổ bé miệng để làm giàu thêm, gây nên muôn vàn bất công trong xã hội.  

Vậy nguồn gốc của mọi Bất công làm rối loạn xã hội xưa nay đều do hai nguồn: Thiên bẩm và Nhân vi.

Thế mà xưa nay hầu như người ta chỉ lưu ý tới nạn Bất công do Nhân vi, mà không nhận ra nạn Bất công cũng đến từ gốc Thiên bẩm.

III.- Con Người phải sống như thế nào

trong môi trường Xã hội dường như bất công?

Mỗi người được sinh ra ngoài sự lựa chọn của Cha Mẹ mình và chính mình, có hỏi Trời Trời  cũng chẳng nói, vậy con Người biết làm sao đây ngoài việc tìm cách hành xử thích hợp với môi trường để tồn tại và phát triển.

Ngoài sự bất công nơi loài người như thế thì trong vũ trụ cũng chẳng khác, mặt đất thì chỗ Cao nơi Thấp, nước bao giờ cũng chảy trên Cao xuống Thấp, gió cũng di chuyển từ nơi Áp suất Cao tới Áp suất Thấp, dòng điện cũng vận chuyển từ Điện thế Cao tới Điện thế Thấp, . . . tất cả đều nhắm khỏa lấp bớt sự cách biệt, nhưng nhờ có cách biệt mới  có sự Biến hoá, chứ khi mọi thứ đã san bằng rồi thì Vũ trụ hết Biến hoá, sự sống sẽ bị tiêu diệt.

Vậy sống trong thế giới Hiện tượng, mọi sự đều biến hóa không ngừng, con Người phải nương theo Thời tiết, nương theo định luật Thiên nhiên để tồn tại và phát triển.      Con người được sinh ra với Bẩm sinh khác nhau dường như bất công, lại sống trong mội trường Vũ trụ cũng xem ra cũng bất công, nên con Người không có cách nào hơn là phải sống hoà nhập vào hiện tưọng Thiên nhiên, sao cho đỡ bất công để mọi thứ được giao hoà với nhau nhất là hòa cùng tiết nhịp Tiến hoá của vũ trụ, có như thế thì mới giúp con người được phát triển toàn diện. Là một trong Tam tài,là  “ Nhân linh ư vạn vật “, nên con Người phải tìm cách thăng hoa cuộc sống để được tiến lên trong ba đợt:

Một là con người Chất thể chung với con vật lo về ăn, măc, ở và làm, cốt để giữ đời sống sinh lý hoàn toàn ngoại vi.

Thứ đến con người Văn hoá lo về Lý trí, Tâm tình, Văn học, Nghệ thuật, Thi ca, Nhạc, Họa. . . Đây là đợt riêng biệt cho con người.

Đợt ba con người Tâm linh lo đi đến chỗ “ chí Thành như Thần” . Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn Nội tâm, con mắt không thấy được, nên cũng gọi được là Vô, là Trống, như ta có thể thấy rõ trong Trống Đồng có 3 vòng Thiên, Địa, Nhân này. Người lý tưởng phải gồm được cả ba.   Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. 

Văn hoá trọn vẹn phải lo cho mọi người no đủ, vì đói thì chẳng làm được gì về Văn hóa Văn học cả, nên Văn hoá nào không móc nối con người sinh lý là nền Văn hoá nguy hại, nhất là làm cho con người mất khả năng mở lên đợt ba thì rõ ràng là thiếu nguyên lý Mẹ, mà nguyên lý Mẹ ( Trọng Tình hơn Lý ) rất dễ mất, vì là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.”      

( Thái Bình Minh Triết. Kim Định. Tr.46 – 47 ).

Nếu không có thế giới hiện tượng “ Nước lỏng chảy Xuống, Hơi nước bốc Lên “ như thế, thì con người không có môi trường tiến hoá để vươn lên đời sống siêu việt, thì làm sao con Người được xứng danh là  con cái Thượng Đế.

Khi được sinh ra thì con người mới còn là con người “ Quỷ / Thần chi hội “ hay con người đang thành “, nên Công việc làm Người ( Vi Nhân ) cho đạt tới vị trí Người còn vô cùng khó khăn, nhưng cũng rất cao cả.  Có phải đây là Ý của Chúa muốn mọi con cái của Ngài phải biết sống theo cách “ Vâng Ý Cha dưới Đất cũng như trên Trời “? Ý Cha là con Người phải thực sự  “ yêu mọi Người “ và trước tiên là phải “ mến Chúa hết Lòng và hết Trí  khôn “. Có Vi Nhân được như thế thì con Người mới hành xừ với nhau được tương đối công bằng.

IV.- Đâu là Ý của Thượng Đế

Theo Việt Nho thì Ý của Thượng Đế chính là Thiên lý, mà Thiên lý là Dịch lý tức “ Chân lý ngược chiều” được vận hành trong vũ trụ: Tâm linh và Khoa học là chân lý ngược chiều, như khi thở Vào thì phổi đầy không khí, khi thở Ra thì không khí chẳng còn, trong cuộc sống con người cũng thế, muốn tồn tại ở trần thế  thì ta phải Chấp, phải chiếm hữu, nhưng khi muốn trở về nguồn Tâm linh là nguồn Vô nên phải Phá, bỏ hết mọi sư, có biết sống nhịp nhàng cân bằng giữa cặp đối cực Chấp / Phá ( Receiving / Giving ) như thế thì mới thuận Thiên, Cha ông chúng ta đã bảo: Mọi sự Có mà như Không, Không mà lại Có, con người phải nhận ra sự biến hoá không ngừng trong Vũ trụ để nương theo đó mà tồn tại và phát triển được. 

Môi trường sống và con người đều chứa sự bất công, nhưng nhờ sự mất cân bằng mới có biến hoá, có biến hóa mới tiến bộ, nên con người cũng phải nhịp theo Thiên lý mà làm giảm bớt sự bất công để lập thế quân bình động – Thế Hòa giữa hai đối cực –  đó là sứ mạng của con Người phải sống theo Dịch lý.

Mặt khác con người không thể dựa vào những Lạng được trao ban, mà chiếm ưu thế sống riêng cho mình, phải dựa vào số nhân lãnh mà “ làm Lời “ mà đóng góp chung cho cuộc sống Hòa.  Lời ( receiving ) ít thì phải Cho ( giving )  ít, Lời nhiều thì phải Bù nhiều. Con Người cũng không thể dựa vào số Lạng mà phân biệt cao thấp sang hèn, mà dành phần ăn trên ngồi trốc, Chuá Giê-su đã phán xét rõ ràng.

Những con người thông minh mẫn tuệ, mà không làm gì cho xã hội để khỏa lấp bớt bất công xã hội để giúp mọi người sống hoà với nhau là nghịch Thiên lý.

Đó là công việc Vi Nhân theo nghịch số, đây là công việc vô cùng khó khăn, nhưng với  con Chúa là con người Nhân chủ, biết tự lực tự cường và  sống thuận theo Thiên lý thì đạt Đạo, con người trở nên rất cao cả .

Cha ông chúng ta đã bảo Thiên chúa, Thượng đế là Hoá nhi, mà “ Hoá nhi đa hý lộng” , nên trong cuộc sống con người phải rất uyển chuyển mà hý lộng theo, có khi xem những cái nhỏ còn quan trọng hơn những cái lớn,( Vật khinh hình trọng ) đó là những cái sảy nảy ra cái ung, có khi lại xem  “ cái Không “ quý hơn “ cái  Có “, như bức tranh vô giá, vô giá là nhờ vào cái “ Hồn” chính là cái “ Vô “  của bức tranh. Vẽ tranh không chỉ vẽ cái Xác mà còn “ phải vẽ làm sao cho nổi lên “ được cái Hồn của bức tranh thì mới đạt nghệ thuật. Thời này nhiều người tôn vật chất làm chủ ( vật chủ ), họ đấu tranh, chèn ép, dành dật, cướp giết nhau cho thêm vật chất dư dật tích trử đấy kho chật lẫm, trong cảnh xã hội tràn ngập bất công, làm cho con người khổ đau. chỉ vì họ chỉ còn cái Xác mà đã đánh mất cái Hồn.

Vì không hiểu Thiên ý hay Lý nghịch số, nên triết gia thượng thặng ở Âu châu như Platon chấp nhận chế độ nô lệ, cho rằng nếu không có nô lệ thì lấy ai làm việc, vì giai cấp thượng lưu, giai cấp qúy tộc tự cho mình là những người thượng đẳng có quyền “ ngồi mát ăn bát vàng”. 

Còn Chúa Giê- su thì ngược lại, Ngài cũng lao động, cũng sống đời sống bình thường như mọi người. Ngài bênh vực những người bệnh tật khốn khổ, khó nghèo, tội lỗi để xoa dịu bớt cảnh bất công.  Ngài bảo hàng giáo phẩm phải phục vụ đoàn chiên, phải rửa chân cho đoàn chiên,- những người bị thất thế – , có lẽ không phải một năm chỉ rửa chân tượng trưng một lần, mà thường xuyên.    Đáng lẽ các vị lãnh được nhiều lạng phải lưu tâm đem số Lời của mình vào việc  khỏa lấp bớt bất công xã hội, Những thành phần giàu có, quyền thế cứ thản nhiên tạo ra thêm bất công, nên mới nảy sinh ra chế độ CS. 

Vì thấy bất công xã hội làm khổ con người khôn xiết, nên những người CS đầy nhiệt huyết gấp rút xoá bất công xã hội, để mưu hạnh phúc cho con người. Họ giết một số người để mưu hạnh phúc cho một số người, họ tước bỏ quyền Tư hữu của mọi người để họ ban phát sự sống cho mọi người, họ tước quyền được ăn ( Tư hữu ) và được nói (  quyền Tự do ) của con Người.  Quyền Tư do và Tư hữu là Thiên tính, nên họ đã mặc nhiên thay Thượng Đế để cai quản loài ngườ!!.

Họ chỉ biết bất công “ phn nào “ do loài người làm ra,  ( Nhân vi ) mà không biết đến phần bất công khác là do Thượng đế chủ ý đã tạo ra con Người  ( Thiên bẩm ) trong môi trường bất công để buộc con Người phải tu Thân mà trở nên trọn lành, Con Người không trở nên trọn lành thì không xứng là con cái của Thiên Chúa, họ không thể hành x Công chính với nhau nếu thiếu lòng Bác ái.    Còn CS thì cổ võ Hận thù, hành động đại bất công để giải qưyết những bất công giả tạo.  Là kẻ vô thần, họ đâu có biết Thượng Đế tạo ra con người trong môi trường sống động như thế để con người có cơ hội phát triển hết khả năng của mình mà hoàn thành sứ mạng Hòa làm cho con người cao cả, xứng với địa vị con cái Thượng Đế.   Từ chối không làm chuyện đó thì con người không thoát khỏi lốt ngợm!.

V.- Nan đề Bất công xã hội

Nan đề muôn thuở của con Người và xã hội vẫn là sự bất công trong gia đình và ngoài xã hội: Người ta chỉ biết một số bất công do cách ăn ở của con người tạo ra trái với Dịch lý, còn sự bất công qua số Lạng nhận lãnh từ Thiên Chúa thì không biết đến, nên cách ứng xử của con người với vấn đề bất công xã hội không thể giải quyết ổn thỏa.

Một số trong Giai cấp thượng lưu, giai cấp quý tộc, nhất là đế quốc thực dân, giai cấp địa chủ  tuy nhờ Thiên bẩm mà có đời sống Tinh thần và Vật chất cao hơn, đáng lý họ cũng nương theo luật Thiên nhiên, biết lấy Nhiều bù Ít, lấy Mạnh giúp Yếu, lấy Lành cảm Ác, nhưng một số đã   không lý tới nguồn gốc sự bất công đã có trong xã hội mà còn tạo ra bất công làm khốn khổ con người.

Còn CS thì không biết đến sự bất công từ Thiên bẩm, mà cào bằng tất cả, tước đi Thiên tính của con người đưa tởi cảnh con người bị đày đọa!

Vấn đề là không thấy được nguồn gốc của bất công là do Thiên bẩm và cũng do con Người, nhất là không hiểu rõ Thiên lý tức là Dịch lý nghịch số để có nhng ứng xử thích hợp.    Không thấy được con người muôn màu muôn vẻ về tư cách và khả năng khác nhau thì làm sao mà đòi hỏi được sự công bằng tuyệt đối trong xã hội. Một người làm một giờ được hàng trăm hàng ngàn, còn người khác thì không làm ra một xu, thì công bằng làm sao đây?

Nhưng mặt khác không lo tìm cách giảm thiểu bất công xã hội  thì xã hội cứ tranh đấu cướp bóc nhau, đâm chém nhau mà gây đau khổ cho nhau, thì rốt cuộc dẫn nhau xuống hố.

Những giải pháp cấp tốc theo lối Pháp trị chay ( thiếu Hiến pháp Nhân bản ) , theo lối độc tài sắt máu, lịch sử  cho thấy  đã bị phá sản hoàn toàn  !

Chỉ khi nào mọi người nhận rõ nghịch số của Dịch lý mà hành xử  thuận theo Thiên lý làm cho hai đối cực bớt cách biệt mà Hoà với nhau thì mới ổn thỏa.

Chỉ có những người sống thực sự theo tinh thần  Hòa của Tôn giáo mới giải quyết được nan đề, nhưng khổ thay nhiều khi Tôn giáo chỉ “ Lấy Đạo tạo Đời   “ nên cũng vô bổ.

Căn bản vấn đề là: Con người bất toàn với Tư cách và Khả năng khác nhau, nếu cứ theo đà » mạnh  được yếu thua, kiến ăn cá cá ăn kiến  «  thì cả hai phía người giàu kẻ nghèo sẽ dồn nhau vào chỗ chết, CS là một ví dụ.   Chỉ có con người biết chấp nhận nhau là những con người bất toàn giúp nhau sống tương đối công bằng với nhau  để sống hòa với nhau mới ổn, không thể đem tinh thần cực đoan như CS  ra mà cư xử với nhau!.

Muốn thực hiện cuộc sống công bằng với nhau thì tiên vàn mọi  người phải đều biết tôn trọng nhau, vì đều là con Chúa, con Phật, là tinh hoa của Trời Đất, nên phải yêu thương  nhau, chấp nhận những dị biệt của nhau mà tha thứ cho nhau, và ăn ở theo lối hai chiều : «  có Đi có Lại, phải Người phải Ta « thì mới đi đến chỗ Hoà mà sống yên vui với nhau được.

Nho giáo có  “ Nhân/ Trí, Hùng / Dũng,”  Phật giáo có “ Bi / Trí, Dũng, hay Từ Bi/ Trí tuệ  Hỷ xả “, Kitô giáo có  “ Bác Ái / Công bằng và Tha thứ “.

Mọi người có thực sự sống kết hợp với những giá trị cao cả đó thì mới giải quyết nổi vấn đề. 

Vấn đề chính là mọi người phải tu dưỡng lòng Nhân hay lòng Tư bi hay Bác ái, khi có yếu tố căn bản này thì mọi điều khác như chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau  mà ăn ở tương đối công bằng với nhau đều có thể thực hiện được.

Vì vậy cho nên nan đề của nhân loại vẫn là quên đời sống Tâm linh và cách hành xử hai chiều với nhau trong gia đình và xã hội.

Chỉ khi nào có con người Nhân chủ có đủ Nhân, Trí, Hùng – Dũng để biết cách sống «  Dĩ Hoà vi quý «  thì mọi vấn nạn của con người Bất Nhân và xã hội Bất Công mới giải quyết được. 

Đó mới chỉ là lãnh vực cá nhân.

Nan đề của Nhân loại ngày là coi nhẹ đời sống Tâm linh, nhưng Tâm linh  ( Quy tư: EQ: feeling ) và Khoa học ( Suy tư : IQ: thinking ) là cặp đối cực cần luôn được quân bình: EQ /IQ 1

 Có Tâm linh mà Khoa học kém cỏi thì không thể “ ăn nên làm ra “, có Khoa học mà thiếu Tâm linh tức là đánh mất Lương tâm thì Khoa học sẽ “ hủy diệt Nhân loại”.

VI.- Công  Bằng tương đối

Do số Lạng“ nhiều ít đầu tiên được nhận lãnh từ Thiên Chúa “ mà con người không thể có công bằng tuyệt đối trong thế giới hiện tượng tương đối. Nhưng chỉ trong thế giới hiện tượng tuơng đối mà con người có môi trường để Vi Nhân bẳng cách hoàn thiện những thứ bất toàn. Nhiệm vụ cao cả và khó khăn nhất của nhân loại là khi sống trong thế giới bất toàn phải tổ chức thế nào để cho ai ai cũng có điều kiện sống hợp với nhân phẩm. Đó là nhu yếu thâm sâu của mọi con người: Quyền có Ăn và quyền được Nói.

Chúng ta nên nhớ, Nho định nghĩa : Con Người là “ Thiên Địa chi Đức , con Người là tinh hoa của Trời Đất,Trời ( Thiên )thì vô biên, nên con Người cần phải có Tinh thần  “ Tự do “ để phát trìển, còn Đất ( Địa ) thì hữu hạn, nên mọi con người  cần phải có Vật chất  để nuôi sống tức là phải có “ Bình sản” . Phải có hai nền tảng Tự do và Bình sản thì mỗi con Người mới  phát huy được phẩm giá của mình ( Nhân / Nghĩa Bao dung ) để sống Hoà với nhau .

Nhân loại đã thất bại triền miên trong công cuộc Vi Nhân căn bản này. Ta nên nhớ con người là một trong Tam tài, nên phải hành kiện như “ Thiên hành kiện bấttức: Trời hoạt động không ngừng nghỉ qua các Hiện tượng biến hoá trong thiên nhiên, nên con người cũng phải làm việc không nghỉ ngơi để tạo ra của cải Vật chất và của ăn Tinh thần. Làm ra cái Ăn là một trong nhu yếu nền tảng của Nhân quyền, khi bảo vệ được cái Ăn thì có Nhân quyền, cái Ăn cũng được gọi là quyền Tư hữu.

Trong chế độ Tư bản thì quyền Tư hữu tuyệt đối, nên những người nhận được nhiều lạng lại có quá nhiều Tư hữu, mà người ít lạng thì lại không có cái Ăn, trở thành Vô sản, nên vô Nhân quyền bị tổn thương nên phải lập ra chương trình An sinh xã hôi để  điều hoà hố cách biệt giữa giàu và nghèo

Còn trong chế độ CS thì quyền Tư hữu bị tước sạch để làm Công hữu, tuy có Làm nhiều mà Hưởng ít, con người trở thành Vô sản như súc vật, Nhân quyền bị tước.

Nan đề của nhân loại hiện nay vẫn là quyền Tư hữu. Mỗi cá nhân nhờ hoạt động của  Trí óc và Tay chân mà sản xuất ra của cải gọi là quyền Tư hữu. Sản vật do Trí óc và mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì mình có quyền hưởng mà không ai có thể tước đoạt, chỉ những tài sản nào không do công lao của mình mà chiếm lấy thì mới bất công.

 Giàu Nghèo mà do bóc lột và bị bóc lột mới bất công. Những người giàu dùng mưu gian và quyền thế để bóc lột kẻ nghèo mới bất công, còn người nghèo vì lười biếng mà nghèo thì cũng chẳng do bất công.

Nhưng sống trong xã hội mà kẻ nghèo thì đông mà người giàu thì ít , nếu người giàu không biết san sẻ thì vấn đề CS sẽ nảy sinh .Do  đó mà  cần có Lòng bác ái, Lòng Tư bi cũng như Lòng Nhân ái, chỉ với những người có Tình yêu cao cả như thể  mới biết chia sẻ với người thất thế trong cuộc sống, nhưng vấn đề  Công bằng tương đối trong xã hội lại thuộc về trách nhiệm của nhà cầm quyền.

Trong xã hội mà người nghèo thì đông , người giàu thì ít, công việc Từ thiện, Bố thí mới chỉ là tiểu Ân cần  cho nhất thời, còn việc thực thi công bằng xã hội tương đối mới cứu được nhân phẩm mọi Người trong dài hạn, mọi người phải có cơ hội và phương tiện phát triển Tư cách và khả năng và đồng thời phải có công ăn việc làm mới duy trì được phẩm giá của con Người .

VII.- Công bằng tương đối trong Xã hội Nông nghiệp

và Kỹ nghệ

Thế mà trong chế độ Nông nghiệp thô sô, Cha Ông chúng ta đã biết lấy Công điền Công thổ  để  điều hòa giữa Công và Tư hữu để giúp cho những người bất hạnh có cuộc sống  tương đôi xứng với Nhân phẩm.

Trong chế độ Nông nghiệp xưa tại miền Bắc và miền Trung, Công điền và công thổ trong mỗi làng chiếm hơn một nửa.     Tổ Tiên Việt đã có phép Tỉnh điền, dùng Công hữu ( Công điền  công Thổ) để điều tiết với Tư hữu hầu giảm bớt khoảng cách giữa Giàu Nghèo.

Công hữu này đưọc cấp phát cho những người thất thế, những cô nhi quả phụ, nhng người tật nguyền, mỗi người đều được cấp phát một số sào ruộng để họ “ tự canh tác lấy “  mà sống, không ai có thể dùng miếng ăn để bắt nạt họ. Còn ngưòi tật nguyền thì lấy ruộng đất được cấp phát cho “ Rong canh “ tức là cho người khác  cày cấy để thu tô tức là thu một số thóc, tuy là ít nhưng họ không có bị chết đói.

 Đây là cách giải quyêt vấn đề Công bằng tương đối trong xã thôn ngày xưa.

Trong xã hội Kỹ nghệ Tây phương nhất là Hoa kỳ đã dùng thuế Lũy tiến,tức là lấy Tư hữu đóng góp vào Công hữu để thiết lập những tiện nghi công cộng cho mọi người chung hưởng,nhất là thiết lập Quỹ An sinh xã hội để giúp những người thất thế về trợ cấp xã hội cũng như bảo hiểm y tế giúp họ được sống như là một con người có Nhân phẩm, ngoài ra còn giúp huấn nghệ cho họ sống tự lập được.

Gỉải pháp Hòa: Thiên bẩm / Nhân vi lưỡng nhất

Lấy Nhiều bù Ít, lấy Cao bù Thấp , lấy Mạnh bù Yếu  “ theo Dịch lý “. ( khác với lối của XHCN )

VIII.- DỊCH LÝ “ ÂM / DƯƠNG “  

với “ TỶ LỆ HOÀ= 3 / 2 “

( Tham Thiên < 3 >  / Lưỡng Địa  < 2 > nhi ỷ  số )

Theo Nho thì Dịch được định nghĩa là : Nghịch số chi Lý: Dịch được cấu  tạo bởi các cặp đối  cực ( Nghịch số  ), khi cặp đối cực  lưỡng nhất thì mới đạt trạng thái Quân bình động ( Dynamic equilibrium ) để tiến bộ trong trạng thái ổn định.

1.- Những nghịch lý trong Vũ  trụ

Cơ cu không gian: Các cặp đối cực Trên / Dưới, Trong / Ngoài cần được lưỡng nhất để tạo nên không gian 3 chiều. ( trinity )

Cơ cấu Thời gian: Quá khứ / Tương lại cần được Lưỡng nhất nơi Hiện tại  ( Hiện tại miên trường : ever present ) tạo nên Thời gian 3 nhịp ( trinity ).

                       2.- Những nghịch lý trong mối Tương quan giữa các cặp Đối cực.

Khi các cặp đối cực có được Lưỡng nhất thì mới duy trì được mối Tương quan 2 chiều tức là mối tương quan Hòa.

Nho đã tổng quát các  cặp đối cực lưỡng nhất thành Dịch lý “Âm  / Dương Hòa

Nên nhớ, tuy Tàu có Dich với 64 quẻ, nhưng Dich Tàu thiếu Gốc Âm, chỉ có độc cực Dương :Rồng, mà độc Dương lại bất sinh, nên làm sao mà Tàu có Dich “Âm / Dương Hòa được? Do đó mà chúng ta hiểu được:

Vì độc Dương nên Văn Hóa Tàu trở nên bạo động,gây chiến tranh, cướp bóc và bành trướng, Dịch  64 quẻ của Tàu chỉ để Bốc phệ: Nhâm, Cầm Độn Toán, chứ không liên hệ gì  đến Dịch lý về  Quốc kế  Nhân sinh.

Nho  bảo “Âm / Dương Hòa “ là  “ Vi ngôn đại Nghĩa  “ tức là lời nói vi diệu mang bản chất  “Đại Nghĩa tức là lẽ Công bằng  xã  hội tương đối cho mọi Người“.

Lời nói này sở dĩ vi diệu là vì không thể   “ hiểu rõ ( thingking ) chỉ bằng Lý  “ mà con phải  “ cảm nhận, thể nghiệm  ( feeling,experiencing )  bằng Tình “, vì là “ Tình / Lý lưỡng nhất “  hay “Tình / Lý tương tham “.

Lấy  một ví dụ để gợi ý:   Khi hai Vợ  /Chồng sống chung với nhau  sao cho “ Tình / Lý tương tham hay Lưỡng nhất hay Hài hòa “ nghĩa là hai bên yêu nhau thật lòng  ( Tình ) và ăn ở công bằng với nhau  ( Lý )  thì hai bên đều cảm thấy Hoà vui hạnh phúc , nghĩa là cuộc sống hai bên đã thăng hoa, đã vượt  lên trên Tình / Lý mà cảm thấy lâng lâng hạnh phúc bên nhau, cảm thấy du dương  như nghe Hòa âm của dòng nhạc .

Nếu không hiểu được ( bằng Lý ) và đồng thời cảm nhận được ( bằng Tình ) thì khi nghe nhắc đến câu “Âm Dương Hòa hay  lưỡng nhất “ sẽ khó liễu hiểu.

 3.-Nghịch Lý trong Bản tính con Người

Nho định nghĩa: Nhân giả kỳ : Thiên / Địa chi Đức 

Nhân = Thiên / Địa = Tinh thần /Vật chất =

 Tự do / Bình sản ( lưỡng nhất )

 * Tự do:

Tự do hàng Dọc ( thuộcThiên ) thì vô biên: Đó là Tinh thần  thuộc Tự do Tôn giáo, Tự do Văn Hoá, nền tảng của  Nhân quyền

Tự do hàng Ngang (thuộc Địa ) thì hữu hạn, đó  là  Bình sản thuộc Vật chất, nền tảng của  Dân Quyền.

Để người dân làm nhiệm vụ công dân là làm nghĩa vụ quận sự để giữ nước và đóng thuế để dựng nước thì nhà nước phải cung cấp phương tiện mưu sinh cho công dân, trong nông nghiệplà cấp ruộng đất để những người có cuộc sống khó khăn để họ tự canh tác mà mưu sinh hầu giữ được nhân phẩm, trong các nước công nghiêp thì trợ cấp bằng tiền bạc để nuôi sống và huấn nghệ để họ sống tự lập.

Nhân quyền / Dân quyền cần được lưỡng nhất theo Dịch lý thì  Nội lực Dân tộc  ( Dân sinh / Dân Trí  ) mới phát triển giúp cho Dân giàu Nước mạnh.

*Bình sản:

Bình sản = Công hữu ( C.S )  / Tư hữu  ( T. B ) lưỡng nhất thì mới giúp cho mọi người có điều kiện sống xứng với Nhân phẩm  mà hoà với nhau. Có điều hòa làm sao cho ai ai trong Xã hội có cuộc sống xứng với Nhân phẩm thì mới tương đôi ổn định.

4.- Nghịch lý trong Chế độ Xã hội.

Chế độ Dân chủ có mối Liên hệ 2 chiều qua lại, nên Âm / Dương Hoà .

Chế độ Độc tài có mối Liên hệ một chiều từ trên xuống, nên Âm / Dương bất Hòa.

5. – Nghịch lý trong Sinh hoạt Dân chủ

Khi thành lập Đoàn thể  hay bất cứ Tổ chức nào hay Quốc gia thì phải có nguyên tắc sinh hoạt:

a – Thiểu số phục tùng Đa số: khi hội họp để bàn thảo bất cứ vấn đề  chung thì thiểu số có  phục tùng Đa số thì công việc chung mới tiến hành được .

             b.- Đa số phục tùng Thiểu số:   Đây là vấn đề thông thạo, hiểu biết vấn đề (: Competency:an important skill that is needed to do a job: ), hàng triệu y tá không thể chữa bệnh bằng  một ông Bác sĩ , vì Bác sĩ thộng thạo về bệnh tình hơn Y tá.6.-Dịch lý trong Tam quyền phân lập

Tối cao Pháp viện có nhiệm vụ duy trì công lý nhờ yếu tố competency.

Do đó mà sinh hoạt trong  cả ba ngành: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp đều theo nguyên tắc  Thiểu số phục tùng Đa số , nhưng  trong ngành Lập pháp  cũng như  Hành pháp <  cả  hai đều Đa số> thì Lập pháp và  Hành pháp phải phục tùng phán quyết về luật pháp của Tối cao pháp viện.

Phải kết hợp làm sao cho cặp đối cực :

Thiểu số phục tùng Đa số / Đa  số phục tùng Thiểu số lưỡng nhất: nền tảng của Dân chủ.  

Lập pháp / Hành pháp Lưỡng nhất :  Tối cao pháp viện

7.- Dịch lý trong việc Tuyển Hiền

  Phiếu Dân bầu / Phiếu Cử tri đoàn

Trong chế độ vua quan ngày xưa, khi ông Vua tìm người hiền tài  ( có Tư  cách và  Khả  năng ) ra lo việc nước thì gọi là tuyển Hiền, trong chế độ Dân chủ ngày nay  thì tuyển Hiền bằng cách Ứng cử và Bầu cử từ cấp địa phương tới trung uơng.

Trong việc bầu cử Tổng thống thì gồm có hai loại phiếu bầu: Phiếu Dân bầu  ( popular vote ) và phiếu Cử tri đòan  Cử  tri đoàn là những người có đóng góp nhiều cho Đảng hoặc các quan chức dân cử của bang hoặc lãnh đạo của Đảng đó hoặc là người có quan hệ chính trị hoặc cá nhân với ứng viên tổng thống của đảng mình. Họ thuộc thành phần thiểu số  ( competency )am hiểu  Quốc kế Dân sinh, còn thành phần Dân bầu tuy thuộc đa số nhưng không quan trọng  bằng Cử tri đoàn, cho nên  khi bầu Tổng Thống, gặp  Ứng Cử viên  nào tuy thua phiếu Dân bầu mà thắng phiếu Cử tri đoàn thì đắc cử Tổng thống

Trong cuộc tranh cử  hiện nay, có ứng viên Tổng Thống đòi thải  bỏ phiếu Cử tri đòan, tức là loại bỏ thành phần competency trong Cử tri, Ứng cử viên này đã dẫm lên lốt chân của CS, vì lấy số đông hỗn tạp để loại trừ thành phần thiểu số   hiểu biết !

8.- Dịch lý trong Cơ  cấu  Văn Hoá và Tôn giáo

Nho giáo : Nhân / Nghĩa Lưng nhất : Bao dung  ( Hòa )

Phật giáo: Từ bi /Trí tuệ lưỡng nhất: Hỷ xả (Hòa )

Kitô giáo:Bác ái/ Công bằng Lưỡng nhất : Tha thứ ( Hòa )

Hiến pháp của Hoa Kỳ: Bác ái / Công bằng1 (Dual unit)

Bản chất của Văn Hóa Việt và các Tôn giáo như Phật giáo Kitô giáo là HÒA

 Tôn giáo mà gây chiến tranh với nhau là Tôn giáo  đã  đánh mất Bản chất Hòa.

9.-Dịch lý về sinh hoạt của Đảng phái trong Chính trường.

Trong chế độ Dân chủ Hoa kỳ hiện nay giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ còn có những bất đồng về Thuế má,về ngưòi nhập cư bất hợp pháp, về việc kiểm soát súng ống, về việc phá thai. . .   Sở dĩ có sự bất đồng như  vậy là do sự cảm nhận và suy tư khác nhau về mức độ  Bác ái và Công bằng  nơi Hiến pháp.a.-Việc phá thai

Một  bên thì chủ trương cho phá thai, cho là quyền lựa chọn của phụ nữ ( Pro – choice ), cứ ăn chơi thả giàn, khi người nữ có mang, gây bất tiện cho cuộc sống thì chính quyền giúp điều kiện giết đi cho đỡ rắc rối .    

Một bên Pro – life ( No abortion ) / bên kia Pro – choice ( abortion  (yes)  = No / yes = 0,  hai bên đối kháng nhau, nên gây ra rắc rối cho nhau.

Muốn cho Pro – life / Pro – choice = 1 ( lưỡng nhất theo Dịch lý ) thì hai bên phải điều chỉnh lại mối liên hệ sao không gây  khốn khổ cho nhau, nghĩa là chỉ có  sex,khi đã lập Gia đình.

Nên nhớ con Trai là một Thái Dương với  “ Dương trung hữuÂm căn “, ( the femine principle within the man; Carl Jung ) ngược lại con Gái là một Thái Âm với “ Âm trung hữu Dươngcăn “ ( the masculine principle within the woman ), nên Thái Âm và Thái Dương phải lưỡng nhất để thành Thái cực, do đó ngưòi con Gái và con Trai phải giao phối với nhau cho 2 thể xác và 2 Tâm hồn kết hợp làm một mới được phát triển viên mãn cho quân  bình, nhờ  đó mà mỗi con Người là một tiểu Vũ trụ hay tiểu Thiên Địa.

 Khi hai ngươi Nam Nữ có thực sự yêu nhau thì mới giao hợp.  Giao hợp là một cuộc Tế lễ  linh thiêng, hai bên phải thành khẩn hiến dâng trọn ven Thể xác và Tâm hồn của nhau làm một để bổ túc bản chất Âm Dương cho nhau được cân bằng, khôngchỉ lúc đó mà  cho tới khi đầu bạc răng long, cốt rủ xương mòn, đây là cuộc Tận hiến, tác động theo Dịch lý của Vũ trụ!

( Xem hình Thái Âm / Thái Dương ở dưới )

Thiếu Âm:The feminine principle within the Man.

Thiếu Dương : The masculine principle within the woman.

Phần trắng của hình trên là Thái Dương, chấm Đen ở trong là Thiếu Âm. Phần Đen là Thái Âm, chấm Trắng ở trong là Thiếu Dương.

Hai bên Nữ  / Nam nên hiểu,chỉ có giao hợp khi đã là Vợ Chồng và Nồi nào úp Vung nấy là hợp với Thiên lý.

Khi người Nam  Không đủ điều kiện nuôi con, thì ngưòi Nữ  phải biết là không thể ưng thuận hợp thân được.      

Quyền lợi / Trách nhiệm phải lưỡng nhất mới không gây ra rắc rối.  Không thể lấy lý do gì để tránh trách nhiệm việc mình đã gây ra!     

Tóm lại, Phá thai trong giai đoạn nào cũng là hành động giết Người , giết Người là chống lại Thiên lý cũng như Tinh thần Hiến pháp – Bác ái và Công bằng – ( Hiến pháp của Hoa Kỳ ), việc này không những gây  nguy hại cho người phạm phải mà còn làm sa đọa Tinh thần của Văn Hoá Dân tộc.

Theo Dịch lý thì Người con Trai là second – half  của người con Gái , Gái / Trai giao hợp để lưỡng nhất hầu nên Một, một Gia đình, Gia đình được Nho tôn lên làm  “ Đại Đạo Âm Dương Hòa “.  Theo Việt Đạo thì “ Nồi nào úp vung nấy “để lập gia đình để xây hạnh phúc dài lâu , chứ không để tìm khoái cảm trong chốc lát. Việc Gái Trai hiến thân cho nhau là  một cuộc Tế lễ linh thiêng, vì một mặt để có khoái cảm, mặt chính  là để sinh ra con Người, mỗi người là một Tạo hoá con, việc giao hoan  là công việc của  “ Tạo Hóa con “ tham gia vào cuộc sinh sinh hoá hoá trong Vũ trụ.  

Việc giao hợp ngoài Hôn nhân là nghịch với Dịch lý hay Thiên lý, mà  “ Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong “ , do đó những cuộc giao hợp ngoài Hôn nhân sẽ đem lại khổ đau cho những ai hành động ngược với Dịch lý.

Gia đình là thành phần quan trọng nhất trong Xã hội, việc giao hợp trong Hôn nhân là việc cao trọng, chứ không bẩn thỉu đê hèn như những người thanh giáo quan niêm, Gia đình phải  là Tổ Ấm để  cho Vợ / Chồng Con cái sống vui vầy hạnh phúc bên nhau. phỏng trong cuộc sống con người có vần đề nào quan trọng hơn, Thiên lý này không thể để bị lạm dụng làm cho sai mất ý nghĩa linh thiêng của Hôn nhân. 

Đây là vấn đề vô cùng quan trọng của mọi người, mọi nhà, của người Mẹ, người Cha, nhưng người ta kiêng dè không dám đụng tới ,thay vì làm cho tốt lại được khơi ra để bị lạm dụng cho xấu hơn, do đó nếu không tạo ra được môi trường linh thiêng cao trọng thì không nên đề cập tới!    

b.-Việc “ Nhập cư “ bất “ Hợp pháp “

Cho Nhập cư  ( Lợi ) là nhờ Lòng bác ái ( Qua vic xét rõ có thực sư bị Đàn áp bất công hay không )

Hợp pháp ( Quyền ): Xem có thể Thực hiện  An ninh chung theo Lẽ công bằng hay không?

Khi không thực hiện Quyền, thì Lợi sẽ bị tước vì trái với tinh thần Hiến pháp: Bác ái / Công bằng .

Bác ái và công bằng như hai mặt của đồng Tiền, không thể tách rời , nên khi không có công bằng thì không thực sự là Bác ái, ngược lại khi không có Bác ái thì không thể thực hiện công bằng.  Nhân danh Bác ái mà lờ đi lẽ công bằng thì chỉ là Bác ái thiếu thực chất, điều   này chứng tỏ Văn Hóa có Vấn đề .

Xâm phạm An ninh chung thì không thể được Nhập cư .

 c.-Quyền mang súng để tự vệ

Có súng / Không súng lưỡng nhất

Có súng để chống lại  người bắn mình, hầu bảo vệ  mình.

Không súng không thể bắn người, nên con người không cần bảo vệ, có dùng nắm tay đánh nhau thì cũng làm bị thương hay chết  một hai người.

Có súng / Không súng lưỡng nhất : Hòa

An ninh cá nhân nằm trong đầu người cầm súng, chứ không phải ở nơi cây súng!

Giải pháp nằm trong Tinh thần người cầm súng, chứ không ở nơi Vật chất :  cây súng

Giải pháp 1: Cá nhân không cần có súng, đã có cảnh sát bảo vệ.

Giải pháp 2: Có đủ ý thức dùng súng mới được cấp phép giữ súng.

d.- Việc đóng Thuế

Đóng thuế là  thực hiện quyền Công dân để Dựng Nước và Cứu Nước.

Bình thường thì Giàu hay Nghèo  đều có tỷ lệ đóng thuế như nhau, theo Dịch lý thì tỷ Đóng thuế  giữa Giàu / Nghèo nên theo tỷ lệ Dịch Lý:  3 / 2 = Giàu / Nghèo,  đó là dựa trên Tinh thần Bác ái hay Nhân ái hay Từ bi, nhằm lấy Nhiều bù Ít để cho tình trạng chung được ổn định, chứ không phải nhằm lấy của  nhà giàu san sẻ cho nhà nghèo, vì chủ trương XHCN này không nhận ra sự bất công từ đâu mà ra.

Nghịch Lý trong sinh hoạt Đảng nơi Chính trường

Cặp đối cực: Quần nhi Bất Đảng /  Đảng nhi  bất Quần lưỡng nhất

            Quần nhi bất Đảng: Lo hợp quần theo Tinh thần Hiến pháp mà coi nhẹ việc xây dựng Đảng thì Đảng không thể mạnh đủ để giúp cho sự phục vụ Quốc gia được hiệu quả.

            Đảng nhi bất Quần : Là chỉ lo việc riêng của Đảng mà không quan tâm đủ đến việc hợp quần với các Đảng khác theo Tinh thần Hiến pháp để lo việc chung .

Cả hai đều làm lệch cán cân giữa Đảng và Quyền lợi Dân tộc, do đó mà phải làm sao cho:Đảng / Quần và Quần /Đảng được Lưỡng nhất theo Tỷ lệ  Quần /Đảng =  3 / 2

Qua đó chúng ta thấy,những cuộc vận động quần chúng trong cuộc bầu cử như  “ bao che những người Di cư bất hợp pháp “, “ cho phép phá thai” , “cho phép mang sung dễ dãi”,    , bỏ học phí cho sinh viên, xóa nợ cho sinh viên, medicare cho tất cả, nhất là bỏ Cử tri đoàn, đó  chỉ  là những cuộc vận động mang tính cách mị dân, trái với tinh thần Hiến pháp, lại nữa, đó  chỉ là lời hứa suộng để kiếm phiếu mà không có kế hoạch để  thực hiện được .

Tinh thần đó sẽ Lưỡng nhất khi hai Đảng biết hành xử theo tinh thần “  Quần nhi bất Đảng “, nghĩa là hai  Đảng biết tuân theo Hiến pháp đặt quyền lợi của Nhân dân trên quyền lợi của Đảng mà lo Quốc sự, chứ các đảng cứ lo ngăn chặn nhau, mà coi nhẹ sự cộng tác với nhau mà lo việc chung, đấy là tinh thần Đảng nhi bất Quần!

 “

VIII.- Kết luận

Người Công giáo cho rằng: “ Greet is not good “, còn một số người Tư bản thì lại định nghĩa: “ Greed is good, Capitalist is greed ”,

Còn nhà Phật ở Đông phương thì bảo: “ Tham, Sân, Si gây ra nghiệp chướng là gốc đau thương của nhân loại. 

Nho giáo thì “ Nhân dục vô nhai: lòng tham của con   người  là  không đáy “ là nguyên nhân làm cho “ Đạo Tâm suy vi, Nhân Tâm duy nguy“.   Quả thật lòng Tham của con Người là nguồn rối loạn của xã hội, vì lòng Tham là nguồn cội của bất công trong gia đình và ngoài xã hội.

Ở Tây phương lòng Tham đã sản sinh ra chế độ Nô lệ, Đế quốc Thực dân. Chế độ CS cũng vì quá tham nên nổi lên chống Đế quốc Thực dân để cướp đoạt mà thống trị thế giới. Ở Đông phương  thì là chế độ Phong kiến, Tàu là đại diện chói chang của “ Tham tàn và Cường bạo “, suốt trường kỳ lịch sử 4716 năm, họ không ngớt rắp tâm gây chiến tranh cướp bóc và bành trướng.  

Đối cực Tư bản và Cộng sản tuy biến đối theo thời gian, nhưng vẫn chưa thay đổi được bản chất Lòng Tham. Là người ít ai chế ngự được lòng Tham, ngay trong lòng các vị tu trì. Lòng Tham gây ra mưu gian và dùng bạo lực để cướp bóc chiếm đọat dưới muôn ngàn hình thức: Trong mỗi cá nhân là mầm mống Tham tàn và cường bạo cứ âm ỉ, trong gia đình là “ Chồng Chúa Vợ Tôi hay Vợ Chúa Chồng Tôi”, đối với con cái thì Cha Mẹ cũng cũng dùng uy thế bạo lực mà khống chế. Trong xã hội thì gây nên một đấu trường dưới trăm mưu nghìn kế để tranh dành: Địa vị, Quyền lực, Danh vọng, Tài sản, Tình dục. Những con người yếu đuối thế cô là nạn nhân.   Nhìn chung thế giới ngày càng chồng chất bất công.

Ở Trung Đông và nhiều nơi trên thế giới có rất nhiều cá nhân ôm bom tự sát, cố giết cho được nhiều người để trả thù những gì họ cho là bất công, cũng có quốc gia cố sản xuất bom nguyên tử để trả đũa bất công. ở Đông phương còn có một số nước duy trì chế độ độc tài để bảo vệ sự bất công. Riêng Việt Nam thì sự bất công đã đi đến cùng cực là  “ giết hại đồng bào để bán nước cho trót lọt”. Xem thế lối sống Tham lam gây ra bất công, khi nạn bất công xã hội đi đến cùng cực mà không tìm cách giải quyết tận gốc rễ thì ngày tận thế không xa.

Ngày nay, các nước Tây phương một mặt đang liên kết với nhau để lập lại những sự mất quân bình trong cơ chế quốc gia, mặt khác cổ xuý  phong trào Dân chủ để làm giảm bớt sự bất công ở các nước độc tài. Phong trào này khởi đầu từ phong trào Giải Thực rồi Giải Cộng, nay đang dâng cao tại Trung Đông và Châu Phi, và cũng đã lan qua châu Á.

Mới đây lại có tình trạng Brexit, một số nước co cụm lại theo Dân tuý, mà phớt lờ Toàn cầu hóa,  chẳng qua là “ Trong nước không ấm, ngoài thế giới chẳng êm “, xét kỹ thì cái nguồn gây rối đó chính là “ Nhân Dục vô nhai “ : Cái  Dục ngược với Thiên lý. 

Tất cả chỉ còn là sự hàn gắn bề ngoài, mà vấn đề nằm ngay trong thâm cung của Lòng mỗi người. Vì không có Công bằng tuyệt đối ở trần gian này, nên chỉ có Lòng Bác ái, Lòng Nhân ái, Lòng Từ bi và Lý công  chính hay lẽ “ Phải Người phải Ta “ của mọi người mới mong giải quyết được một cách tương đối

Nhân loại đang mắc hai thứ bệnh: Bệnh Cá nhân và bệnh Xã hội.

Nguồn gốc của Bệnh Cá nhânlòng Tham nằm trong Lòng mỗi người, bệnh Xã hội nằm trong các Cơ chế quốc gia không hợp lý.

Bệnh Cá nhân là nguồn gốc của Bất Nhân và  Bất công phải ưu tiên sửa trước, còn các Cơ chế xã hội bất công phải sửa tiếp theo. 

Không sửa Lòng Tham gây ra bất công mà chỉ sửa các hiện tượng trong các Cơ chế xã hội thì không thể được. Lòng Tham gây ra bất công ở Bên Trong, nếu chữa bệnh Nội thương bằng những hiện tượng Bên Ngoài thì chắc không bao giờ lành bệnh. 

Tâm linh / Khoa học là nguồn gốc của sự sống Tính / Lý hài hòa,( cũng là Bác ái, /Công bằng, Bi /Trí hay Nhân/ Trí ) là thần dược Hòa mà con người không thể bỏ qua, mà phải dùng để chữa bệnh Bất công. Vấn đề chính là ai cũng có Nói mà chẳng ai lưu tâm Làm thật sự, một số người làm chưa đủ mà mọi người phải giúp nhau cùng Làm mới được!

Bệnh Xã hội là bệnh “ Dĩ Cường lăng Nhược: Cá Lớn nuốt cá Bé  “ dưới muôn vàn Hình thức với nhiều Nhân danh, chỉ khi nào cái Riêng của từng Quốc gia tìm được vị trí sống ổn định trong Bàn Cờ Chung của Thế giới thì khi đó Nhân loại mới mong được yên vui .

Nhìn chung, thì Tôn giáo đặt nặng về Tinh thần Bác ái để khuyến khích làm việc Từ thiện hay Bố thí chỉ riệng cho lớp người nghèo khó trong ngắn hạn ( Tiểu Ân )

 Còn Văn Hóa Việt cũng như Cộng đồng Vatican II lại đặt nặng về Vấn đề Công bình xã hội, vì có đem được Công lý vào các Cơ chế xã hội, mới mong lập được Hoà bình chung cho cả xã hội để mọi người có cơ hội sống Hòa với nhau trong dài hạn ( Đại Huệ )  nên khó khăn gấp bội, phải có những người giàu lòng Nhân ái, lòng Bác ái, lòng Từ bi với Kiến thức chu tri mới thực hiện nổi.

Qua trên chúng ta thấy:

Tư bản/ Cộng sản lưỡng nhất = Tự do / Bình sản

= Công hữu / Tư hữu lưỡng nhất

CHẾ ĐỘ NHÂN TRỊ

Để giải quyết nan đề của “ con Người Bất toàn” và “ Xã hội bất công “, cha ông chúng ta đã thiết lập chế độ Nhân trị gồm Lễ trị và Pháp Trị.      

Lễ trị để giúp mỗi cá nhân  có cơ hội và phương tiện phát triển toàn diện con người qua các Tổ chức Tự do Tôn giáo ( mang bản chất Hòa ), Tự do Văn Hóa ( Nhân bản ) , đây là hàng rào cản bên trong mỗi Cá nhân giúp họ tránh phạm pháp. Chính quyền dùng Thuế khóa để tạo ra cơ hội và  phương tiện giúp người dân phát triển Tư cách và khả năng qua kế hoạch   Dân sinh và Dân Trí.

 Pháp trị thuộc phạm vi xã hội, dùng luật pháp công minh ngăn cản những người không tự chế được mà phạm pháp, đây là hàng rào cản bên Ngoài  Xã hội.

Lễ trị   ( hàng rào cản bên trong Cá nhân ) / Pháp trị  ( hàng rào cản bên ngoài xã hội) cần được lưỡng nhất thì xã hội mới được  “trong ấm ngoài êm “..

Đây là con đường dài thật dài, và gánh nặng thật nặng, nếu cứ  từ nan bỏ qua thì  vẫn không thoát  được tình trạng gậy      Ông đập phải Lưng ông: !

Gậy ông là điều Ác ông dùng để hại người khác, thì  chính điều Ác đó quay lại đập vào lưng ông, Nho gọi là : “Ác hữu Ác báo “!

TÓM LẠI

1.- Bản chất của nền Văn Hóa

Nền Văn Hoá Việt Nam chỉ có 1 chữ HÒA, nói rộng hơn là 3  chữ : “CHÍ TRUNG HOÀ, ( 1 ) Hoà không phải là một thứ  ba phải hay khiếp nhược, mà con Ngưòi phi Vi Nhân  làm sao cho được phát tiển toàn diện, hầu được Hùng Dũng, Hùng là sức manh của Thể chất, Dũng là sức mạnh của Tinh thần, do đó mà có lời khuyên:

“ Huyết khí chi dũng bất khả hữu, Nghĩa khí chi dũng bất khảvô “ Cái dũng của Khí huyết tức là sức mạnh của Vật dục thì   không nên có, còn cái Dũng của Tinh thần để sống cho Công bằng thì không thể không.

Vì “ Theo Mới nới Cũ  “ một cách sai lạc, nên một số bị Lạc Hồn  “ Nhân Nghĩa Bao dung “  của Dân tộc  mà Dân tộc chúng ta bị rã đám như ngày nay.

Chúng ta biết Hòa là khắc tinh của Bất Hòa. Hoà là Bản chất của nền Văn Hóa Thái Hòa Việt, Hoà chính là nền tảng của Nội lực Dân tộc.

Còn Bất Hòa  là Bản chất của nền Văn Hoá Du mục Trung Hoa suốt 4716 năm kể từ Thuỷ Tổ Hiên Viên Hoàng đế của Tàu,bao giờ họ cũng rắp tâm thôn tính, tiêu diệt Dân tộc Việt Nam,do đó mà  Văn Hoá Nông nghiệp Việt Nam chính là khắc tinh của nền Văn Hóa Du mục bá đạo Tàu.

Thiết tưởng không có phương cách nào hữu hiệu hơn là chấn hưng nền Văn Hoá Thái Hòa  Việt đặng nâng cao Nội lực Dân tộc để Cứu nước và Dựng nước.

Khi Nội lực Dân tộc mà suy yếu thì dầu có Quốc kế  Dân sinh hay mấy cũng vô hiệu. Dân tộc chúng ta đang bị bệnh Nội thương Bất Hòa trầm trọng, không chấn hưng Văn Hoá Thái Hoà thì vô phương cứu chữa.

Chúng tôi xin gởi thêm cuốn “ Nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam “để tuỳ nghi.

( Xin xem trên trang vietnamvanhien.net.index )

Các nhà cầm quyền Trung Hoa là  mối Họa ngàn đời của Dân tộc Việt Nam, họ luôn tìm mọi cách tiêu diệt Văn Hóa Việt để tiêu diệt Nội lực Dân tộc hầu không cho chúng ta vươn lên vực dậy được.  

Xin  mọi đồng bào Việt Nam đừng bao giờ quên cái Tai Họa ngàn đời này

Đây là cuộc đấu tranh tận nơi Gốc Văn Hóa của hai Dân tộc, một mặt nhằm nâng cao Ưu điểm của Dân tộc ta đ chấn hưng Nội lực Dân tộc, đồng thời đánh vào Yếu điểm của nền Văn Hóa bá đạo của kẻ thù.  Những nan đ  Quốc nạn và  Quốc nhục nằm ngay ở  Gốc: Bản chất Văn Hóa, còn những rối loạn trong các Cơ chế Xã hội chỉ là  phần Ngọn thuộc Hiện tượng, vậy muốn chữa dứt bệnh thì phải chữa ngay ở  Gốc.        .

Điều cuối mà mỗi chúng ta cần lưu tâm về nguồn gốc và bản chất của Văn Hóa Dân tộc.   Văn Hoá của Dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Thái cực “Âm / Dương Hòa: Nhất Nguyên lưỡng Cực “, tức là những cặp Tiểu đối cực kết thành lưỡng nhất, cụ thể là :

Trên / Dưới ( Đối cực lưỡng nhất:dual unit ) =(1:Hòa )

Trong / Ngoài  = 1

Gần / Xa = 1

Nhỏ / To = 1

Dễ / Khó = 1

Tầm thường / Phi thường = 1

Tinh vi / Vĩ Đại = 1

Vũ / Trụ =1

Không gian / Thời gian = 1: Time – Space – Continuum

Quy Tâm / Ly Tâm = 1

Tâm / Vật = 1

Quy tư / Suy tư =  1. …

Ý thức / Tiềm thức =  1

EQ / IQ = Tình / Lý =1

Gốc / Ngọn = 1

            ( Tích phân )Integral  /  ( Vi phân ) Differential = 1

            Acid / Base = 1

            Ly tâm / Quy tâm = 1

            +∞ / -∞ = 1 . . . ( Hòa )

Đó là những Tiểu Thái cực kết nên nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Nam.

2.- Lý do khiến Dân Việt Nam xa  rời Đạo lý Dân tộc

Do nạn  “ Dĩ Cường lăng Nhược “ của Tàu tiếp đến sự độ hộ của Pháp khiến cho cuộc sống Dân tộc ta trở nên  vô cùng khó Khăn, hàng ngày chỉ lo cho được miếng ăn qua ngày và chống giặc xâm lược liên miên đã làm cho cả Dân tộc kiệt sức, nên cái Khó bó cái Khôn, vì sự sinh tồn đến nỗi những người thân cũng lấn át nhau, xâu xé nhau,  khiến cho Tình Nghĩa Đồng bào ngày càng bị sứt mẻ, tới nay vì ngượng ngùng quá chỉ gọi nhau được bằng Đồng hương mà thôi.

Bản  chất nền Văn Hoá Việt là “ Dĩ Hòa vi quý”, hòa theo Tiêu chuẩn Nhân Nghĩa Bao dung, nhưng đa số đã bỏ qua mà theo lối sống “ Mâu thuẩn thống nhất  “ của CS cứ tranh dành nhau để Hơn Thua ,hễ có người phát biểu không hợp với ý mình thì tìm cách viết lách, phát ngôn đả kích nhau để chứng tỏ mình đúng , mình giỏi, mình hơn , chứ  không biết tới cách giúp nhau  tìm ra lẽ phải ( Công bằng ) để sống hoà vui với nhau, và cứ theo thói quen mà gây ra xích mích này chồng lên xích mích khác, gây hờn chuốc oán với nhau  làm cho nhìn nhau không thấy hình ảnh Đồng bào đâu nữa,  kết cục hai bên đều thua, dành phần thắng cho CS. Vậy hai bên có còn khôn nữa khộng ?

Điều quan trọng khác, khi sống trong khó khăn, thực tế nào cũng phụ phàng, nên mơ tới lý tưởng cao xa , như thiên đưòng trần gian, sự cứu rỗi ở đời sau,mà quên  không  làm tốt cuộc sống “ Nơi đây và Bây giờ “ từ nền tảng thì làm sao có được đời  sau?!

Mặt khác, Văn hoá Cha ông chúng ta là nền Văn Hóa phổ cập cho mọi người dân, có nền tảng từ cái Thấp nhất, Đơn giản nhất, Tầm thường nhất,. . . nhưng mức độ cao thấp khác nhau mà ai ai cũng có thể tham gia để thăng hoa cuộc sống  theo bước tiệm tiến từ thấp lên cao.    Vấn đề quan trọng nhất của mọi người là  ở  cái Ăn, nơi Ở, là Nghề nghiệp, là  cuộc Sống Ái ân, để từ thực tế thiết thân đó, tìm cách trau dồi Nhân cách để Ăn ở thuận hoà với nhau hầu giúp cho sự Đoàn kết Dân tộc đưọc vững bền , khi đó thì mới có Nội lực để giúp Dân tộc thoát ra mọi cảnh khó khăn.

Qua hàng ngàn năm bị Tàu tiêu diệt cho hết thành phần tinh hoa, phá tan Thượng và Hạ tằng cơ sở, Tây đem theo Văn hóa cá nhân chủ nghĩa lãng mãn, ru Hồn  hồn trí thức lên ngọn cây, ( Là thi sĩ là ru với gió, mơ theo trăng mà vơ vẩn cùng mây. .  Xuân  Diệu )  xem thường Văn hoá  cha ông, do bị Lạc Hồn “ Nhân /Nghĩa Bao dung “ của Dân tộc, nghe nói đến Văn Hoá Dân tộc thì dè bỉu cho là quê mùa lạc hậu,  nên chạy theo Văn minh, hăm hở đi theo Duy Lý ( bỏ Tình )  gây cảnh phân hóa chia lý,  theo Duy Lý cực đoan như CS để rước Hận Thù của Mác Mao, Xít, H  về mà hãm hại nhau, Hơn Thua đủ với nhau để hại người, làm tan Nhà nát Nước,hầu thỏa mãn cái “ Lòng Tham không đáy “, CSVN nhân danh công bằng xã hội để cướp của giết người.

Ngày nay người ta bảo CS tham nhũng và đảng CS đang nhân danh  Diệt tham nhũng để tồn tại, thật ra đng CSVN đâu có tham nhũng mà chỉ nhân danh công lý mà giết người cướp của toàn dân theo 3 đợt :

Đợt thứ nhất là cướp của Chìm của Nổi  của Địa chủ.

Đợt thứ hai là cướp của  Công Nông theo cái gọi là  “Quy hoạch mặt bằng “.

 Đợt thứ ba là những thành phần  đầu não của CSVN đang cướp  “ của ăn Cướp “ của nhau .

“Một lần tha, ba lần chém: CSVN đã hết thời!

Tình trạng này Cha ông chúng ta đã cảnh báo từ lâu: “ Khi cùng chung nhiệm vụ, hè nhau cùng đi ăn cướp  thì rất thương nhau, nhưng khi cùng chung quyền  lợi ăn cướp thì lại giết nhau” !

 Vậy Quốc nạn và Quốc nhục từ đâu mà ra , lỗi đó tại ai?

Thưa tại kẻ thù truyền kiếp mà cũng tại chúng ta đang ngũ mê  trong giấc Mê vong Nhân, vong Thân và vong Quốc.

Vì vậy muốn sống  ( Vi Nhân ) hợp với Dịch lý thì nên quan tâm đến Cơ cấu của Văn Hóa .

Trong cuộc sốngnày muốn tìm cái kia ( Ngọn: nơi Xa) thì có thể  tìm nơi cái này (Gốc: chốnGần ),  hãy đi theo lối Ăn chắc mặc bền, chậm mà chắc, chứ cứ theo lối ăn xổi ở thì không bao giờ  thoát nạn.   Xin tha lỗi cho những lời khó nghe !

Tác giả Việt Nhân gửi cho Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

THAM KHẢO

( 1 ) . “ Trung giả Thiên hạ chi đại bản, Hoà giả Thiên hạ chi đạt Đạo,  Thiên Địa vị yên , Vạn vt dục yên, chí Trung Hòa “. T. D.

Concept of Archtypes at Carl Jung The archetypes concept has been approached by Jung in his entire work after he left Sigmund Freud. But in his book on the confrontation between the ego and the unconscious*, when he describes the process of assimilation of the unconscious, he writes about archetypes such as: Persona, Shadow, Anima / Animus and the Self. But what is the archetype according to Jung? An innate tendency which molds and transform the individual ego/consciousness. It is rather a natural tendency to shape things than a collection of inherited contents such as images, ideas, concepts; it is a matrix which influences human thinking and believes on the ethical, moral, religious and cultural levels. Jung talks about the archetype (also called “primordial image”) as of the biologists’ patterns of behavior (inborn behavior patterns). In short, archetypes are inborn tendencies which shape the human behavior. “The archetype concept – Jung writes – derives from the often repeated observation that myths and universal literature stories contain well defined themes which appear every time and everywhere. We often meet these themes in the fantasies, dreams, delirious ideas and illusions of persons living nowadays”. These themes are representatives of archetypes; they are based on archetypes. They impress, influence and fascinate us (our ego). This is why we call their tremendous effect numinous – that is, able to arise deep and intense emotions. Archetypes do not have a well defined shape “but from the moment they become conscious, namely nurtured with the stuff of conscious experience.” Basically an archetype is empty, purely formal, nothing else but a pre-shaping possibility or an innate tendency of shaping things. We can say that archetypes resemble the instincts in that that they cannot be recognized as such until they manifest in intention or action. Archetypes are both negative and positive, that is they have two sides. One may figure out the archetype dualism by comparison with the symbolism of the well-known yin-yang principle. Though Yin and Yang are parts of the same unity – the T’ai chi – they have separate and opposite meanings: decline and progress, below and high, night and day and so forth. Finally, the archetype is psychoid (psychic-like); it shares both psychic and material aspects and acts as well on a psychic and/or material plane. (See also the synchronicity principle). Read about: Persona – Animus – Anima Shadow – Self – Wise Old Man (coming soon) Read also: About the Collective Unconscious

Steps in the individuation process – paper about archetypes as they occur in the individuation process (see also individuation). Further resources: * The book is included in Two Essays in Analytical Psychology. You may order it from Amazon.com: https://amzn.to/31A1vKo. Archetypes and the Collective Unconscious provides valuable information about the archetype concept. You may order this book from Amazon.com: https://amzn.to/2BjT9t9. Archetypes in Dreams: We illustrate the occurrence of archetypes in dreams and explain their meaning in our Jung and Dreams email course. Click here to learn more.